MỤC LỤC
Tran
g
3
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ
THỊ HÓA ĐẾN LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1
1.2
Những vấn đề chung về đô thị hóa, lao động và việc làm.
Tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động và việc làm
trên địa bàn Quận Hà Đông
11
11
22
Chương 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN LAO
ĐỘNG, VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1
2.2
Quận Hà Đông và lao động việc làm trên địa bàn Quận hiện nay
Thực trạng tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động và
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
71
86
88
93
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đô thị hóa là quá trình tất yếu đối với các quốc gia chậm phát triển khi
bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường
và hội nhập. Đô thị hóa có tác động tích cực, sâu sắc tới mọi mặt đời sống
kinh tế - xã hội nói chung, tới khu vực nông thôn nói riêng. Bên cạnh những
tác động tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh những vấn đề mới liên
quan chặt chẽ với khu vực nông nghiệp, nông thôn, trực tiếp là vấn đề lao
động, việc làm và an ninh xã hội cần được nhận thức và giải quyết do quy mô
của sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, lao động nông nghiệp và nông thôn vốn
đã luôn thiếu việc làm, nay càng khó khăn hơn về việc làm trong tiến trình
CNH, HĐH đất nước. Nếu không có một chiến lược giải pháp cụ thể, sẽ nảy
sinh tiếp những vấn đề xã hội phức tạp.
Hà Đông là một quận của thành phố Hà Nội từ tỉnh Hà Tây được sáp
nhập vào Thủ đô. Là một quận lớn, với diện tích gần 5.000 ha, Hà Đông là địa
bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh. Về hình thức, cấp quận đơn vị hành chính nội
thành, nhưng Hà Đông vẫn chưa thoát khỏi những dấu ấn của kinh tế ngoại
thành Hà Nội.
Trong khoảng năm năm gần đây, trên địa bàn Quận Hà Đông đã có
nhiều khu đô thị mới, các chung cư và khu nhà ở mới được triển khai xây
yếu hội thảo Hậu GPMB, Hà Nội, 2009.
Tác giả nghiên cứu một số mô hình CNH- HĐH nông nghiệp trên thế
giới và Trung Quốc tại khu vực sông Châu Giang. Chỉ ra rằng thế giới đi theo
con đường hình thành các siêu thị đô thị và tạo nên sự đối lập nông thôn thành thị. Còn Trung Quốc thì theo con đường khác, đó là phi tập trung hóa
và phát triển các khu cụm công nghiệp vừa và nhỏ xen lẫn trong nông thôn,
tạo nên sự hài hoà giữa hai khu vực nông thôn và thành thị. Từ đây, đề xuất
mô hình CNH- HĐH nông thôn Hà Nội nên đi theo hướng phi tập trung để
hạn chế lấy đất nông nghiệp và giảm thiểu mâu thuẫn giữa hai khu vực, gắn
4
kết giữa hai quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa với phát triển bền vững
nông nghiệp, nông thôn. Theo tác giả, Hà Nội dựa vào thế mạnh các làng
nghề và truyền thống thâm canh lâu đời, với các sản phẩm và ngành nghề
độc đáo, có thể đi theo hướng phát triển các khu cụm hay vành đai làng nghề
- du lịch sinh thái gắn với thâm canh nông nghiệp công nghệ cao.
- “Việc làm của nông dân sau khi thu hồi đất”, Nguyễn Văn Nam, Kỷ
yếu Hội thảo đề tài Hậu GPMB, Hà Nội, 2009.
