1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Cùng với sự phức tạp của tội phạm hình sự trên cả nước, tình hình tội
phạm hình sự trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cũng có nhiều biến động và phức
tạp, thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Qua báo cáo tổng kết
năm ở địa bàn tỉnh Bắc Giang thì phương thức hoạt động của tội phạm rất đa
dạng, mức độ thiệt hại do chúng gây ra ngày càng lớn. Trong đó có các loại
tội phạm như giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, lừa đảo, trộm cắp, buôn
bán ma túy... gia tăng. Đặc biệt loại tội phạm trộm cắp tài sản trong nhà dân
xảy ra nhiều, thiệt hại do loại tội phạm này gây lên rất lớn, làm ảnh hưởng
nghiêm trọng tới tình hình TTATXH trên địa bàn. Nếu tính từ năm 2002 đến
6 tháng đầu năm 2006 đã xảy ra 3.061 vụ phạm tội hình sự, trong đó tội
phạm trộm cắp xảy ra 1.846 vụ và tội phạm trộm cắp tại nơi ở công dân xảy
ra 1.054 vụ. Như vậy tội phạm trộm cắp tài sản nơi ở công dân chiếm
34,46% so với tổng số các vụ phạm tội xảy ra và chiếm 57,09% so với các
vụ trộm cắp tài sản khác. Bên cạnh đó, công tác đấu tranh với loại tội phạm
này còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp như: tỷ lệ điều tra khám phá còn thấp
(mới đạt 36,74% trong tổng số các vụ xảy ra), nhiều vụ án còn kéo dài, bế
tắc... Nguyên nhân của tình trạng trên là CQĐT (lực lượng trinh sát, điều tra
viên) chưa nhận thức được đúng đắn hậu quả, tác hại của loại tội phạm này;
chưa làm tốt công tác phòng ngừa, điều tra xử lý đối với các vụ phạm tội.
Trong thực tế đấu tranh với loại tội phạm này lực lượng điều tra chưa nghiên
cứu khai thác kỹ và sử dụng một cách đầy đủ những tri thức khoa học của
điều tra hình sự. Chưa sử dụng có hiệu quả các biện pháp nghiệp vụ, các
chiến thuật và phương pháp điều tra. Vì vậy, để góp phần nâng cao nhận
thức về tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân và xây dựng các giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra loại tội phạm này của lực lượng
3
- Nghiên cứu về công tác điều tra khám phá của lực lượng Cảnh sát
ĐTTP về TTXH Công an tỉnh Bắc Giang.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn được xây dựng trên cơ sở
phương pháp luận triết học Mác - Lênin, quan điểm của Đảng, Nhà nước về
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và những kiến thức của các ngành
khoa học như khoa học điều tra tội phạm, tội phạm học, tâm lý, luật học...
Luận văn được nghiên cứu bởi các biện pháp cụ thể như: thống kê,
phân tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế, trao đổi, tọa đàm với cán bộ có
kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo và trực tiếp phòng ngừa, điều tra khám
phá loại tội phạm này.
6. Những yếu tố mới đạt được của luận văn
- Luận văn đưa ra hệ thống lý luận về nội dung, cấu trúc đặc điểm, thủ
đoạn hoạt động của tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân và những
đặc trưng của loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
- Tổng kết thực tiễn hoạt động điều tra khám phá tội phạm trộm cắp
tài sản tại nơi ở của công dân, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, nêu được những
đánh giá đúng đắn về công tác này.
- Đề xuất những giải pháp tích cực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
điều tra khám phá tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân của lực
lượng Cảnh sát ĐTTP về TTXH Công an tỉnh Bắc Giang.
7. Ý nghĩa lý luận - thực tiễn của đề tài
Phát triển và bổ sung nhận thức lý luận về hoạt động điều tra tội phạm
trộm cắp trên cơ sở nghiên cứu từ những địa bàn cụ thể như Bắc Giang.
