MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT Ở VIỆT NAM . 9
1.1. Một số khái niệm cơ bản............................................................................9
1.2. Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt ở nước ta hiện
nay...................................................................................................................14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP TỈNH CỦA TỈNH
QUẢNG NAM............................................................................................... 26
2.1. Khái quát đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội và thực trạng đội ngũ cán bộ,
công chức của tỉnh Quảng Nam......................................................................26
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
tỉnh của tỉnh Quảng Nam................................................................................ 29
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHỦ CHỐT CẤP TỈNH CỦA TỈNH QUẢNG NAM THỜI GIAN
ĐẾN................................................................................................................ 56
3.1. Dự báo tình hình.......................................................................................56
3.2. Quan điểm, định hướng nâng cao chất lượng thực hiện chính sách phát
triển đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh của tỉnh Quảng Nam thời gian đến
59
3.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách phát triển đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp tỉnh của tỉnh Quảng Nam thời gian đến..........................60
3.4. Một số đề xuất, kiến nghị.........................................................................68
KẾT LUẬN.................................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
5
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
Tên bảng
bảng
2.1
Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh
của tỉnh Quảng Nam
Trang
28
Kết quả đánh giá, phân loại cán bộ hằng năm đối với cấp
2.2a
trưởng, cấp phó và tương đương các cơ quan, đơn vị trực
37
45
2.5
Kết quả luân chuyển cán bộ chủ chốt hằng năm
47
2.6
Kết quả đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt hằng năm
49
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là khâu then chốt trong quá trình
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin
từng chỉ rõ: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền
thống trị, nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những người lãnh
tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo
phong trào” [37, t.4, tr.473]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là
cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán
bộ tốt hay kém” [35, t.5, tr.273]. Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định cán
bộ là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn
liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ. Trong đội ngũ cán bộ, công chức;
đội ngũ cán bộ chủ chốt là cái gốc, là lực lượng chủ chốt, nhân tố quan trọng
quyết định sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực, một địa phương và của
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ
tỉnh Quảng Nam khóa XXI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đề ra nhiệm vụ: Xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức từ tỉnh đến cơ sở đủ số lượng, đảm bảo chất lượng,
có cơ cấu hợp lý, vững vàng về chính trị, tư tưởng, có phẩm chất đạo đức, lối
sống trong sạch, lành mạnh, có năng lực và trình độ, thực sự có tâm và có tầm
để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Làm tốt công tác đánh giá,
quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và luân chuyển cán bộ bảo đảm
nguyên tắc thật sự dân chủ và công khai, minh bạch trong việc thực hiện các
khâu của công tác cán bộ [28, tr.111].
Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách cán bộ, công tác cán bộ và
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh Quảng Nam thờ gian qua có
những chuyển biến tích cực và đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần thành
công trong việc phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và
xây dựng hệ thống chính trị của tỉnh. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển
chung của đất nước, chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh,
nhất là cán bộ chủ chốt vẫn còn một số hạn chế, bất cập, như: một số nội dung
chính sách cán bộ đã được nêu trong Chiến lược công tác cán bộ, trong các
nghị quyết, kết luận của Trung ương nhưng chậm được cụ thể hóa để thực
hiện, hoặc khi thực hiện thiếu đồng bộ, chồng chéo, hiệu quả thấp; một số
khâu trong công tác cán bộ chậm được sửa đổi, bổ sung, nhất là khâu nhận
xét, đánh giá cán bộ ở một số trường hợp chưa đúng thực chất, còn tình trạng
nể nang, thiếu khách quan; công tác quy hoạch cán bộ còn khép kín, thiếu tính
liên thông, tỷ lệ quy hoạch cán bộ nữ, cán bộ trẻ chưa đạt yêu cầu; công tác
đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với chức danh quy hoạch, vị trí việc làm; công
tác đề bạt, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng cán bộ còn sơ hở ở các bước về quy
trình, thủ tục, có trường hợp chưa đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện theo quy
định, chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương; thiếu
những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để triển khai thực hiện, giải quyết những
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007. Tác giả đã nêu lên những quan
điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý; đánh giá thực trạng, đồng thời đề ra những giải pháp
chủ yếu để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu sự
nghiệp CNH, HĐH;
- Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (Đồng chủ biên), Cơ sở lý luận và
thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2005. Tác giả đã phân tích, đánh giá những yêu cầu cơ bản của
việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; trong việc xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức và những bài học kinh nghiệm của ông cha ta
trong lịch sử và của một số nước trên thế giới về xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức;
- Nguyễn Thế Trung, Đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược trong
tình hình mới, Tạp chí Cộng sản, số 906 (4-2018). Tác giả đã nêu lên thực
trạng việc đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược thời gian qua; đề
xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác
đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược;
- Bùi Phương Đình, Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho cán bộ
cấp chiến lược, Tạp chí Cộng sản, chuyên đề cơ sở, số 136 (4-2018);
- Cao Văn Thống, Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ
trong giai đoạn cách mạng mới, Tạp chí Cộng sản, chuyên đề cơ sở, số 135
(3-2018).
