Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Đánh giá hiện trạng và phân tích diễn biến chất lượng nước mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An - Pdf 59

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Dương Thanh Nga

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN
CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


Hà Nội – Năm 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Dương Thanh Nga

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN
CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TỈNH NGHỆ AN

CHUYÊN NGÀNH

: MÔI TRƯỜNG

MàSỐ

:  60 85 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS LƯU ĐỨC HẢI

̣
̀
 

Tôi cũng xin  chân thành cảm  ơn  tập thể  Lãnh đạo, nhân viên Trung tâm  

Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường Nghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp  
nguồn số liệu phong phú để  tôi có thể  hoàn thành tốt luận văn này. Cảm  ơn gia  
đình đã luôn ở bên, giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành đề  
tài.
 

Cuối cùng  Tôi  kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công  

trong sự nghiệp cao quý!

Vinh, ngày 25 tháng 12 năm 2012
Người thực hiện

Dương Thanh Nga


MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU


DANH MỤC HÌNH





nước mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ  An” giai đoạn 2010 ­2012 , đề xuất một số giải 
pháp bảo vệ chất lượng nước mặt trên địa bàn. 
Chương 1­ TỔNG QUAN

1.1.

Tổng quan về đánh giá và phân tích diễn biến chất lượng nước 
Hiện   trạng   môi   trường   của   khu   vực   hoặc   quốc   gia   là   trạng   thái   môi 

trường được thể  hiện chủ  yếu trên 3 phương diện: hiện trạng môi trường tự 
nhiên, hiện trạng kinh tế ­ xã hội tác động lên môi trường và các giải pháp bảo 
vệ môi trường đã thực hiện.
Đánh giá hiện trạng môi trường cung cấp một bức tranh tổng thể về tình  
trạng của môi trường và tài nguyên thiên nhiên, tác động của các hoạt động của 
con người đến tình trạng môi trường cũng như  các mối quan hệ  của chúng đến 
sức khỏe và phúc lợi kinh tế của con người. 
Đánh giá hiện trạng môi trường nước là bộ  phận của đánh giá hiện trạng 
môi trường, cung cấp bức tranh tổng thể về hiện trạng môi trường nước và tác  
động của con người đến hiện trạng đó; cũng như  các mối quan hệ  của chúng  
đến sức khỏe và phúc lợi kinh tế  của con người; đồng thời phân tích diễn biến  
chất lượng nước.

1.2.

Tổng quan về môi trường nước mặt

1.2.1. Định nghĩa nước mặt
Nước mặt là một dạng tài nguyên nước. “ Nước mặt là nước tồn tại trên 

tích mặt nước trên 100 Km2, chiếm 95% tổng khối lượng  nước, trong đó có 56% 
là các hồ  nước ngọt. Ngoài ra, trên lục địa còn có trên 10.000 hồ nhân tạo có sức 
chứa 5000 Km3 (1,78%)nhằm chứa nước phục vụ cho nhu cầu của con người[16]. 
Bảng : Đặc trưng một số hồ nhân tạo lớn trên thế giới[16]

Tên hồ

Dung tích
(Km3)

Vị trí

Diện tích
(Km2)

Sông

Châu, Nước

Oden­fols và Vicloria

Nil

Châu Phi

205

76000

Bratxk

Volta

Volta

Gana

148,0

8480

Ở Việt Nam, hầu hết các hồ chứa đều được xây dựng cho nhiều mục đích 
khác nhau như phòng chống lũ lụt, tưới tiêu, thủy điện, cấp nước và các mục tiêu 

9


quản lý lưu lượng dòng chảy khác. Cả nước có khoảng 3.600 hồ chứa, trong đó 
chưa đến 15% là các hồ  cỡ  vừa và lớn (dung lượng trên 1 triệu m 3 hoặc có độ 
cao lớn hơn 10m).
Bảng : Một số hồ chứa ở Việt Nam[16]
Hồ chứa

Diện tích lưu vực  Dung tích 
(km2)
(106. M3)

Hòa Bình

51.700



2.700

1.580

7.200

­

Thác Mơ

2.200

1.370

­

150

Yaly

7.455

1.037

­

720

Phú Ninh

Mấu

­

26,4

1524

­

Núi Cốc

­

175

­

­

Cấm Sơn

­

250

­

­


Diện tích 
(103 km2)