Kết quả nghiên cứu đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu
giảng dạy và học tập ở các trường Công an nhân dân và cán bộ chỉ huy, cán
bộ hoạt động thực tiễn đấu tranh chống tội phạm.
xây dựng một chế tài hình phạt khá cụ thể. Điều đó phù hợp với quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta trong thời điểm nước ta bước vào xây dựng chủ
nghĩa xã hội, cần phải chủ động tập trung bảo vệ tài sản nhà nước, tài sản
chung của xã hội. Đồng thời, quy định như vậy cũng là một kế thừa những
quy định trước đây và những pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản nhà
nước và tài sản công dân. Trên cơ sở đó ngành Công an đã phân công trách
nhiệm đấu tranh cho các lực lượng Cảnh sát kinh tế và Cảnh sát hình sự để
được đảm bảo chuyên sâu đối với từng lĩnh vực.
Tuy nhiên thực tiễn đấu tranh phòng ngừa, điều tra, xét xử đối với các
loại tội phạm trộm cắp tài sản XHCN, tài sản riêng của công dân qua nhiều
năm cho thấy cả hai loại tội phạm trên có nhiều điểm giống nhau:
- Trước hết về hành vi khách quan: đều là những hành vi, thủ đoạn
"lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản" đối tượng là những tài sản có giá trị, luôn
thiệt hại về kinh tế.
6
Khách thể đó là xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, làm mất đi
quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của người khác, gây nên sự lo lắng
của con người, gây mất trật tự xã hội...
Chủ thể cũng là những con người có đủ năng lực trách nhiệm hình
sự...
Chủ quan đều do lỗi cố ý trực tiếp...
Khi nghiên cứu đến các trường hợp phạm tội, các tình tiết tăng nặng
cũng có dấu hiệu tương tự giữa hai điều luật trong BLHS năm 1985.
Hơn nữa xuất phát từ quan điểm tiếp cận của pháp luật nước ta: "mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật", tài sản hợp pháp của bất kỳ ai trong xã
hội đều được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Cho nên khi phân biệt cụ
thể tài sản XHCN và tài sản riêng của công dân dễ dẫn đến tư tưởng phân biệt
sản hoặc người được giao trực tiếp quản lý tài sản, có thể bằng thủ đoạn lén lút".
Định nghĩa như vậy quá dài vì "chiếm đoạt tài sản của người chủ tài sản hoặc
người được giao trực tiếp quản lý tài sản", nói ngắn gọn, chính là chiếm đoạt tài
sản của người khác. Còn nói "có thể bằng thủ đoạn lén lút" thì về cơ bản, có thể
hiểu lén lút chỉ là một trong các thủ đoạn được thực hiện. Vậy, nếu hành vi
chiếm đoạt được thực hiện công khai, trắng trợn, thậm chí dùng cả vũ lực để đe
dọa... thì người thực hiện hành vi đó có phạm tội trộm cắp hay không? Rõ ràng,
khái niệm trộm cắp trong giáo trình luật hình sự của Trường Đại học CSND
(nay là Học viện CSND) làm người đọc có thể nhầm lẫn hành vi trộm cắp với
các hành vi chiếm đoạt khác như cướp, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt v.v..
1.1.2. Đặc điểm pháp lý đặc trưng của tội phạm trộm cắp tài sản
Cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý để xác định tội danh (định tội). Định
tội là cơ sở đầu tiên để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm
tội. Như vậy, cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý của việc định tội. Với ý nghĩa
như vậy, cần phải tìm hiểu các đặc điểm pháp lý đặc trưng của tội phạm này.
Theo quy định của Điều 138 BLHS 1999, các yếu tố cấu thành tội trộm
cắp tài sản của công dân thể hiện như sau:
- Khách thể của tội trộm cắp tài sản
Điều 138 nằm trong Chương XIV - "Các tội xâm phạm sở hữu". Điều
đó có nghĩa là tội trộm cắp là một trong các tội xâm phạm sở hữu. Khách thể
9
của tội phạm này xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản. Xâm phạm
quyền sở hữu đối với tài sản là làm mất đi quyền chiếm hữu, sử dụng và định
đoạt đối với tài sản.
Tội trộm cắp tài sản là:
- Xâm phạm quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản).
- Là thiệt hại đến kinh tế nhà nước, tài sản công dân.
ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan và được qui định trong điều luật.
Đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện như sau:
Trước hết, nói về hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi đó phải là lén
lút, bí mật. Đây là dấu hiệu có nội dung trái ngược với dấu hiệu công khai ở
các tội xâm phạm sở hữu của công dân có tính chất chiếm đoạt khác. Dấu
hiệu này vừa chỉ đặc điểm khách quan của hành vi chiếm đoạt, vừa chỉ ý thức
chủ quan của người thực hiện hành vi.