Nhìn chung, từ những cách tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên
cứu đã tập trung luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về cán bộ và công
tác cán bộ; về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, đội ngũ CBCC
nói riêng. Nhiều công trình đã có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn về xây
dựng đội ngũ CBCC, những công trình này là nguồn tư liệu quý giá, giúp học
viên tiếp cận tham khảo, làm cơ sở định hướng cho đề tài của mình.
Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ CBCC cấp tỉnh của tỉnh Quảng
Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tỉnh Quảng Nam.
- Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2018.
- Giới hạn nghiên cứu của luận văn: Chính sách phát triển đội ngũ CBCC của
Đảng và Nhà nước ta có nhiều nội dung. Tuy nhiên, do giới hạn, đề tài chỉ
tập trung nghiên cứu một số nội dung chính, đó là: (1) chính sách đánh giá
cán bộ; (2) chính sách quy hoạch cán bộ; (3) chính sách đào tạo, bồi dưỡng,
luân chuyển cán bộ; (4) chính sách đề bạt, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng cán bộ.
- Phạm vi đối tượng của chính sách: Đội ngũ CBCC cấp tỉnh của tỉnh Quảng
Nam (cấp trưởng, cấp phó và tương đương các sở, ban, ngành, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam (MTTQVN), đoàn thể chính trị - xã hội trực thuộc tỉnh; trưởng
phòng, phó trưởng phòng và tương đương thuộc các sở, ban, ngành,
MTTQVN, đoàn thể chính trị - xã hội của tỉnh Quảng Nam).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử, trên nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về chính sách cán bộ. Đồng thời, luận
văn kế thừa, tiếp biến các công trình nghiên cứu, các kết luận khoa học đã
được công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn và vận dụng
phương pháp nghiên cứu chính sách công.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin, thống kê số liệu;
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá;
- Phương pháp bảng câu hỏi phỏng vấn sâu các chuyên gia, người đứng đầu
1.1.1. Khái niệm chính sách công
Theo Vũ Cao Đàm, “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế
hóa mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự
ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của
họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó
trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [24, tr.11]
Cho đến nay, trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính
sách công. Các nghiên cứu khoa học ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu
về chính sách công. Trong cuốn sách “Chính sách kinh tế - xã hội”, các tác
giả đồng nhất chính sách công với chính sách kinh tế - xã hội và đưa ra định
nghĩa: “Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các
giải pháp và công cụ Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và
khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục
tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội” [30, tr.11].
Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: “Chính sách công là chiến
lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu bớt những vấn đề của quốc gia hay
những mối quan tâm của Nhà nước. Chính sách công cho phép Chính phủ
đảm nhiệm vai trò của người cha đối với cuộc sống của nhân dân. Nó tạo thời
cơ, giữ gìn hạnh phúc và an toàn cho mọi người; tạo ra an toàn tài chính và
bảo vệ an toàn Tổ quốc” [33, tr.99-100].