Lượng dòng chảy bình quân năm

Châu Á

44.363

Tổng 
số 
(km3)
13.400

Bình quân diện tích 
( 103 m3/ người)
302

Bình quân đầu 
người
3
( 10 km3 / người)
4,6

Châu 
Mỹ

42.081

17.822


299

6,8

11


Toàn 
cầ u

148.817

41.500

279

9,02

Bảng : Tài nguyên nước của các sông chính ở Việt Nam
Lưu vực 
sông

Diện tích 
lưu vực

Tổng dung lượng

Tổng diện 
tích ở VN 


155.000

55

137

80,3

59

28.400

62

20,2

16,5

82

27.200

65

27,5

24,5

89


795.000

8

580

55

11

Mã – Chu
Cả
Thu Bồn
Ba
Đồng Nai
Mê Kông

Việt Nam có hệ  thống sông ngòi dày đặc, trong đó khoảng 2.360 sông có  
chiều dài lớn hơn 10km. Cả  nước có 8 con sông có diện tích lưu vực lớn, trên  
10.000km2. Tổng dòng chảy trong năm đạt 835 tỉ  m3, mùa khô chỉ  chiếm 15% 
­30% tổng lượng dòng chảy cả năm.

1.2.4. Chất lượng nước mặt

12


Chất lượng nước mặt được đánh giá qua nồng độ hoặc hàm lượng các tác  
nhân vật lý, hóa học, sinh học có trong nước qua các tiêu chuẩn cho từng mục 

lớn do hiện tượng xói mòn rửa trôi. 80 – 90% tổng lượng cát bùn trong năm tập 
trung vào mùa lũ[16]. Độ đục trung bình năm biến đổi từ 100g/m3 đến 500g/m3. Hệ 
thống sông Hồng có độ đục lớn nhất, có khi lên đến 1000g/m3[16]. Hàng năm, các 
sông ngòi Việt Nam chuyển ra biển 400 ­500 triệu tấn cát bùn, riêng sông Hồng 
khoảng 120 triệu tấn.
Độ  khoáng hóa của sông Việt Nam vào loại trung bình, khoảng 25 – 250 
mg/l. Nước thuộc loại mềm và rất mềm. Nhiều vùng bị  nhiễm mặn, đặc biệt là  
vào mùa kiệt, điển hình là Đồng bằng sông Cửu Long[16].
Về  tổng thể, chất lượng nước mặt  ở nước ta khá tốt, ít bị  ô nhiễm, đáp 
ứng tiêu chuẩn sử  dụng nước. Việc rửa trôi, pha loãng nước sông vào mùa lũ 
giúp các sông nhanh chóng phục hồi trạng thái, chất lượng nước được đảm bảo.  
Song không vì thế mà xem nhẹ vấn đề chống ô nhiễm. Sự tăng trưởng các ngành 
công nghiệp, nông nghiêp đi kèm quá trình đô thị hóa đã gây ô nhiễm môt số đoạn  
sông và nguy cơ ô nhiễm cao một số sông ngòi đi qua thành phố  lớn và các khu  
công nghiệp.

13


Một số  sông có hiện tượng ô nhiễm cục bộ  do sản xuất công nghiệp, 
nông nghiệp, chế biến lâm sản và chất thải sinh hoạt chưa qua xử lý…Ô nhiễm  
dầu, hiện tượng axit hóa rất phổ biến và mức độ ô nhiễm có xu hướng tăng dần 
về phía hạ lưu trên sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Ô nhiễm trên các sông chảy 
qua một số  đô thị  lớn ( Hải Phòng, Huế, Hạ  Long), mức độ  ô nhiễm đều vượt  
TCCP loại A. Các sông nội thành Hà Nội đã bị ô nhiễm, đặc biệt là các sông thoát 
nước thải như  Kim Ngưu, Tô Lịch…Các sông này không còn khả  năng tự  làm 
sạch, chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn cho phép loại B.

