Mục lục
Trang
mở đầu 1
Chơng 1: nhận thức về tội phạm trộm cắp tài sản tại
nơi ở công dân và công tác điều tra khám
phá của lực lợng cảnh sát điều tra tội phạm
về trật tự xã hội Công an tỉnh Bắc Giang 5
1.1. Nhận thức về tội trộm cắp tài sản và trộm cắp tài sản tại nơi ở
của công dân 5
1.2. Nhận thức về điều tra tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân 20
Chơng 2: Thực trạng tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi
ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
trong những năm 2002 đến 2006 và các biện
pháp điều tra khám phá 25
2.1. Tình hình tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang 25
2.2. Công tác phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của
công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 49
2.3. Công tác điều tra tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công
dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 55
2.4. Nhận xét, đánh giá về hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm
trộm cắp tài sản nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 83
Chơng 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
điều tra khám phá các vụ trộm cắp tài sản tại
nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 88
3.1. Dự báo tình hình tội trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới 88
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa,
điều tra khám phá loại tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của
công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 92
kết luận 120
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng tiến hành công tác điều tra
khám phá loại tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang, trên cơ sở đó đề xuất một số giả pháp áp dụng kết quả nghiên cứu về
phòng ngừa, điều tra nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác này.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt đợc mục đích, đề tài có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận nhận thức về công tác phòng ngừa,
điều tra tội phạm nói chung và tội phạm trộm cắp nói riêng.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động phòng ngừa, điều tra khám phá loại
tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
của lực lợng CSND.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa,
điều tra loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tợng nghiên cứu của đề tài:
- Tình hình tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân và hoạt
động điều tra khám phá tội phạm này của lực lợng Cảnh sát ĐTTP về TTXH
Công an tỉnh Bắc Giang.
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong kết quả khảo sát thực
tiễn tình trạng tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân, xảy ra từ năm
2002 đến 6 tháng đầu năm 2006 trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
- Nghiên cứu về công tác điều tra khám phá của lực lợng Cảnh sát
ĐTTP về TTXH Công an tỉnh Bắc Giang.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Phơng pháp nghiên cứu của luận văn đợc xây dựng trên cơ sở phơng
pháp luận triết học Mác - Lênin, quan điểm của Đảng, Nhà nớc về công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm và những kiến thức của các ngành khoa học
nh khoa học điều tra tội phạm, tội phạm học, tâm lý, luật học
công dân và công tác điều tra khám phá của lực lợng
Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội
Công an tỉnh Bắc Giang
1.1. Nhận thức về tội trộm cắp tài sản và trộm cắp tài sản tại nơi ở
của công dân
1.1.1. Quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm trộm cắp tài sản
Trong BLHS năm 1985 của nớc ta, tội trộm cắp tài sản đợc qui định tại
hai điều 132, 155: tội phạm trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và tội phạm
trộm cắp tài sản công dân.
Nghiên cứu những quy định trên cho thấy có sự phân biệt rạch ròi giữa
tài sản nhà nớc, tài sản tập thể và tài sản riêng của công dân là cơ sở xây dựng
một chế tài hình phạt khá cụ thể. Điều đó phù hợp với quan điểm của Đảng và
Nhà nớc ta trong thời điểm nớc ta bớc vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, cần
phải chủ động tập trung bảo vệ tài sản nhà nớc, tài sản chung của xã hội.
Đồng thời, quy định nh vậy cũng là một kế thừa những quy định trớc đây và
những pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản nhà nớc và tài sản công
dân. Trên cơ sở đó ngành Công an đã phân công trách nhiệm đấu tranh cho
các lực lợng Cảnh sát kinh tế và Cảnh sát hình sự để đợc đảm bảo chuyên sâu
đối với từng lĩnh vực.
Tuy nhiên thực tiễn đấu tranh phòng ngừa, điều tra, xét xử đối với các
loại tội phạm trộm cắp tài sản XHCN, tài sản riêng của công dân qua nhiều
năm cho thấy cả hai loại tội phạm trên có nhiều điểm giống nhau:
- Trớc hết về hành vi khách quan: đều là những hành vi, thủ đoạn "lén
lút, bí mật chiếm đoạt tài sản" đối tợng là những tài sản có giá trị, luôn thiệt
hại về kinh tế.