Các nhà khoa học của Viện Chính trị học, Học viện Chính trị-Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Chính sách công là chương trình
hành động của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể” [49, tr.114].
Mặc dù các quan niệm trên còn có những điểm khác nhau, nhưng tất cả
các ý kiến đều xem xét, nghiên cứu chính sách công với tư cách là sản phẩm
có mục đích của nhà nước, chính quyền nhằm tác động đến đời sống của nhân
dân.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu thuật ngữ chính sách công như sau:
nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ
chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển
dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp
xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”
1.1.2.2. Khái niệm cán bộ chủ chốt
Theo Vũ Văn Hiền, trong hệ thống chính trị, người đứng đầu của mỗi tổ
chức, ở mỗi cấp, mỗi ngành có chức năng giải quyết các mối quan hệ giữa các
giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong cộng đồng xã hội, trong đó quan trọng
nhất là mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội của
quần chúng, là hạt nhân trong tập thể lãnh đạo gọi là cán bộ chủ chốt [33,
tr.13].
Từ cách tiếp cận trên và từ khái niệm cán bộ, có thể hiểu: Cán bộ chủ
chốt là người có chức vụ, quyền hạn, giữ vị trí quan trọng nhất ở một cấp,
một ngành, một cơ quan, đơn vị; có trách nhiệm chính khi quyết định những
vấn đề quan trọng có ảnh hưởng đến các mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội,… được quyền xử lý, giải quyết những công việc thuộc chức trách, nhiệm
vụ được giao, đảm bảo đúng quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước.
1.1.2.3. Khái niệm cán bộ chủ chốt cấp tỉnh
Cán bộ chủ chốt cấp tỉnh là người có chức vụ, quyền hạn, có trách nhiệm
quản lý điều hành và quyết định những vấn đề trong phạm vi chức trách, trách
nhiệm của địa phương, cơ quan, đơn vị theo phân cấp quản lý cán bộ.
1.1.3. Khái niệm về thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ
chủ chốt
Từ những khái niệm về chính sách công, thực thi chính sách công, về
phát triển, về cán bộ, về CBCC, có thể hiểu thực hiện chính sách phát triển
đội ngũ CBCC như sau: Chính sách phát triển đội ngũ CBCC là tập hợp các
quyết định chính trị có liên quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong hệ
Đội ngũ CBCC là lực lượng tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong hoạch
định chiến lược, kế hoạch, chủ trương, chính sách, bước đi, giải pháp thực
hiện CNH, HĐH ở nước ta. Đồng thời, đây là lực lượng lãnh đạo, chỉ đạo tổ
chức thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Từ mục đích, đặc điểm của nền kinh tế thị trường, Đảng ta khẳng định
trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đội ngũ CBCC lại càng có vai trò quan
trọng để xây dựng thể chế, cơ chế và tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường và
nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Đây là đội ngũ tham mưu, đề xuất
với Đảng và Nhà nước về dự báo chiến lược, các chương trình, kế hoạch phát
triển kinh tế, xã hội của đất nước,...
Vai trò của đội ngũ CBCC còn thể hiện trong việc tham mưu, đề xuất
các chủ trương, chính sách, pháp luật để thực hiện xã hội hóa các hoạt động
sự nghiệp, dịch vụ công, những vấn đề an sinh xã hội; đồng thời giúp cho
Đảng, Nhà nước tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, tạo điều kiện để các
hoạt động xã hội hóa sự nghiệp, dịch vụ công phát triển theo đúng mục tiêu,
định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.2. Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt ở nước ta hiện
nay
1.2.1. Các bước triển khai thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ chủ
chốt
1.2.1.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện
Để chính sách mang tính khả thi cao, đạt hiệu quả, các cơ quan triển khai
thực thi chính sách đều phải xây dựng chương trình, kế hoạch để tổ chức thực
hiện. Việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách phát triển đội ngũ CBCC ở
cấp nào, do cơ quan cấp đó chủ trì xây dựng và tổ chức thực hiện. Kế hoạch
thực hiện chính sách gồm các nội dung cơ bản sau:
- Kế hoạch về tổ chức, điều hành;
ràng từng nhiệm vụ và gắn trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể có liên quan,
đảm bảo phối hợp thực hiện đồng bộ, thông suốt, tránh chồng chéo nhiệm vụ.