Tác giả phân tích các bức xúc về giải quyết lao động việc làm cho
người nông dân ven đô bị mất nông nghiệp. Chỉ ra rằng, công nghiệp hóa và
đô thị hóa chỉ thành công khi chuyển đổi được người nông dân thành một
công dân đô thị, giúp cho họ tránh được các “cú sốc” để hội nhập vào đời
sống đô thị và văn minh thị trường - công nghiệp. Một trong những khả năng
này là tạo cho họ quỹ đất dịch vụ và giúp cho người dân có tổ chức kinh tế
độc lập của mình. Ví dụ, như các hợp tác xã mua bán hay kinh doanh ngành
nghề dịch vụ nhằm đáp ứng cho chính ngay các nhu cầu dân sinh thiết yếu
vùng đô thị hóa. Đây cũng chính là giải pháp cải thiện chất lượng sống và
chất lượng đô thị hóa.
- “Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc
làm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, do PGS.TS
đề bức xúc về ô nhiễm môi trường, xuống cấp về văn hóa, lối sống và phát
triển bền vững nông thôn nước ta; vấn đề phát triển các KCN - KCX, phát
triển làng nghề, CNH - HĐH nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; một số
nghiên cứu các thay đổi trong nông thôn tại một số địa phương điển hình như
Hà Nội, Thanh Hóa, Thái Bình...., các kinh nghiệm và bài học của quốc tế, có
Trung Quốc và phát triển nông nghiệp, nông thôn...
- “Đô thị hóa và lao động việc làm ở Hà Nội”, Hoàng Văn Hoa, Nxb
Lao động Xã hội, Hà Nội, (2007)
Tác giả nêu lên các khái niệm và lý thuyết về ĐTH, lao động việc làm.
Đánh giá tình hình đô thị hóa nhanh ở Hà Nội thời gian qua, cho thấy bức tranh
6
có cả mặt tích cực và tiêu cực. Theo kết quả điều tra, chiếm tỷ lệ lớn người dân
bị thu hồi đất không được học nghề và chuyển đổi nghề; trong số được học nghề
thì tỷ lệ người tìm được việc làm cũng rất thấp. Nguyên nhân là, giữa đào tạo
nghề trong nhà trường và thực tế nhu cầu công việc không ăn khớp; không có sự
gắn kết, chia sẻ trách nhiệm giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Có tình hình
đào tạo ra không bố trí được việc làm; trong khi doanh nghiệp lại thiếu hụt trầm
trọng nguồn nhân lực, thậm chí là thiếu cả lao động phổ thông.
- “Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình ĐTH trên
địa bàn thành phố Hà Nội”, Nguyễn Tiệp, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội,
2005.
Các tác giả nghiên cứu các khái niệm và lý thuyết về nguồn nhân lực
nói chung, nguồn nhân lực nông thôn, nguồn nhân lực nông thôn cho CNHHĐH. Đánh giá tình hình nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành Hà Nội, cho
thấy tình trạng yếu kém, nhất là về chất lượng, Hà Nội đang thiếu nhân lực
chất lượng cao phục vụ cho CNH- HĐH. Từ đây, các tác giả đề xuất các
phương án đào tạo nghề cho những địa bàn ngoại thành khác nhau, để phù
hợp với hoàn cảnh, yêu cầu và khả năng của các địa phương.
- “Đô thị hóa ở Việt Nam - từ góc nhìn nông nghiệp, nông thôn, nông
đến lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông; trên cơ sở đó đề xuất
quan điểm và giải pháp nhằm phát huy những tác động tích cực, hạn chế
những tác động tiêu cực đối với lao động và việc làm tại Quận Hà Đông thời
gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lý luận về tác động của quá trình đô thị hóa tới lao
động và việc làm.
- Đánh giá thực trạng tác động của quá trình đô thị hóa đến lao động
và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông, chỉ rõ nguyên nhân của những tác
động đó.
- Đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát
huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến
8
lao động và việc làm trên địa bàn Quận Hà Đông thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Tác động của quá trình đô thị hóa đến lao
động và việc làm.
* Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nghiên cứu về nội dung, luận văn nghiên cứu tác động của
quá trình đô thị hóa tới lao động, việc làm theo hai chiều hướng tích cực và
tiêu cực.
+ Phạm vi nghiên cứu về không gian: địa bàn quận Hà Đông.