Một hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút, bí mật nếu được thực hiện bằng
những hình thức mà những hình thức đó có khả năng làm cho chủ tài sản hoặc
người đang quản lý tài sản không biết có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra.
Hành vi của người phạm tội là lén lút, nếu khi thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản người phạm tội có ý thức che giấu hành vi đang thực hiện của
mình. Trong đa số các trường hợp trộm cắp tài sản của công dân xảy ra, ý
thức chủ quan của người phạm tội cũng là lén lút, che giấu đối với mọi người
khác. Ý thức che giấu này có thể là:
+ Che giấu toàn bộ hành vi phạm tội, như che giấu đối với chủ tài sản.
+ Chỉ che giấu tính chất phi pháp của hành vi phạm tội.
Ví dụ: Lợi dụng chủ nhà đi vắng, người phạm tội dùng chìa khóa mở cửa
một cách công khai và chuyển tài sản lên ô tô đàng hoàng như là có việc chuyên
chở hàng hóa bình thường. Trong trường hợp này, những người không phải là
chủ tài sản vẫn biết sự việc xảy ra, nhưng có thể không biết đó là hành vi trộm
cắp. Trong thực tiễn, trường hợp nêu trên vẫn thường xảy ra, vì vậy cần phải
11
nhận thức đúng hành vi đó là trộm cắp để định hướng điều tra ban đầu cho chính
xác, không nhầm lẫn với trường hợp công nhiên chiếm đoạt tài sản.
Thứ hai, nói về giá trị của tài sản bị chiếm đoạt và hậu quả tác hại.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, chỉ được coi là phạm tội trộm
lần có tài sản giá trị dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và
không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự,
đồng thời trong các lần trộm cắp đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và
chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hành chính, nếu tổng giá trị tài sản
các lần trộm cắp từ năm trăm nghìn đồng trở lên thì vẫn xác định là đủ yếu tố
cấu thành tội phạm nếu:
+ Các vụ trộm cắp thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt
thời gian.
+ Việc trộm cắp tài sản có tính chất chuyên nghiệp, lấy tài sản trộm
cắp làm nguồn sống chính.
+ Với mục đích trộm cắp, nhưng do điều kiện hoàn cảnh khách quan
nên việc trộm cắp phải được thực hiện nhiều lần cho nên giá trị tài sản bị xâm
phạm mỗi lần dưới năm trăm nghìn đồng.
Còn thế nào là "gây hậu quả nghiêm trọng"; thì Thông tư số 02/2001 đã
hướng dẫn cụ thể. Theo đó, "gây hậu quả nghiêm trọng" được hiểu là hậu quả
phải do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội
và hậu quả). Hậu quả đó có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc
hậu quả phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng,
chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội).
Dấu hiệu bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt",
được hiểu là: "Nếu trước đó đã bị xử lý bằng một trong các hình thức sau đây
về hành vi chiếm đoạt, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý
mà lại thực hiện một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm
cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
a. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định của Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính;
13
15
tượng y sẽ chiếm đoạt là tài sản của người khác, nhận biết mức độ thực hiện
hành vi, công cụ, phương tiện phạm tội cũng như các phương pháp, thủ đoạn,
thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm... sẽ gây thiệt hại đến tài sản của người
khác. Do đó, lỗi của người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của công dân là
cố ý trực tiếp, không thể có trường hợp cố ý gián tiếp hay vô ý.
Trong tội trộm cắp tài sản của công dân, động cơ và mục đích vụ lợi
luôn là dấu hiệu đặc trưng. Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy người
phạm tội thực hiện hành vi phạm tội. Do khái niệm chiếm đoạt về mặt pháp lý
đã bao hàm mục đích vụ lợi như trên cho nên các điều luật quy định về các tội
chiếm đoạt khác cũng không nêu dấu hiệu này. Động cơ không phải là dấu
hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, tuy nhiên, trên thực tế, điều tra làm rõ
động cơ mục đích của hành vi trộm cắp tài sản trong những trường hợp cụ thể
có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong đó có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự của bị can, bị cáo, chẳng hạn như: Người phạm tội thực hiện hành vi
trộm cắp để lấy tiền điều trị cho con bị mắc bệnh hiểm nghèo v.v...