Khách thể đó là xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, làm mất đi
quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của ngời khác, gây nên sự lo lắng của
con ngời, gây mất trật tự xã hội
Chủ thể cũng là những con ngời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
Chủ quan đều do lỗi cố ý trực tiếp
d. Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
e. Hành hung để tẩu thoát;
f.Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mơi triệu đồng đến dới
hai trăm triệu đồng;
g. Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
bảy năm đến mời lăm năm:
a. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dới năm
trăm triệu đồng;
b. Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ m-
ời hai năm đến hai mơi năm hoặc tù chung thân:
a. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Ngời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm m-
ơi triệu đồng".
Trong Bình luận khoa học BLHS, phần các tội phạm, trộm cắp đợc
hiểu là "lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản đang do ngời khác quản lý". Trong
Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trờng Đại học Luật Hà Nội, trộm cắp tài
sản cũng đợc hiểu là "lén lút chiếm đoạt tài sản đang có ngời quản lý". Theo
chúng tôi, "tài sản đang do ngời khác quản lý" và "tài sản đang có ngời quản lý"
chỉ là hai cách nói khác nhau của cùng một nội dung. Tuy nhiên, khái niệm
trộm cắp trong Bình luận khoa học BLHS rõ ràng hơn trong giáo trình luật
hình sự Việt Nam của Trờng Đại học Luật Hà Nội vì mô tả đợc hành vi trộm
cắp là hành vi "lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản ". Trong khi đó, Giáo trình
luật hình sự Việt Nam, phần các tội phạm của Trờng Đại học CSND lại cho
rằng: "Trộm cắp là hành vi chiếm đoạt tài sản của ngời chủ tài sản hoặc ngời
đợc giao trực tiếp quản lý tài sản, có thể bằng thủ đoạn lén lút". Định nghĩa nh
vậy quá dài vì "chiếm đoạt tài sản của ngời chủ tài sản hoặc ngời đợc giao trực
tiếp quản lý tài sản", nói ngắn gọn, chính là chiếm đoạt tài sản của ngời khác.
trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác" (Điều 58).
Tài sản thuộc các tổ chức t nhân (kể cả các tổ chức t nhân nớc ngoài)
cũng thuộc phạm vi đối tợng của tội trộm cắp tài sản của công dân.
Tài sản thuộc sở hữu công dân nhng đang tạm thời thuộc sự quản lý
của các cơ quan nhà nớc, các xí nghiệp quốc doanh, hoặc hợp tác xã không
thuộc đối tợng tác động của tội trộm cắp tài sản của công dân mà đợc bảo vệ
nh tài sản của Nhà nớc.
Tài sản của công dân về nguyên tắc chỉ là đối tợng của những hành vi
phạm tội do ngời không phải là chủ sở hữu thực hiện. Tuy nhiên, cũng có trờng
hợp tài sản đó có thể là tài sản của riêng ngời có hành vi phạm tội hoặc là tài sản
chung với ngời khác. Đó là những trờng hợp hành vi phạm tội, về hình thức, tuy
tác động đến tài sản của ngời thực hiện, nhng thực chất lại nhằm gây thiệt hại về
tài sản cho ngời khác hoặc cho ngời cùng sở hữu với mình.
Ngoài ra khi những vụ trộm cắp tài sản xảy ra trên thực tế đã gây ra
tình trạng lo sợ không yên tâm công tác và sinh hoạt của con ngời trong xã
hội, làm phức tạp thêm tình hình trật tự xã hội.
- Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản
Mặt khách quan của tội phạm trộm cắp tài sản là những biểu hiện diễn
ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan và đợc qui định trong điều luật.
Đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc thực hiện nh sau:
Trớc hết, nói về hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi đó phải là lén lút,
bí mật. Đây là dấu hiệu có nội dung trái ngợc với dấu hiệu công khai ở các tội
xâm phạm sở hữu của công dân có tính chất chiếm đoạt khác. Dấu hiệu này
vừa chỉ đặc điểm khách quan của hành vi chiếm đoạt, vừa chỉ ý thức chủ quan
của ngời thực hiện hành vi.
