(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách phát triển giảng viên từ thực tiễn các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ HẠ LONG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIẢNG VIÊN
TỪ THỰC TIỄN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ HẠ LONG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIẢNG VIÊN
TỪ THỰC TIỄN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LƯU TRANG

HÀ NỘI, năm 2019

Nam ...........................................................................................................................39
2.3. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển giảng viên từ thực tiễn các trường
cao đẳng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam .....................................................................48
2.4. Đánh giá chung về thực trạng và nguyên nhân thực trạng thực hiện chính sách
phát triển giảng viên ở các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam..............61
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN GIẢNG VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH QUẢNG NAM .....................................................................................67
3.1. Quan điểm và định hướng hoàn thiện chính sách phát triển giảng viên ở các
trường cao đẳng .........................................................................................................67
3.2. Nguyên tắc hoàn thiện chính sách phát triển giảng viên ...................................69
3.3. Các giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển giảng viên ở các trường cao
đẳng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ...........................................................................70
KẾT LUẬN ..............................................................................................................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CHỮ VIẾT TẮT

1.

Cán bộ quản lý

CBQL


7.

Lao động – Thương Binh và Xã hội

LĐ-TB&XH

8.

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

NN&PTNT

9.

Nghiên cứu khoa học

NCKH

10.

Nguồn nhân lực

NNL

11.

Nhà xuất bản

Nxb

Bảng 2.10: Khảo sát về công tác đào tạo, bồi dưỡng. .......................... 57
Bảng 2.11: Tổng hợp các công trình khoa học được công bố của GV
các trường CĐ trên địa bàn TQN những năm gần đây. .................................. 61
* Danh mục biểu đồ:
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ biểu thị mức đánh giá về công tác quy hoạch GV.
......................................................................................................................... 50
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ biểu thị đánh giá về các nội dung của công tác
tuyển dụng GV. ............................................................................................... 52
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ đánh giá các nội dung về công tác sử dụng GV. 55
Biểu đồ 2.4: Biểu đồ đánh giá về các nội dung liên quan đến các chính
sách đãi ngộ, tôn vinh GV. .............................................................................. 58


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của giáo dục đối
với sự tồn tại và phát triển nước nhà. Người nhấn mạnh: “Không có giáo dục, không
có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hoá” [33], tr.345]. Để thực hiện
được điều đó, Người đặc biệt coi trọng đến đội ngũ giáo viên, bởi Người cho rằng:
“nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục” [33], tr.345]. Quán triệt sâu sắc
quan điểm trên, trong mọi giai đoạn lịch sử cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm,
chăm lo đến phát triển đội ngũ giáo viên; coi đó vừa là yêu cầu, nhiệm vụ, nhưng
đồng thời cũng là vấn đề cốt lõi để phát triển nền giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu
thiết thực của thực tiễn cách mạng.
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa, đất nước đã và
đang bước vào thời kỳ hội nhập sâu, rộng với các nước trong khu vực và trên thế
giới. Điều này đặt ra yêu cầu đòi hỏi nền giáo dục nước ta nói chung, các cơ sở
GDNN nói riêng cần đẩy nhanh tiến trình đổi mới, không ngừng nâng cao chất
lượng, hiệu quả đào tạo NNL để góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, cũng như nhanh chóng rút ngắn về khoảng cách, trình độ phát triển so

cao chất lượng GV. “Các chế độ chính sách đối với nhà giáo, đặc biệt là chính sách
lương và phụ cấp theo lương chưa thỏa đáng, chưa thu hút được người giỏi…, chưa
tạo được động lực phấn đấu vươn lên trong hoạt động nghề nghiệp” [15]… Chính vì
vậy, nhìn chung cho đến nay GV ở các nhà trường vẫn còn “bất cập về chất lượng,
số lượng và cơ cấu” [10]. Có thời điểm GV còn có hiện tượng “vừa thừa, vừa thiếu
cục bộ, vừa không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn… Tỷ lệ nhà giáo có trình độ sau
đại học còn thấp” [15]. “Một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển
giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp” [10].
Tất cả những vấn đề trên vừa là thực trạng, nhưng đồng thời cũng là nguyên
nhân cơ bản làm cho chất lượng sản phẩm đào tạo là một bộ phận nguồn nhân lực ở
TQN và các tỉnh, thành khu vực miền Trung – Tây Nguyên có trình độ tay nghề
chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội…
Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên, thời gian qua, các trường CĐ trên
địa bàn Quảng Nam đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm phát triển đội ngũ GV. Tuy