Hoạt động phân công, phối hợp thực hiện chính sách cần được thực hiện
theo tiến trình, có kế hoạch một cách chủ động, sáng tạo để chính sách duy trì
ổn định và phát huy hiệu quả.
1.2.1.4. Duy trì chính sách
Duy trì chính sách là hoạt động có ý nghĩa quan trọng, nhằm duy trì
chính sách tồn tại và phát huy hiệu quả trong quá trình thực hiện chính sách.
Muốn vậy, phải có sự đồng tâm, hợp tác của người tổ chức, người thực nhiện
và môi trường tồn tại. Quá trình thực thi chính sách, nếu gặp phải khó khăn,
vướng mắc, các cơ quan chủ trì phải làm tốt công tác vận động, tuyên truyền
đối tượng tham gia chính sách nhận thức đúng đắn và tích cực tham gia. Để
duy trì, phát huy tác dụng của chính sách phát triển đội ngũ CBCC khi gặp
khó khăn, biến động, các cơ quan nhà nước phải kịp thời chủ động điều chỉnh
chính sách cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới.
1.2.1.5. Điều chỉnh chính sách
Quá trình tổ chức thực thi chính sách thường có sự thay đổi do các yếu tố
khách quan. Do vậy, các cơ quan cần phải có sự linh hoạt điều chỉnh, bổ sung
chính sách bằng các cơ chế, biện pháp để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của
từng giai đoạn và tình hình thực tế của địa phương, cơ quan. Việc điều chỉnh
chính sách là do cơ quan ban hành chính sách thực hiện; để chính sách tiếp
tục duy trì ổn định, chỉ được điều chỉnh các cơ chế, biện pháp thực hiện mục
tiêu của chính sách hoặc bổ sung mục tiêu để đáp ứng với yêu cầu của tình
hình thực tế. Tuy nhiên, khi điều chỉnh chính sách không được làm thay đổi
mục tiêu của chính sách đã đề ra.
1.2.1.6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách, không phải chủ thể nào
khi được phân công đều thực hiện tốt nhiệm vụ, tùy theo môi trường, điều
ít tạo ra những biến đổi bất thường, do đó không gây được sự chú ý của các
nhà quản lý. Nhưng tác động của chúng đến quá trình thực thi chính sách
công lại rất lớn, vì cơ chế tác động giữa chúng với các vấn đề chính sách được
hình thành trên cơ sở của quy luật. Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến
việc thực hiện chính sách phát triển đội ngũ CBCC ở nước ta đó là:
- Yếu tố chế độ chính trị
Mỗi một chính sách công khi được ban hành và tổ chức thực hiện đều
chịu ảnh hưởng về chế độ chính trị của giai cấp cầm quyền. Điều 4, Hiến
pháp năm 2013 của nước ta quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên
phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước
và xã hội [40].
Khoản 2, Điều 41, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XII) quy
định: Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi
đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức
trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ [25].
Do vậy, chính sách phát triển đội ngũ CBCC chịu định hướng, tác động
từ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước về cán bộ và công tác cán bộ.
- Yếu tố kinh tế
Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH, hội
nhập kinh tế quốc tế, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa; trong đó, đội ngũ cán bộ có vai trò rất quan trọng trong việc thực
hiện các mục tiêu, định hướng của Đảng, Nhà nước ta. Do vậy, thực hiện
chính sách phát triển đội ngũ CBCC phải phù hợp với từng giai đoạn và quá
trình phát triển kinh tế-xã hội của nước ta.
triển đội ngũ CBCC. Để quản lý các hoạt động trong điều kiện phát triển hiện
nay, Nhà nước luôn phải tăng cường các nguồn lực tài chính và nguồn lực cán
bộ. Việc đầu tư trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện hiện đại để hỗ trợ các
quá trình quản lý của Nhà nước hiện đã trở thành một nguyên lý phát triển.