Một hành vi chiếm đoạt đợc coi là lén lút, bí mật nếu đợc thực hiện bằng
những hình thức mà những hình thức đó có khả năng làm cho chủ tài sản hoặc
ngời đang quản lý tài sản không biết có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra.
Hành vi của ngời phạm tội là lén lút, nếu khi thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản ngời phạm tội có ý thức che giấu hành vi đang thực hiện của mình.
chiếm đoạt đến tài sản có giá trị cụ thể theo ý thức chủ quan của họ là từ năm
trăm nghìn đồng trở lên thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Để xác định đúng giá trị tài sản trong trờng hợp không tìm thấy tài sản
bị trộm cắp. CQĐT cần lấy lời khai những ngời biết về tài sản này để xác định
tài sản đó là gì; nhãn mác nh thế nào; giá trị của tài sản theo thời giá thực tế
tại địa phơng vào thời điểm tài sản bị mất trộm là bao nhiêu, còn khoảng bao
nhiêu phần trăm Trên cơ sở đó có kết luận cuối cùng về giá trị tài sản bị
xâm phạm.
Trong trờng hợp một ngời thực hiện trộm cắp nhiều lần nhng mỗi lần
có tài sản giá trị dới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và không
thuộc một trong các trờng hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng
thời trong các lần trộm cắp đó cha có lần nào bị xử phạt hành chính và cha hết
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hành chính, nếu tổng giá trị tài sản các lần trộm
cắp từ năm trăm nghìn đồng trở lên thì vẫn xác định là đủ yếu tố cấu thành tội
phạm nếu:
+ Các vụ trộm cắp thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt
thời gian.
+ Việc trộm cắp tài sản có tính chất chuyên nghiệp, lấy tài sản trộm
cắp làm nguồn sống chính.
+ Với mục đích trộm cắp, nhng do điều kiện hoàn cảnh khách quan
nên việc trộm cắp phải đợc thực hiện nhiều lần cho nên giá trị tài sản bị xâm
phạm mỗi lần dới năm trăm nghìn đồng.
Còn thế nào là "gây hậu quả nghiêm trọng"; thì Thông t số 02/2001 đã h-
ớng dẫn cụ thể. Theo đó, "gây hậu quả nghiêm trọng" đợc hiểu là hậu quả phải
do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và
hậu quả). Hậu quả đó có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc hậu
quả phi vật chất (gây ảnh hởng xấu đến việc thực hiện đờng lối của Đảng, chính
sách của Nhà nớc; gây ảnh hởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội).
Dấu hiệu bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt", đ-
ợc hiểu là: "Nếu trớc đó đã bị xử lý bằng một trong các hình thức sau đây về
nó.
Thứ ba, nói về công cụ, phơng tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn
cảnh phạm tội. Công cụ, phơng tiện mà các đối tợng sử dụng để thực hiện
hành vi trộm cắp là kìm cộng lực, vam phá khóa hay chìa khóa vạn năng, dao
lam Thủ đoạn đợc áp dụng ở đây là lợi dụng chủ quản lý tài sản vắng nhà,
lơi lỏng quản lý phá cửa đột nhập lấy tài sản hay xin ngủ nhờ đến đêm khuya
dậy lấy tài sản và tẩu thoát. Lợi dụng sơ hở của chủ nhà, nấp sẵn trong nhà
chờ cơ hội thuận lợi chiếm đoạt tài sản hay lợi dụng chỗ đông ngời để rạch túi,
móc ví v.v Về thời gian, địa điểm, hành vi trộm cắp xảy ra vào ban ngày hay
ban đêm, ở nơi đông ngời nh chợ, cửa hàng, bến tàu, bến xe, bệnh viện khu
dân c hay ở những nơi vắng vẻ ít ngời qua lại Tất cả những điều đó đều là
mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản.
- Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản của công dân
Khoa học luật hình sự chỉ ra rằng, tội phạm là một thể thống nhất của
hai mặt khách quan và chủ quan. Nếu nh mặt khách quan là những biểu hiện
bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của
ngời phạm tội. Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi, mục đích và động cơ
phạm tội. Lỗi là thái độ tâm lý của một ngời đối với hành vi nguy hiểm cho xã
hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, đợc biểu hiện dới hình
thức cố ý hoặc vô ý.
Lý trí và ý chí là hai yếu tố cần thiết tạo thành lỗi. Lý trí thể hiện năng
lực nhận thức thực tại khách quan còn ý chí thể hiện năng lực điều khiển hành
vi trên cơ sở nhận thức. Đây là những yếu tố tâm lý cần thiết của mọi hoạt
động có ý thức của con ngời.
Một hành vi bị coi là có lỗi chỉ khi ngời thực hiện hành vi đó nhận
thức đợc và điều khiển đợc hành vi của mình, đồng thời có khả năng xử sự phù
hợp với lợi ích của xã hội, nhng ngời thực hiện hành vi đã lựa chọn, quyết
định và thực hiện xử sự gây thiệt hại cho xã hội, cho công dân.
Về lý trí, ngời phạm tội trộm cắp tài sản của công dân nhận thức rõ
tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình trên cơ sở nhận biết đối
quy định: "Ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc
bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự".
+ Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Điều 12 BLHS 1999 quy định:
"1. Ngời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm.
2. Ngời từ đủ 14 tuổi trở lên, nhng cha đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng".
Đây là những dấu hiệu pháp lý bắt buộc về chủ thể của tội phạm. Ngoài
những dấu hiệu cơ bản ấy, một số tội phạm đòi hỏi phải có thêm các dấu hiệu
đặc biệt khác và chỉ khi có những dấu hiệu đặc biệt đó, chủ thể mới có thể
thực hiện đợc hành vi khách quan của những tội này. Lý luận khoa học luật
hình sự gọi đó là chủ thể đặc biệt.
Chủ thể của tội trộm cắp tài sản của công dân là chủ thể bình thờng,
nghĩa là bất kỳ ai đủ hai điều kiện của chủ thể nêu trên khi có hành vi trộm
cắp tài sản đều trở thành chủ thể của tội này.
- Hình phạt
Điều 138 BLHS năm 1999, qui định hình phạt có 5 khung, mức cao nhất
chung thân, khung 5 là hình phạt bổ sung. So sánh với hình phạt tại Điều 132
và 155 của BLHS năm 1985 qui định hình phạt có 3 khung, trong đó mức cao
nhất ở Điều 123 là tử hình, mức cao nhất của Điều 155 chỉ đến 20 năm. Từ sự
so sánh trên, ta thấy khoảng cách mức hình phạt tù tối đa và tối thiểu trong
khung hình phạt của BLHS năm 1999 hẹp hơn (8 năm) so với khoảng cách đó
trong khung hình phạt của BLHS năm 1985 (13 năm), khung hình phạt cao
nhất của BLHS năm 1999 thấp hơn (chung thân) so với khung hình phạt cao
nhất của BLHS năm 1985 (tử hình).
Tóm lại, theo tinh thần của Điều 138 BLHS năm 1999, tội phạm trộm
cắp tài sản đợc qui định rõ ràng hơn về giá trị tài sản (định lợng) so với BLHS
Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử
dụng tiết kiệm đất, đợc chuyển quyền sử dụng đất đợc nhà nớc giao theo qui
định của pháp luật." Điều 62 qui định: "Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo
qui hoạch và pháp luật. Quyền lợi của ngời thuê nhà và ngời có nhà cho thuê
đợc bảo hộ theo pháp luật". Đó là những quyền về đất đai và nhà ở của công
dân đã đợc Hiến pháp qui định.
Còn đối với Luật Đất đai tại Điều 52, qui định:
"Đất khu dân c nông thôn là đất đợc xác định chủ yếu để xây dựng nhà
ở và các công trình phục vụ cho sinh hoạt ở nông thôn.
Đất ở của mỗi hộ gia đình nông thôn bao gồm đất để làm nhà ở và các
công trình phục vụ cho đời sống của gia đình".