2


nhiên, trước yêu cầu đòi hỏi cao về số lượng, chất lượng của NNL trên địa bàn TQN
và khu vực miền Trung – Tây Nguyên đã và đang đặt ra những yêu cầu mới trong
thực hiện chính sách phát triển GV ở các trường CĐ, nhưng chưa có công trình
khoa học nào nghiên cứu đảm bảo có tính hệ thống, khoa học, chuyên sâu cả lý luận
và thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển GV. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn
đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển giảng viên từ thực tiễn các trường cao
đẳng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ Chính sách công với
mong muốn đóng góp các kiến nghị, đề xuất của mình nhằm hoàn thiện chính sách
phát triển GV trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nguyễn Phú Trọng (2000) đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KHXH:
"Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng

nhằm phát triển GV các trường đại học vùng Đồng bằng Sông Cửu long đáp ứng
với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Luận án tiến sĩ của Vũ Đức Lễ (2017), "Chính sách phát triển đội ngũ GV
các trường đại học công lập ở Việt Nam”,[31] nghiên cứu lý luận và thực tiễn về
chính sách phát triển đội ngũ GV đại học công lập (quy hoạch, thu hút, tuyển dụng,
sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ, tôn vinh) ở Việt Nam; xác định các
bất hợp lý và "lỗ hổng, khoảng trống" của chính sách. Các yếu tố ảnh hưởng trên cơ
sở các vấn đề đặt ra cần giải quyết của các chính sách hiện hành; Qua đó đề xuất
mục tiêu, quan điểm, phương hướng và các giải pháp hoàn thiện chính sách phát
triển đội ngũ GV đại học công lập ở Việt Nam.
Những công trình này, mặc dù nghiên cứu, tiếp cận dưới góc độ khác nhau,
nhìn chung đều khẳng định được vị trí, vai trò của chính sách phát triển GV; coi đó
là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo NNL ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên
chưa có nghiên cứu nào về thực hiện chính sách phát triển GV từ thực tiễn các
trường CĐ trên địa bàn TQN. Chính vì vậy nghiên cứu việc thực hiện chính sách
phát triển GV từ thực tiễn các trường CĐ trên địa bàn TQN và đề xuất các giải pháp
hoàn thiện chính sách là cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của việc thực hiện
chính sách phát triển GV nói chung, ở các trường cao đẳng trên địa bàn TQN nói

4


riêng, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phát triển GV ở các
trường cao đẳng trên địa bàn TQN góp phần nâng cao chất lượng dạy – học, đáp
ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lý luận về chính sách phát triển GV ở các trường CĐ.

thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, luật, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng,
Nhà nước, Bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các
văn bản quy phạm pháp luật liên quan, tham khảo một số báo viết, tạp chí qua
internet và một số tài liệu tham khảo khác nhằm đi sâu xem xét, đánh giá các vấn đề
tạo cơ sở cho các nhận định khoa học, rút ra những kết luận tổng quan, những quan
điểm, đề xuất và kiến nghị.
* Phương pháp điều tra xã hội học: Xây dựng bộ phiếu khảo sát gồm 16 câu
hỏi liên quan đến chính sách phát triển GV. Đối tượng khảo sát là CBQL, GV và
GVKNQL với số lượng 273 người ở 05 trường CĐ trên địa bàn TQN là: Trường
CĐ Y tế Quảng Nam, Trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Quảng Nam, Trường CĐ
Công nghệ Quảng Nam, Trường CĐ Điện lực Miền Trung và Trường CĐ Công
nghệ – Kinh tế và Thủy lợi Miền Trung.
* Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý các số
liệu khảo sát. Cụ thể là xử lý các số liệu được sử dụng ở chương 2 của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Các kết luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung hoàn thiện
những vấn đề lý luận về chính sách công nói chung, cũng như chính sách phát triển
GV ở các trường CĐ nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn giúp cho các trường CĐ trên địa bàn TQN đánh giá chính xác,
khách quan thực trạng thực hiện chính sách phát triển GV. Đồng thời, đề xuất, kiến
nghị của luận văn góp phần cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác
nghiên cứu chính sách phát triển GV ở các trường CĐ trên địa bàn TQN nói riêng
và các trường CĐ trên toàn quốc nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, bảng chú thích chữ viết tắt, danh mục các bảng, biểu, phần
mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội dung chính của luận