+ Phạm vi nghiên cứu về không gian: từ năm 2008 (từ khi Hà Đông
được sát nhập vào Hà Nội) đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài luận văn được tiến hành trên cơ sở sử dụng phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu về tác
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN
LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Những vấn đề chung về đô thị hóa, lao động và việc làm
1.1.1. Đô thị hóa, đặc trưng và vai trò của đô thị trong quá trình phát
triển kinh tế, xã hội
Đô thị là một không gian kinh tế - xã hội phức tạp, có nhiều đặc trưng
phong phú, vì vậy có thể tiếp cận nghiên cứu về đô thị theo nhiều góc độ khác
nhau. Để có quan niệm đúng và đầy đủ đối với vấn đề đô thị hóa, cũng như
những tác động của đô thị đối với lao động, việc làm, cần bắt đầu từ quan
niệm về đô thị.
* Đô thị.
Trong từ điển Tiếng Việt, đô thị được quan niệm là nơi dân cư đông
đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, thành phố hoặc thị
trấn [44, tr. 322]. Còn theo từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị là một không
gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu
vực kinh tế phi nông nghiệp [43, tr. 836]. Trong văn bản quản lý Nhà nước
của các cơ quan của Chính phủ về đô thị, đô thị được xác định là điểm tập
trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thích
hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, hoặc của một vùng.
Tuy nhiên, dù tiếp cận từ khía cạnh nào thì đô thị cũng là sự biểu hiện
tập trung ở những đặc trưng về kinh tế xã hội sau đây:
Thứ nhất, sự xuất hiện của đô thị và xu hướng gia tăng của nó (đô thị
hóa) là vấn đề có tính toàn cầu, sự gia tăng của đô thị làm nảy sinh và tập
trung nhiều vấn đề kinh tế xã hội mới. Nói đô thị hóa là vấn đề có tính toàn cầu
11
xã hội. Nói đến điều này đồng nghĩa với việc nói đến tác động tích cực từ quá
trình đô thị hóa đem lại cho đời sống KT-XH. Theo đó có thể dẫn ra các vấn
đề sau:
+ Một là: đô thị đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương
mại, văn hóa của xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả
về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hóa.
+ Hai là: đô thị có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tối ưu hóa việc sử
dụng năng lượng, con người và máy móc, tạo ra thị trường linh hoạt có năng
suất lao động cao; tạo điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và phân bố
nguồn nhân lực giữa không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn.
+ Ba là: đô thị giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng
đồng nông thôn đi trên con đường tiến bộ và văn minh.
Như vậy, đô thị có vai trò hết sức quan trọng, thúc đẩy sự phát triển KT XH của cả nước, của một vùng lãnh thổ hay một địa bàn của một địa phương.
Do có vai trò quan trọng như vậy nên các quốc gia trên con đường phát
triển của mình, đặc biệt là trong thời kỳ tiến hành công nghiệp hóa đất nước
đều có những việc làm vừa thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa vừa thúc đẩy
sự ra đời của hệ thống các đô thị, tình hình đó làm xuất hiện một quá trình
biến đổi kinh tế xã hội mang tính xu hướng, đó là quá trình đô thị hóa.
* Đô thị hóa:
Đô thị hóa là quá trình gia tăng của đô thị về mặt dân cư, mở rộng về
quy mô các thành phố, thị xã và lan tỏa phương thức sản xuất, văn hóa, lối sống
đô thị về khu vực nông thôn, tạo ra những biến đổi về các mặt kinh tế, văn hóa
xã hội và thu hẹp không gian sống của cư dân nông thôn. Đồng thời đó là quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản
xuất phi nông nghiệp tăng. Theo nghĩa rộng, bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại,
không gian đô thị mở rộng, đô thị hóa còn có thể được quan niệm là quá trình
13
hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số; đồng thời với đó là sự
biến đổi một bộ phận không gian vốn trước đây là nông thôn nay trở thành đô
thị. Quan niệm này cũng phản ánh thực tế quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện
nay.