1.2.4.2. Chất lượng nước ao hồ Việt Nam
Hệ thống các ao, hồ, kênh rạch ở các thành phố lớn đều có hiện tượng ô 

+ Các chất hữu cơ bền
+ Các kim loại nặng
+ Các ion vô cơ
+ Các khí độc hòa tan
+ Dầu mỡ
+ Các chất phóng xạ
+ Vi sinh vật gây bệnh
+ Các chất có mùi
+ Các chất thải rắn
1.3. Các Điều kiện tự nhiên và kinh tế ­ xã hội tỉnh Nghệ An
Thành phần tự nhiên của nước nước mặt chịu tác động to lớn của các yếu  
tố  như  vị  trí địa lý, địa chất, địa hình, điều kiện khí hậu, thủy văn, ...cũng như 
điều kiện kinh tế ­ xã hội tỉnh Nghệ An. 
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
­ Vị trí địa lý
Nghệ An là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, có tọa độ địa lý 18033’10’’ đến 
20001’43’’ vĩ độ Bắc và từ 103052’53’’ đến 105048’50’’ kinh độ Đông. Với vị trí tiếp 
giáp:
Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa;
Phía Đông giáp biển Đông;

15


Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh;
Phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Tỉnh Nghệ  An có 1 thành phố  loại 2, 02 thị  xã và 17 huyện: Thành phố 
Vinh; Thị  xã Cửa Lò; Thị  xã Thái Hòa; 10 huyện miền núi: Thanh Chương, Kỳ 
Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ 
Hợp, Nghĩa Đàn; 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi  

thường về địa hóa, địa nhiệt, xuất lộ các nguồn nước khoáng, nước nóng.
­ Địa hình
Nằm  ở  Đông Bắc dãy Trường Sơn, Nghệ  An có địa hình đa dạng, phức 
tạp, bị  chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ  thống sông, suối. Về  tổng thể,  
địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc ­ Đông Nam, với ba vùng sinh thái rõ rệt: 
Miền núi, Trung du, Đồng bằng ven biển. Trong đó, miền núi chiếm tới 83% 
diện tích lãnh thổ. Địa hình có độ  dốc lớn, đất có độ  dốc lớn hơn 8 O chiếm gần 
80% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đặc biệt có trên 38% diện tích đất có độ dốc lớn  
hơn 250. Nơi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m)  ở  huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là  
vùng đồng bằng các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, có nơi chỉ  cao  
0,2 m so với mặt nước biển (xã Quỳnh Thanh, huyện Quỳnh Lưu). Đặc điểm địa  
hình trên là một trở ngại lớn cho việc phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, 
đặc biệt là các tuyến giao thông vùng trung du và miền núi, gây khó khăn cho phát  
triển lâm nghiệp và bảo vệ  đất đai khỏi bị  xói mòn, gây lũ lụt cho nhiều vùng 
trong tỉnh. Tuy nhiên, hệ thống sông ngòi có độ dốc lớn, với 117 thác lớn, nhỏ là 
tiềm năng lớn có thể  khai thác để phát triển thuỷ  điện và điều hoà nguồn nước  
phục vụ sản xuất và dân sinh.
­ Đất đai
Nghệ  An có diện tích tự  nhiên là 16.490,25 km2. Hơn 80% diện tích là 
vùng đồi núi nằm  ở  phía tây gồm 10 huyện, và 1 thị  xã; Phía đông là phần diện 
tích đồng bằng và duyên hải ven biển gồm 7 huyện, 1 thị xã và thành phố  Vinh. 
Phân chia theo nguồn gốc hình thành thì có các nhóm đất như sau:

17


+  Đất nguồn gốc trầm tích
Phân bố tập trung chủ yếu  ở các huyện đồng bằng, ven biển, bao gồm 5  
nhóm đất: đất cát; đất phù sa, dốc tụ; đất mặn; đất phèn mặn; đất bạc màu và  
biến đổi do trồng lúa. Chiếm vị trí quan trọng trong số này có 189.000 ha đất phù  

phát triển các loại cây công nghiệp và cây ăn quả. Thời gian qua, loại đất này đã  
được đưa vào sử  dụng để  trồng các loại cây như: chè, cam, chanh, dứa, hồ 
tiêu,... Diện tích loại đất này còn nhiều và tập trung thành vùng lớn, nhất là  ở 
các huyện Anh Sơn, Thanh Chương, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳnh Lưu. Đây là  
một thế mạnh của Nghệ An so với nhiều địa phương khác ở miền Bắc để phát 
triển các loại cây công nghiệp và cây ăn quả.
  