sở chính, phân hiệu. [3]
1.1.2. Các loại hình trường cao đẳng ở Việt Nam
Theo quy định tại Điều 5, Điều lệ Trường CĐ của Bộ LĐ-TB&XH thì
trường CĐ được tổ chức theo hai loại hình là trường CĐ công lập và trường CĐ tư
thục. [3]
1.1.2.1. Trường cao đẳng công lập
Trường CĐ công lập là cơ sở GDNN thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước
đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất. [38]
Cơ quan chủ quản trường CĐ công lập là cơ quan, tổ chức được giao quản lý
trường CĐ theo quy định của pháp luật, bao gồm: Trường CĐ trực thuộc bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị
- xã hội; Trường CĐ trực thuộc đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội; Trường CĐ trực

8


thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.[3]
* Cơ cấu tổ chức trường cao đẳng công lập
- Hội đồng trường
- Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng;
- Các phòng hoặc bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ;
- Các khoa, bộ môn;
- Các hội đồng tư vấn;
- Phân hiệu; tổ chức NCKH và công nghệ; tổ chức phục vụ đào tạo, NCKH
và triển khai ứng dụng; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (nếu có). [38]
1.1.2.2. Trường cao đẳng tư thục
Trường CĐ tư thục là cơ sở GDNN thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do các tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây

dục đại học, trường CĐ nghề gọi là GV" [36]. Điều 53 của Luật GDNN năm 2014
quy định “Nhà giáo trong trung tâm GDNN, trường trung cấp được gọi là giáo viên;
nhà giáo trong trường CĐ được gọi là GV” [38].
Từ những quan niệm trên đây, có thể hiểu GV ở các trường CĐ như sau:
GV ở các trường CĐ là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục, đào tạo
học sinh - sinh viên thành những người lao động có trình độ CĐ, trung cấp hoặc sơ
cấp nghề, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch
vụ.
*Tiêu chuẩn của giảng viên
GV các trường CĐ phải có các phẩm chất, năng lực theo quy định về chuẩn
nhà giáo trong cơ sở hoạt động GDNN, cụ thể như sau:
- Có phẩm chất, đạo đức tốt;
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ;
- Có đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
- Có lý lịch rõ ràng. [38]
GV các trường CĐ phải có những tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
giảng dạy ở các trường CĐ. GV các trường CĐ là “Nhà giáo dạy lý thuyết chuyên
môn trình độ CĐ phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; nhà giáo dạy thực hành
trình độ CĐ phải có chứng chỉ kỹ năng nghề để dạy thực hành trình độ CĐ”. “Nhà
giáo không có bằng tốt nghiệp CĐ sư phạm, CĐ sư phạm kỹ thuật hoặc bằng tốt

10


nghiệp đại học sư phạm, đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ nghiệp vụ
sư phạm”. [3]
1.1.4. Chức năng, nhiệm vụ và quyền của giảng viên ở các trường cao
đẳng
GV các trường CĐ phải thực hiện đầy đủ chức năng của mình. Hiện nay,
nhiều quốc gia trên thế giới đều xác định 3 chức năng chính của người GV bao

nhiệm vụ và quyền của GV. Theo đó, GV các trường CĐ có nhiệm vụ và các quyền
sau:
“- Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ, có
chất lượng chương trình đào tạo.
- Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và
phương pháp giảng dạy.
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và
điều lệ, quy chế tổ chức, hoạt động của cơ sở hoạt động GDNN.
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của
người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng
của người học.
- Tham gia quản lý và giám sát cơ sở hoạt động GDNN; tham gia công tác
Đảng, đoàn thể và các công tác xã hội khác.
- Được sử dụng các tài liệu, phương tiện, đồ dùng dạy học, thiết bị và cơ sở
vật chất của cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp để thực hiện nhiệm vụ được
giao.
- Được ký hợp đồng thỉnh giảng với các cơ sở GDNN khác theo quy định
của pháp luật.
- Được tham gia đóng góp ý kiến về chủ trương, kế hoạch của cơ sở hoạt
động GDNN về chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy và các vấn đề có
liên quan đến quyền lợi của nhà giáo.
- Nhà giáo phải dành thời gian và được cơ sở hoạt động GDNN bố trí thời
gian thực tập tại doanh nghiệp để cập nhật, nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận
công nghệ mới theo quy định.
- Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật”. [38]
Đồng thời theo Điều 35 về “Nhiệm vụ và quyền hạn của GV” trong Điều lệ