Các nhân tố ảnh hưởng đến đặc điểm của quá trình đô thị hóa:
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa, song chủ yếu vẫn
là các nhân tố sau:
Thứ nhất, điều kiện tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên là tổng hợp của tất cả yếu tố vị trí địa lý, tài nguyên
thiên nhiên, khí hậu, sông ngòi, thủy văn, địa chất. Thời kỳ kinh tế chưa phát
triển, đô thị hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Những vùng có
khí hậu thời tiết tốt, có nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi
thế khác nhau sẽ thu hút dân cư mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hóa sớm
hơn, quy mô lớn hơn. Ngược lại những vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn,
quy mô nhỏ hơn.
Thứ hai, điều kiện xã hội.
Mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị tương ứng và do đó,
quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó. Sự phát triển của lực lượng
sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là tiền đề cho đô thị
hóa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản
của nền kinh tế sẽ tạo ra quá trình đô thị hóa nông thôn và các vùng ven biển.
Mỗi chế độ xã hội đều tạo điều kiện thuận lợi hay không thuận lợi cho
quá trình đô thị hóa và quy định những đặc trưng riêng của nó. Nước ta phát
triển theo định hướng XHCN, do đó đô thị hóa không chỉ là mục tiêu mà còn
là phương tiện để phát triển KT-XH phục vụ “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”.
Thứ ba, trình độ phát triển kinh tế.
Trình độ phát triển kinh tế là nhân tố giữ vai trò quyết định trong quá
15
Trong tác phẩm "Tư bản", C.Mác coi lao động là hành động biểu hiện
trực tiếp quan hệ giữa con người với tự nhiên, nhằm tạo ra sản phẩm nuôi
chính con người. Lao động là hành động xã hội, hành động cải tạo thế giới
của con người, thông qua lao động con người cũng cải tạo chính mình. Lao
động "là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính
16
mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên" [
23, tr. 266]
Khi coi lao động là hành động xã hội, C.Mác cũng đã chỉ ra các yếu tố cơ bản tạo nên cấu trúc của lao động
là: đối tượng lao động, tư liệu lao động và chủ thể lao động người lao động. Con người sử dụng những tư liệu lao động
tác động vào đối tượng lao động nhằm mục đích tạo ra của cải vật chất để nuôi sống con người. Như vậy, chủ thể lao
động là con người với tất cả đặc điểm tâm sinh lý, xã hội được hình thành và phát triển trong quá trình xã hội hóa cá
nhân. Và để tiến hành lao động sản xuất họ phải có những tư liệu sản xuất nhất định (là sự hợp thành của đối tượng lao
động và tư liệu lao động, chúng có thể là đất đai, nhà máy, hầm mỏ, máy móc...)
Lao động - vấn đề được bàn luận trong luận văn này được tiếp cận từ
góc độ là những chủ thể lao động, hay đó là những sức lao động - điều đã
được C.Mác bàn kỹ lưỡng trong tác phẩm "Tư bản". Ở cấp độ tổng thể đó là
lực lượng lao động, không tiếp cận từ góc độ là quá trình con người tác động
vào giới tự nhiên thông qua công cụ lao động với tính cách là hoạt động quan
trọng nhất của con người, nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần
của xã hội.
Lực lượng lao động theo nghĩa rộng là nguồn lực của một quốc gia,
một vùng lãnh thổ, là một bộ phận nguồn lực có thể huy động được để tham
gia vào quá trình phát triển đất nước.