* Đất vàng nhạt phát triển trên sa thạch và cuội kết (Fq)
Tổng diện tích 315.055 ha, phân bố rải rác theo dải hẹp xen giữa các dải  

đất phiến thạch kéo dài theo hướng Tây Bắc ­  Đông Nam của tỉnh qua nhiều 
huyện miền  núi  và  trung  du như  Thanh  Chương,   Anh Sơn,   Tân  Kỳ,  Tương 
Dương, Kỳ  Sơn.... Do thành phần cơ  giới tương đối nhẹ  hơn so với đất phiến  
thạch sét, nên đất vàng nhạt trên sa thạch thường bị  xói mòn mạnh, tầng đất  
tương đối mỏng và nhiều nơi trơ sỏi đá. Chỉ có một số nơi địa hình đồi núi cao,  
thảm thực vật che phủ khá mới có độ dày tầng đất từ  50­70 cm. Đất vàng nhạt  
trên sa thạch thường nghèo dinh dưỡng, khả  năng giữ  nước và kết dính kém, 
thành phần keo sét thấp, khả năng giữ màu, đến nay hầu như không sử dụng vào 
sản xuất nông nghiệp.  ở  vùng cao có khả  năng trồng một số  cây công nghiệp  
nhưng phải có chế  độ  bảo vệ  nguồn nước và chống xói mòn tốt mới duy trì  
được hiệu quả sử dụng đất.
 

* Đất vàng đỏ phát triển trên các đá axít (Fa)
Tổng diện tích khoảng 217.101 ha, phân bố rải rác ở các huyện Anh Sơn, 
Con Cuông, Tương Dương, Quỳ  Châu... Phần lớn đất vàng đỏ  trên đá axít có 
thành phần cơ  giới nhẹ, nghèo dinh dưỡng, bị  xói mòn rửa trôi mạnh, độ  chua 
lớn (PHKCL
đối 42,70C; nhiệt độ  trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 năm trước đến 

20


tháng 2 năm sau) là 190C, nhiệt độ  thấp tuyệt đối ­ 0,50C. Số  giờ  nắng trung 
bình/năm là 1.500 ­ 1.700 giờ.
+ Chế độ mưa
Nghệ An là tỉnh có lượng mưa trung bình so với các tỉnh khác ở miền Bắc. 
Lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1.200­2.000 mm/năm với 123 ­ 152 
ngày mưa, phân bổ cao dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông và chia làm hai  
mùa rõ rệt:
* Mùa khô từ  tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ  chiếm 15 ­  
20% lượng mưa cả năm, tháng khô hạn nhất là tháng 1, 2; lượng mưa chỉ đạt 7 ­  
60 mm/tháng.
* Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung chiếm 80 ­ 85%  
lượng mưa cả  năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 có lượng mưa từ  220 ­  
540mm/tháng, số ngày mưa 15 ­ 19 ngày/tháng, mùa này thường kèm theo gió bão.
+ Độ ẩm không khí
Độ ẩm hàng năm dao động từ  80 ­ 90%, có sự  phân hóa giữa các vùng và  
theo mùa. Chênh lệch giữa độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng khô nhất tới  
18 ­ 19%; vùng có độ   ẩm cao nhất là thượng nguồn sông Hiếu, vùng có độ   ẩm 
thấp nhất là vùng núi phía Nam (huyện Kỳ Sơn, Tương Dương). Lượng bốc hơi  
từ 700 ­ 940 mm/năm.
+ Chế độ gió
Nghệ An chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùa Đông Bắc và 
gió phơn Tây Nam.
 * Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa Đông từ  tháng 10 đến  
tháng 4 năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, mang  
theo không khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ  giảm xuống 5 ­ 10 oC so với nhiệt độ 