12



13


CĐ nếu tham gia giảng dạy thì được hưởng các chế độ đối với GV theo quy định
của pháp luật và quy định hợp pháp của trường.
- Tham gia quản lý người học; tham gia đánh giá cán bộ quản lý, viên chức,
người lao động và đóng góp trách nhiệm với cộng đồng.
- Chịu sự giám sát của nhà trường về nội dung, chất lượng, phương pháp
giảng dạy và NCKH.
- Hoàn thành các công việc khác được trường, khoa hoặc bộ môn phân
công”. [3]
1.2. Chính sách phát triển giảng viên ở các trường cao đẳng
1.2.1. Khái niệm
Chính sách: "Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối,
nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một đường lối nhất định, trên những
lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy
thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa..." [32].
Theo Từ điển Tiếng Việt, phát triển nghĩa chung nhất được hiểu là “sự biến
đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp
đến cao, đơn giản đến phức tạp” [34], tr.989]. Theo quan niệm này thì tất cả các sự
vật, hiện tượng, con người và xã hội tự thân biến đổi hoặc tác động bên ngoài làm
cho biến đổi tăng lên cả về số lượng, chất lượng thì đó chính là sự phát triển. Nhưng
nhìn chung, nói đến phát triển là người ta nghĩ ngay đến sự đi lên của sự vật, hiện
tượng, con người trong xã hội. Sự đi lên đó thể hiện ở việc tăng lên về số lượng và
chất lượng, thay đổi về nội dung và hình thức.
Như vậy, có thể thấy, phát triển là xu hướng vận động của mọi sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên, xã hội, đời sống con người. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng, con
người, xã hội tự thân biến đổi để tăng về số lượng, thay đổi chất lượng hoặc dưới
tác động của bên ngoài làm cho biến đổi theo chiều hướng đi lên đều được coi là sự
phát triển.

việc tính toán số lượng GV như việc bố trí, sắp xếp lại đội ngũ, tình trạng bố trí số
học sinh-sinh viên/số GV/lớp cũng như định mức lao động của GV, chương trình
môn học… đều có ảnh hưởng đến số lượng GV. Vì vậy, khi xem xét số lượng GV,
cần chú ý đến một yếu tố tác động làm sai lệch chuẩn tính toán lý thuyết. Do đó,
hiệu trưởng nhà trường cần phải luôn rà soát số lượng GV đã đủ theo yêu cầu của
qui mô đào tạo hay chưa. Nếu thiếu, tìm sự bổ sung; nếu thừa, phải tạo thêm việc

15


làm, cân đối lao động để tránh lãng phí và nảy sinh các vấn đề liên quan.
* Về chất lượng giảng viên
Chất lượng GV trong nhà trường bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, nhìn
chung chất lượng GV hiện nay thể hiện ở ba khía cạnh như sau:
Chuẩn về trình độ chuyên môn: đạt chuẩn hay vượt chuẩn, đào tạo chính
quy hay không chính quy. Đối với GV các trường CĐ phải có trình độ học vấn từ
đại học, cử nhân, bác sĩ, thạc sĩ trở lên. Đối với một số chuyên ngành, đòi hỏi GV
phải có thời gian trải nghiệm thực tiễn về chuyên môn theo quy định cụ thể của
ngành.
Chuẩn về trình độ nghiệp vụ sư phạm: GV các trường CĐ phải được đào tạo
về nghiệp vụ sư phạm theo quy định. Ngoài những chuẩn về nghiệp vụ sư phạm
theo quy định chung, GV các trường CĐ cần phải có kiến thức nghiệp vụ sư phạm
chuyên ngành. Trình độ nghiệp vụ sư phạm được thể hiện ở hiệu quả hoạt động dạy
học và giáo dục học sinh - sinh viên, khả năng thích ứng với thay đổi trong thực
tiễn, khả năng giao tiếp, xử lý tình huống sư phạm.
Chuẩn về đạo đức tư cách người GV: được thể hiện ở đạo đức, tư tưởng tốt,
có nhân cách xã hội chủ nghĩa, có tâm hồn cao thượng, yêu nghề, yêu người, có lý
tưởng nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, trung thực, giản dị.
* Về cơ cấu đội ngũ giảng viên
Cơ cấu đội ngũ GV trường CĐ được xem xét trên các yếu tố cơ bản như sau:

CĐ phải thực hiện theo các yêu cầu cơ bản sau:
Phải xuất phát từ dự báo xu thế phát triển của GV; nhu cầu đào tạo của nhà
trường, quy hoạch đào tạo NNL trên địa bàn.
Công tác quy hoạch phải đi tắt đón đầu, đáp ứng với nhu cầu của từng giai
đoạn phát triển.
Phải xây dựng được các tiêu chí về trình độ, phẩm chất và năng lực đối với
GV trong từng giai đoạn.
Phải xây dựng được số lượng, chất lượng, cơ cấu cụ thể đối với GV trong
từng tổ chức. Trong đó, các yếu tố này phải hướng tới:
Đối với quy hoạch về số lượng GV: hướng tới đảm bảo duy trì, ổn định GV;
số lượng GV/sinh viên theo đúng quy định của Nhà nước đã ban hành; Đảm bảo
cho GV hoàn thành nhiệm vụ được giao, nhưng đồng thời họ vẫn có thời gian tự

17


học, tự nghiên cứu nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ và giải quyết các công
việc cá nhân, gia đình; phát huy tối đa khả năng của từng GV.
Đối với quy hoạch về chất lượng GV: hướng tới đảm bảo GV có trình độ,
năng lực, phẩm chất theo chuẩn hoặc vượt chuẩn quy định của Nhà nước và đáp
ứng tốt với mục tiêu đào tạo của từng nhà trường; tạo ra sự kế tục giữa các thế hệ
GV, không bị hụt hẫng về chất lượng GV.
Đối với quy hoạch về cơ cấu của GV: hướng tới tạo ra sự đồng bộ và cân
đối độ tuổi, giới tính, trình độ, ngành nghề ở từng khoa, phòng, bộ môn cho đến
tổng thể các nhà trường.
Xác định rõ nội dung và số lượng GV tham gia vào các khóa đào tạo, bồi
dưỡng theo từng giai đoạn, từng năm học cùng các điều kiện cơ bản kèm theo.
Việc quy hoạch phát triển GV là vấn đề hết sức quan trọng, chỉ trên cơ sở
quy hoạch, mỗi nhà trường mới có sự chủ động trong xây dựng GV có tính khoa
học, hệ thống; khắc phục được tình trạng hẫng hụt GV. Đội ngũ GV trong các nhà

1.2.2.3. Sử dụng, đánh giá giảng viên
* Đối với sử dụng giảng viên
Đây là sự sắp xếp, bố trí, đề bạt từng GV vào các nhiệm vụ, chức danh cụ thể
nhằm phát huy tối đa khả năng hiện có của mỗi người để hoàn thành tốt các mục
tiêu đào tạo của từng nhà trường. Trong quá trình phát triển GV, nếu từng trường
CĐ làm tốt công tác sử dụng GV sẽ tạo ra tiền đề vững chắc để GV phát huy hết
tinh thần trách nhiệm, khả năng, năng của bản thân; yên tâm công tác, có thái độ
làm việc cần mẫn, chăm chỉ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà từng
nhà trường giao phó. Ngược lại, nếu quá trình sử dụng GV không phù hợp với năng
lực, sở trường, cũng như nguyện vọng của từng GV sẽ trở thành rào cản lớn ngăn
cản động lực cũng như phát triển năng lực sẵn có của từng GV. Thậm chí nó còn là
yếu tố gây ra mất đoàn kết nội bộ.
Việc sử dụng đội ngũ GV phải đáp ứng tốt các nội dung:
Phải phù hợp với tổ chức, biên chế, yêu cầu nhiệm vụ cụ thể, cũng như của
từng bộ môn, khoa chuyên ngành.
Đáp ứng đúng nhu cầu của đơn vị, nguyện vọng của cá nhân từng GV.
Sử dụng GV đúng với chuyên môn được đào tạo, năng lực sở trường của
từng người.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status