Theo nghĩa hẹp, lực lượng lao động là bộ phận của dân số trong độ tuổi
Trong điều kiện ngày nay (nền kinh tế thị trường, hội nhập với nền
kinh tế khu vực và thế giới, nền kinh tế tri thức,...) việc không ngừng nâng
cao chất lượng lực lượng lao động có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, số lượng
lao động đông đảo không còn chiếm ưu thế, nhất là với lao động có chất
lượng thấp. Song song với vấn đề chất lượng lực lượng lao động, ở nước ta
hiện nay, trong điều kiện đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH và tốc độ đô thị
hóa đang diễn ra nhanh chóng, vấn đề toàn dụng lao động lại luôn là vấn đề
thời sự và được Đảng và Nhà nước ta dành cho sự quan tâm sâu sắc, đặc biệt
là lao động nông nghiệp dôi ra trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và quá
trình đô thị hóa.
Điểm đáng lưu ý của lao động nông nghiệp là mọi hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực
nông nghiệp đều gắn liền với đối tượng cây trồng, vật nuôi - là những cơ thể sống với những đặc điểm riêng biệt, không
thể xóa bỏ, làm cho lao động nông nghiệp mang sắc thái riêng, không giống với lao động trong một số ngành kinh tế
khác. Đặc biệt là tính chất thời vụ của lao động nông nghiệp, làm cho lao động nông nghiệp lúc thì căng thẳng, lúc lại
nhàn rỗi; tình trạng thiếu việc làm tạm thời là khá phổ biến.
18
Lao động vấn đề đang được bàn luận ở đây được đặt trong mối quan hệ
trực tiếp và gắn bó chặt chẽ với qúa trình đô thị hóa (sự mở rộng không gian
kinh tế - xã hội của đô thị dẫn tới sự thu hẹp tương ứng không gian kinh tế xã hội khu vực nông thôn), xem xét nó trong sự tác động của quá trình đô thị
hóa sẽ tạo ra những vấn đề kinh tế xã hội gì cần giải quyết để toàn dụng lực
lượng lao động đó trên các địa bàn mà khi đô thị "bành trướng" ra và lực
lượng lao động vốn trước đây thuộc khu vực nông thôn nay phải chịu những
tác động từ quá trình "bành trướng" đó của đô thị.
*Quan niệm chung về việc làm:
Việc làm là khái niệm thể hiện sự tổng hợp các yếu tố của quá trình
phát triển kinh tế - xã hội, nhân khẩu, chất lượng lao động … Việc làm là một
trong những chỉ tiêu quan trọng của đời sống xã hội, do vậy đã có nhiều nhà
Tuy nhiên, con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi
cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động của sản xuất xã
hội. Do đó, bên cạnh ý nghĩa là vấn đề cá nhân là tăng thêm thu nhập cho cá
nhân, người thân, gia đình và cộng đồng mà việc làm còn là vấn đề của cộng
đồng của xã hội. Điều này đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp nhất
định phù hợp từ phía Nhà nước nhằm tăng số lượng việc làm và chất lượng việc
làm, đảm bảo đời sống dân cư, kiềm chế nạn thất nghiệp và thông qua đó để giải
quyết các vấn đề xã hội khác trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, ở đâu có lợi nhuận, các doanh nghiệp sẽ
tăng cường sử dụng lao động, tăng sản lượng, khối lượng việc làm sẽ tăng lên.
Mặt khác khi nhu cầu thị trường suy giảm, các doanh nghiệp sẽ cắt giảm sản
lượng, khối lượng việc làm sẽ giảm.
Trong xu thế CNH, HĐH nền kinh tế, khoa học công nghệ phát triển
mạnh mẽ, được ứng dụng nhanh chóng vào sản xuất và tất cả các lĩnh vực
khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội đã làm cho khối lượng công việc có
yêu cầu về mặt kỹ thuật cao tăng nhanh chóng.
20
Mặt khác, năng suất lao động tăng đã làm ảnh hưởng rất lớn tới "cầu"
lao động và "cơ cấu" lao động. Nếu người lao động không tự nâng cao tay
nghề, nâng cao trình độ của mình để theo kịp với yêu cầu của sản xuất kinh
doanh; phân công lao động xã hội không phát triển, không tạo ra được nhiều
chỗ làm mới cho người lao động thì tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm là
điều khó tránh khỏi.