Tại Điều 55 Luật Đất đai qui định: "Đất đô thị là đất nội thành, nội thị
xã, thị trấn đợc sử dụng để xây dựng nhà ở, trụ sở các cơ quan, tổ chức, các cơ sở
sản xuất, kinh doanh, cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng, an
ninh và vào các mục đích khác". Hay tại Điều 57 Luật Đất đai qui định:
"Nhà nớc có qui hoạch sử dụng đất để xây dựng nhà ở tại đô thị; có
chính sách tạo điều kiện để những ngời sống ở đô thị có chỗ ở.
Những nơi có qui hoạch giao đất làm nhà ở, thì ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ơng quyết định việc giao đất theo qui định của
Chính phủ".
Theo qui định của Hiến pháp và Luật Đất đai của nớc Cộng hòa XHCN
Việt Nam thì nơi ở của công dân đợc qui định ở nông thôn khác với thành phố.
ở nông thôn đất ở thờng rộng hơn ở thành phố, thị xã, thị trấn, ở nông thôn
đất ở thờng có vờn tợc để làm các công trình phụ và tăng gia sản xuất, chứa
đựng các sản phẩm nông nghiệp Còn thành phố, thị xã, thị trấn, diện tích đất
ở thờng hẹp hơn và chủ yếu để xây nhà ở, phục vụ sinh hoạt nghỉ ngơi.
Có thể đa ra khái niệm nơi ở của công dân: Là diện tích đất đợc qui
hoạch xây dựng nhà, làm vờn của cá nhân, hộ gia đình do nhà nớc cấp hoặc
mua để xây dựng nhà ở và diện tích vờn đi cùng với nó.
Nh vậy nơi ở bao gồm: đất để làm nhà, đất vờn đi theo nhà, nằm trên
dân nào chúng thờng phải chuẩn bị công phu.
1.2. Nhận thức về điều tra tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân
1.2.1. Công tác phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của
công dân
- Phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản nơi ở công dân là yêu cầu cấp
thiết khách quan. Trong lý luận tội phạm học cũng nh quan điểm của Đảng,
Nhà nớc ta thể hiện rõ; phòng ngừa tội phạm là phơng hớng chính của cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm. Vận dụng quan điểm đó, trong đấu tranh
phòng chống tội phạm trộm cắp tài sản nơi ở công dân cũng phải luôn chú ý
tới công tác phòng ngừa ngăn chặn vì những lý do sau:
+ Tài sản bị chiếm đoạt tại nơi ở công dân là kết quả lao động của ngời
dân, là nguồn sống, phơng tiện lao động, sinh hoạt do họ lao động mà có đợc
khi bị trộm cắp tài sản đó thì ngời dân bị mất đi nguồn tài sản hợp pháp quý
báu nhất là khi bị trộm cắp thì rất khó tìm lại đợc
+ Thực tế loại tội phạm này xảy ra nhiều, 1.054 vụ chiếm tỷ lệ 58,65%.
+ Thực tế cũng chứng minh khả năng có thể phòng ngừa ngăn chặn các
vụ phạm tội này xảy ra, khi nhà nớc, công dân có ý thức phòng ngừa ngăn chặn.
Vì vậy, chúng ta luôn phải có ý thức và kế hoạch phòng ngừa tội phạm
trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân.
- Nội dung công tác phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở
công dân.
Cũng nh trộm cắp tài sản nói chung, công tác phòng ngừa tội phạm
trộm cắp tại nơi ở của công dân cũng cần đợc cơ quan Công an có các biện
pháp phòng ngừa hữu hiệu. Qua nghiên cứu các vụ án trộm cắp tài sản xảy ra
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thì số vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân
chiếm đa số(1.054/1.797=58,65%). Thiệt hại do chúng gây ra cũng lớn hơn.
Thủ đoạn hết sức tinh vi, phần lớn các vụ đối tợng có sự câu kết với nhau
thành băng ổ nhóm để hoạt động, có sự phân công vai trò của từng tên và có
sự chuẩn bị công cụ phơng tiện để gây án nh: xe, kìm điện, kìm cộng lực đèn
khò, bả chó, dây
công dân, tại Điều 63 BLTTHS năm 2003.
+ Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những
tình tiết khác của hành vi phạm tội;
+ Ai là ngời thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý
hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm
tội.
+ Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
+ Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
- Tuy nhiên, hoạt động điều tra các vụ phạm tội trộm cắp tại nơi ở của
công dân cũng có những khó khăn phức tạp nh:
Thứ nhất, đối tợng gây án: đối với các vụ án trộm cắp tài sản trong
thực tế hiện nay đợc xác định là một loại án khó điều tra không riêng tỉnh Bắc
Giang mà là tình trạng chung của cả nớc, số vụ hàng năm xảy ra nhiều, đối t-
ợng hoạt động tinh vi, hành vi lén lút bí mật, tang vật dễ tẩu tán tiêu thụ. Thủ
đoạn hoạt động tinh vi, thờng cấu kết thành những băng ổ nhóm để hoạt động,
khi tiếp cận địa điểm gây án thờng chúng tăm tia trớc xác định đợc mục tiêu
mới lên kế hoạch gây án và phân công nhiệm vụ cho từng tên (trong các vụ có
sự cấu kết thành ổ nhóm). Do có sự chuẩn bị trớc nên trong quá trình đấu
tranh khai thác điều tra viên cũng gặp rất nhiều khó khăn.
Thứ hai, thời gian gây án: vì tội phạm đột nhập vào nơi ở của công dân
nên thời gian gây án thờng là ban đêm, ít có nhân chứng, hiện trờng thờng hay
bị xáo trộn, khó xác định chính xác thời gian mất, hớng đi đến và hớng rút của
đối tợng cũng khó xác định. Chính vì vậy, quá trình điều tra loại án này hiện
nay CQĐT gặp rất nhiều khó khăn.
Thứ ba, địa bàn gây án: tội phạm thờng tập trung vào những nhà giàu,
những gia đình có nhiều sơ hở trong khâu bảo vệ tài sản, song không nhất thiết ở
một địa bàn nào đó nh cũng trộm cắp tài sản công dân địa bàn hoạt động có
thể xác định đợc ngay nh: trộm cắp ở địa bàn bến xe, chợ, nhà ga còn trộm cắp
tài sản tại nơi ở của công dân rất khó xác định đâu là địa bàn trọng điểm tội
Trộm cắp tài sản nói chung và trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân
nói riêng là một trong những tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt, có khả năng gây thiệt hại lớn cho sở hữu của công
dân. Thời gian qua, tội phạm này diễn biến rất phức tạp và có xu hớng gia tăng
cả số vụ và số đối tợng. Để nâng cao hiệu quả phát hiện, điều tra, khám phá
tội phạm này cũng nh tìm ra những yếu tố chi phối kết quả điều tra, tác giả
của luận văn đã luận giải những vấn đề lý luận liên quan đến những nội dung
của luận văn.
Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã làm rõ đợc khái
niệm tội trộm cắp tài sản; đã phân tích các yếu tố cụ thể cấu thành tội trộm
cắp tài sản của công dân đợc quy định trong Điều 138 BLHS năm 1999 và
khái niệm nơi ở của công dân.
Luận văn cũng đã tìm hiểu các quan điểm khác nhau về việc phân chia
các giai đoạn điều tra. Từ đó đã phân tích các luận cứ xác định các giai đoạn
điều tra và đi sâu nghiên cứu giai đoạn điều tra nhằm xác định tội phạm và ng-
ời thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của công dân, xác định rõ
nhiệm vụ của giai đoạn điều tra này. Trên cơ sở đó, luận văn đã đi sâu phân
tích các tình huống điều tra tiêu biểu và chỉ dẫn cách lập kế hoạch điều tra với
hàng loạt các giả thuyết điều tra cho phù hợp với các tình huống đã nêu.
Đó là những vấn đề có ý nghĩa lý luận góp phần nâng cao hiểu biết và
nâng cao chất lợng công tác điều tra các vụ án trộm cắp tài sản của công dân
trong tình hình hiện nay.