Tóm lại, về mặt chủ quan của tội phạm trộm cắp tài sản phải được
thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, với động cơ, mục đích vụ lợi thể hiện qua hành
vi chiếm đoạt.
- Chủ thể của tội trộm cắp tài sản của công dân
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội một cách cố ý hay vô ý, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt
độ tuổi theo luật hình sự qui định.
Như vậy, không phải bất kỳ người nào cũng có thể trở thành chủ thể
của tội phạm khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
BLHS, mà chỉ những người có đủ các điều kiện để có lỗi mới trở thành chủ
thể của tội phạm; các điều kiện đó là:
nhất ở Điều 123 là tử hình, mức cao nhất của Điều 155 chỉ đến 20 năm. Từ sự
so sánh trên, ta thấy khoảng cách mức hình phạt tù tối đa và tối thiểu trong
khung hình phạt của BLHS năm 1999 hẹp hơn (8 năm) so với khoảng cách đó
trong khung hình phạt của BLHS năm 1985 (13 năm), khung hình phạt cao
17
nhất của BLHS năm 1999 thấp hơn (chung thân) so với khung hình phạt cao
nhất của BLHS năm 1985 (tử hình).
Tóm lại, theo tinh thần của Điều 138 BLHS năm 1999, tội phạm trộm
cắp tài sản được qui định rõ ràng hơn về giá trị tài sản (định lượng) so với
BLHS năm 1985. Tuy vậy, để điều tra làm rõ tội phạm trộm cắp tài sản và
truy tố người phạm tội đòi hỏi phải thận trọng hơn, bởi vì qui định của BLHS
năm 1999 chi tiết, bảo đảm yêu cầu cao hơn về cá thể hóa hành vi và cá thể
hóa hình phạt.
1.1.3. Đặc điểm của hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân
Chúng ta biết rằng, tội phạm trộm cắp có nhiều loại hành vi khác nhau
vì vậy cần phân loại để hiểu rõ hành vi cụ thể. Việc phân loại tội phạm trộm
cắp ở đây chúng tôi không phân loại theo khách thể bị xâm hại, mà phân theo:
Đối tượng bị chiếm đoạt; thời gian và địa điểm gây án. phương thức, thủ
đoạn.
Thứ nhất, căn cứ vào đối tượng bị chiếm đoạt. Do tội phạm trộm cắp
được thực hiện bằng hành vi lén lút, bí mật với động cơ, mục đích là chiếm
đoạt nên những tài sản mà bọn tội phạm chú ý là những tài sản quý hiếm có
giá trị, dễ tiêu thụ như: xe máy, tivi, đầu video, máy tính, tiền vàng đá quí, ngoại
tệ, các loại quần áo đắt tiền, đồ cổ... Vì vậy, có thể phân thành các loại như
trộm cắp xe máy, ôtô, trộm cắp tiền, vàng, đá quý, trộm cắp đồ dùng khác...
Thứ hai, theo địa điểm gây án, có thể chia ra các loại như: trộm cắp
nơi công cộng (bến tàu, bến xe, chợ...); trộm cắp trên phương tiện giao thông;
1.2.1. Công tác phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của
công dân
- Phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản nơi ở công dân là yêu cầu cấp
thiết khách quan. Trong lý luận tội phạm học cũng như quan điểm của Đảng,
Nhà nước ta thể hiện rõ; phòng ngừa tội phạm là phương hướng chính của
cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Vận dụng quan điểm đó, trong đấu
tranh phòng chống tội phạm trộm cắp tài sản nơi ở công dân cũng phải luôn
chú ý tới công tác phòng ngừa ngăn chặn vì những lý do sau:
21
+ Tài sản bị chiếm đoạt tại nơi ở công dân là kết quả lao động của
người dân, là nguồn sống, phương tiện lao động, sinh hoạt do họ lao động mà
có được khi bị trộm cắp tài sản đó thì người dân bị mất đi nguồn tài sản hợp
pháp quý báu... nhất là khi bị trộm cắp thì rất khó tìm lại được...