Nếu điều kiện tài chính đáp ứng được yêu cầu sẽ góp phần cho tính khả thi
của công tác tổ chức thực thi chính sách luôn được tăng cường.
- Sự đồng tình, ủng hộ của cán bộ, công chức
Sự đồng tình của cán bộ, công chức là nhân tố có vai trò đặc biệt quan
trọng, quyết định sự thành bại của chính sách phát triển đội ngũ CBCC. Bởi
việc thực hiện mục tiêu chính sách phát triển đội ngũ CBCC không thể chỉ có
các cơ quan có thẩm quyền quyết định, mà phải có sự tham gia, phối hợp của
tất cả cán bộ, công chức.
1.2.3. Nội dung chính sách phát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà
nước ta
Chính sách phát triển đội ngũ CBCC bao gồm nhiều nội dung: Đánh giá
cán bộ; quy hoạch cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ; tuyển
chọn, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ; khen thưởng, kỷ luật cán bộ; chế độ,
chính sách cán bộ,…
Tuy nhiên, do giới hạn, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu một số nội
dung: Đánh giá cán bộ; quy hoạch cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, luân
chuyển cán bộ; đề bạt, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng cán bộ.
1.2.3.1. Đánh giá cán bộ
Đánh giá cán bộ phải dựa vào các căn cứ sau: Quyết định số 286QĐ/TW, ngày 08/02/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về việc ban hành quy
chế đánh giá cán bộ, công chức; Quy định số 89-QĐ/TW, ngày 04/8/2017 của
Bộ Chính trị (khóa XII) về quy định khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng
khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý; Quy định số 262-QĐ/TW,
ngày 08/10/2014 của Bộ Chính trị (khóa XI) về lấy phiếu tín nhiệm; Nghị
quyết số 85/2014/QH13, ngày 28/11/2014 của Quốc hội khóa XIII về việc lấy
vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý
tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ
năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
được giao.
- Gương mẫu về đạo đức, lối sống. Có tác phong dân chủ khoa học, có khả
năng tập hợp quần chúng, đoàn kết cán bộ. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng; có
ý thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân
dân, được nhân dân tín nhiệm.
- Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia
xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật; thuyết phục và tổ chức nhân dân
thực hiện. Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Có kiến thức về khoa học lãnh
đạo và quản lý.
1.2.3.2. Quy hoạch cán bộ
Quy hoạch cán bộ thực hiện theo các quy định: Nghị quyết số 42NQ/TW, ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác quy hoạch
cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Kết luận số
24-KL/TW, ngày 05/6/2012 của Bộ Chính trị (khóa XI) về đẩy mạnh công tác
quy hoạch, luân chuyển cán bộ đến năm 2020 và những năm tiếp theo; Hướng
dẫn số 15-HD/BTCTW, ngày 05/12/2012 của Ban Tổ chức Trung ương về
công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 42NQ/TW, ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) và Kết luận số 24KL/TW, ngày 05/6/2012 của Bộ Chính trị (khóa XI); Hướng dẫn số 06HD/BTCTW, ngày 24/02/2017 của Ban Tổ chức Trung ương về hướng dẫn,
bổ sung một số nội dung về công tác quy hoạch lãnh đạo các cấp.
Mục đích, yêu cầu quy hoạch cán bộ chủ chốt
Quy hoạch đội ngũ CBCC là công tác phát hiện sớm nguồn cán bộ trẻ có
đức, có tài, có triển vọng về khả năng lãnh đạo, quản lý, đưa vào quy hoạch
để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn các chức danh CBCC, đáp ứng