Các sông khác bắt nguồn trong tỉnh chảy thẳng ra biển với đặc trưng các 
sông đều ngắn, trữ lượng nước không lớn, lòng sông hẹp, nước chảy chậm, phần  
lớn là sông nước mặn. Bao gồm các sông:
­ Sông Hoàng Mai dài 44 km;
­ Sông Dâu và sông Thái (Quỳnh Lưu) là sông nhiễm mặn;

22


­ Sông Bùng dài 53 km; 
­ Sông Cấm dài 47 km.
Ngoài các con sông trên, Nghệ An còn có hệ thống kênh đào nối các sông với 
nhau như kênh nhà Lê, là hệ thống sông đào nối Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc  
vào đến Hưng Nguyên, với muc tiêu chính là d
̣
ẫn nước ngọt, ngăn nước mặn và  
phục vụ giao thông, thuỷ lợi cho các huyện ven biển.
1.3.2. Điều kiện kinh tế ­ xã hội 
Các yếu tố kinh tế xã hội như dân số, sự phát triển kinh tế (công nghiệp,  
nông nghiệp, dịch vụ…) là những yếu tố tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi 
trường nước mặt tỉnh Nghệ An
­ Kinh tế 
+ Tình hình tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 10,38% , cao hơn hẳn tốc độ tăng 
bình quân 5,9% của  cả nước. Tổng GDP của tỉnh năm 2011 đạt 49.759 tỷ đồng[7] 
(tính theo giá trị hiện hành). GDP bình quân đầu người là 16,9 triệu đồng/người.
Cơ cấu kinh tế của Nghệ An cũng chuyển dịch khá nhanh theo hướng 
công nghiệp hóa.  Năm 2011, tỷ trọng nông nghiệp 27,06%, công nghiệp xây dựng 
34,86%, dịch vụ 38,08%[7]. Tỷ trọng trong GDP của khu vực công nghiệp ­ xây 
dựng tăng nhanh từ 18,6% năm 2000 lên 34,86% năm 2011. Trong khi đó, tỷ trọng 

định được vai trò của mình trong tăng trưởng kinh tế.
­ Dân số
Năm 2011, dân số tỉnh Nghệ An là 2.942.900[7]  người, mật độ dân cư 178 
người/km2, tỉ lệ gia tăng dân số 11,6%.  Trong đó, 86,7%[7]  dân số tập trung ở 
nông thôn, chỉ có 13,3% dân số sông ở thành thị. 
Nguồn lao động dồi dào, 1.757.800 người[7]. Trong đó làm việc trong các 
ngành kinh tế là 1,38 triệu người. Năm 2010, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 
34.000 lao động. Tỷ lệ lao động được đào tạo khoảng 40%. 
­ Y tế và sức khỏe cộng đồng

24


Số cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế là 529 cơ sở[7], trong đó có 
26 bệnh viện đa khoa, 22 phòng khám khu vực[7], 1 bệnh viện điều dưỡng và 479 
trạm y tế, cơ quan, xã, phường.  Có 6­75% đạt chuẩn quốc gia về y tế. Toàn tỉnh 
có 1397 bác sỹ, 1327 y sỹ, 2629 y tá và 910 nữ hộ sinh. Có 42 dược sỹ cao cấp, 
461 dược sỹ trung cấp và 294 dược tá[7].
Các cơ sở y tế ngày càng được nâng cấp, chất lượng khám chữa bệnh 
được nâng lên, do đó số ca tử vong trong điều trị giảm.
Công tác phòng dịch tốt nên không xẩy ra dịch bệnh đáng kể, số ca tử vong 
trong điều trị giảm. Công tác kiểm tra an toàn vệ sinh có nhiều chuyển biến. Chủ 
trương sử dụng muối iốt được thực hiện khá tốt. Công tác tiêm chủng mở rộng 6 
loại vắc xin cho các cháu dưới 1 tuổi, tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai, 
tiêm phòng viêm não...
­ Giáo dục
Công tác giáo dục ở Nghệ An được phát triển mạnh mẽ. Cho đến nay tất 
cả các huyện, thành, thị trong tỉnh và 100% số xã, phường đã được công nhận 
phổ cập tiểu học và chống mù chữ.
Năm 2011, toàn tỉnh có 533.864 học sinh phổ thông học tập tại 1.043 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status