+ Thực tế loại tội phạm này xảy ra nhiều, 1.054 vụ chiếm tỷ lệ 58,65%.
+ Thực tế cũng chứng minh khả năng có thể phòng ngừa ngăn chặn các
vụ phạm tội này xảy ra, khi nhà nước, công dân có ý thức phòng ngừa ngăn
chặn.
Vì vậy, chúng ta luôn phải có ý thức và kế hoạch phòng ngừa tội
phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân.
- Nội dung công tác phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở
công dân.
Cũng như trộm cắp tài sản nói chung, công tác phòng ngừa tội phạm
trộm cắp tại nơi ở của công dân cũng cần được cơ quan Công an có các biện
pháp phòng ngừa hữu hiệu. Qua nghiên cứu các vụ án trộm cắp tài sản xảy ra
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thì số vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân
chiếm đa số(1.054/1.797=58,65%). Thiệt hại do chúng gây ra cũng lớn hơn.
Thủ đoạn hết sức tinh vi, phần lớn các vụ đối tượng có sự câu kết với nhau
bằng khóa chống cắt, cất gửi tài sản.
1.2.2. Điều tra vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân
- Ý nghĩa quan trọng của điều tra làm rõ các vụ án đã xảy ra là đòi hỏi
cần thiết và chính đáng vì:
+ Lấy lại tài sản cho công dân...
+ Xử lý người phạm tội theo pháp luật...
+ Phòng ngừa, răn đe...
- Những vấn đề cần phải chứng minh vụ án trộm cắp tài sản nơi ở của
công dân, tại Điều 63 BLTTHS năm 2003.
23
+ Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những
tình tiết khác của hành vi phạm tội;
+ Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố
ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm
tội.
+ Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
+ Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
- Tuy nhiên, hoạt động điều tra các vụ phạm tội trộm cắp tại nơi ở của
công dân cũng có những khó khăn phức tạp như:
Thứ nhất, đối tượng gây án: đối với các vụ án trộm cắp tài sản trong
thực tế hiện nay được xác định là một loại án khó điều tra không riêng tỉnh
Bắc Giang mà là tình trạng chung của cả nước, số vụ hàng năm xảy ra nhiều,
đối tượng hoạt động tinh vi, hành vi lén lút bí mật, tang vật dễ tẩu tán tiêu thụ.
Thủ đoạn hoạt động tinh vi, thường cấu kết thành những băng ổ nhóm để hoạt
động, khi tiếp cận địa điểm gây án thường chúng tăm tia trước xác định được
mục tiêu mới lên kế hoạch gây án và phân công nhiệm vụ cho từng tên (trong
- Về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm là sự nghiệp chung của
các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân đối với tội phạm trộm cắp
tài sản tại nơi ở của công dân cũng thể hiện quan điểm trên.
Vì, quan điểm của Đảng ta - cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nên trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự không chỉ riêng cơ quan Công an
mà cần phải huy động sức mạnh của các lực lượng, tạo thành thế trận liên
hoàn mới đảm bảo được thành công.
- Trong công tác này cơ quan Công an là lực lượng nòng cốt xung kích,
bởi vì đây là lực lượng chính được đào tạo nghiệp vụ phòng ngừa, điều tra
khám phá loại tội phạm này.
- Về mặt chuyên môn, Bộ Công an giao cho lực lượng Cảnh sát điều
tra tội phạm về trật tự xã hội thực hiện chuyên trách công tác này như:
25
+ Tổ chức phối hợp phòng ngừa và tiến hành các hoạt động phòng ngừa
xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ.
+ Tổ chức tiến hành điều tra các vụ án đã xảy ra, chứng minh tội phạm
đề xuất phương hướng xử lý kẻ phạm tội trước pháp luật.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trộm cắp tài sản nói chung và trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân
nói riêng là một trong những tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt, có khả năng gây thiệt hại lớn cho sở hữu của công
dân. Thời gian qua, tội phạm này diễn biến rất phức tạp và có xu hướng gia
tăng cả số vụ và số đối tượng. Để nâng cao hiệu quả phát hiện, điều tra, khám
phá tội phạm này cũng như tìm ra những yếu tố chi phối kết quả điều tra, tác
giả của luận văn đã luận giải những vấn đề lý luận liên quan đến những nội
dung của luận văn.
Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã làm rõ được khái