Trong nông nghiệp, lao động mang tính thời vụ, do vậy thời kỳ căng
thẳng, khối lượng công việc nhiều tăng đột biến. Tuy nhiên, lúc nhàn rỗi
khối lượng công việc giảm đột ngột, thậm chí có lúc người nông dân không
có việc làm. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay dân số ở khu vực nông thôn
phê duyệt và khởi công. Một lọat các dự án có quy mô lớn như: Dự án khu đô
thị Văn Quán - Yên Phúc, khu đô thị Mỗ Lao, Văn Khê, khu trung tâm hành
chính mới, khu đô thị Văn Phú, trục đô thị phía bắc và khu đô thị Dương Nội,
trục đô thị phía nam và khu đô thị Thanh Hà đồng loạt được khởi công... trên
địa bàn Quận 16 khu đô thị mới và 64 khu nhà ở, chung cư được triển khai
xây dựng. Quận cũng tập trung đầu tư xây dựng nhiều công trình phục vụ dân
sinh, phúc lợi xã hội tại các phường, nhất là bảy phường mới thành lập. Nhiều
chợ, trung tâm thương mại trên địa bàn Quận được đầu tư xây dựng lại khang
trang, đáp ứng nhu cầu kinh doanh và mua sắm của nhân dân. Cùng với đó là
hệ thống giao thông phục vụ cho quá trình đô thị hóa và nội quận cũ đều được
đưa vào kế hoạch và triển khai.
Tốc độ đô thị hóa quá nhanh - "nóng" đã làm cho quá trình đô thị hóa ở
quận Hà Đông có nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh. Theo đó các vấn đề như
công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị đứng trước hàng loạt vấn đề phải
cùng đồng thời giải quyết; Vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị dẫn đến
mật độ dân số ở thành thị tăng cao, gây mất cân đối giữa thành thị và nông
thôn, đồng thời đặt ra những vấn đề nan giải về giải quyết công ăn việc làm,
thất nghiệp tại chỗ, nhà ở và tệ nạn xã hội làm cho trật tự xã hội ngày càng
thêm phức tạp. ...
Do sự chuyển biến mạnh mẽ mang tính khách quan theo hướng "làng
lên phố” nên hầu hết các hộ dân và các hợp tác xã nông nghiệp và làng nghề
22
đều gặp khó khăn trước “cơn lốc” đô thị hóa. Hàng loạt vấn đề mới phát sinh
trước xu hướng vận động "làng trở thành phố" đặt ra cho chính quyền Quận
Hà Đông, từ các vấn đề kinh tế, giáo dục, xã hội, an ninh trật tự đến xây dựng
nếp sống văn hóa đô thị... đòi hỏi được giải quyết đồng thời nhằm hạn chế
những hành vi xấu gây mất ổn định xã hội, để quá trình đô thị hóa song hành
với xây dựng xã hội đô thị ổn định, bền vững.
bến xe, nơi công cộng... Tổ chức tháo dỡ mái che, mái vẩy, xóa bỏ quảng cáo,
rao vặt làm mất mỹ quan đô thị; Dẹp bỏ họp chợ, kinh doanh buôn bán, để vật
liệu xây dựng, rửa xe, trông, gửi xe ô tô, xe máy trên hè, đường không đúng
quy định.
Cùng với đó, Quận đã triển khai Chương trình 04-CTr/QU của Quận ủy
và Kế hoạch số 46/KH-UBND của UBND quận về “Tăng cường công tác quản
lý đô thị”; chỉ đạo thực hiện các Quyết định 20/QĐ-UBND và 46/QĐ-UBND
của UBND thành phố Hà Nội, Kế hoạch số 63/KH-UBND của UBND quận về
tăng cường công tác quản lý bán hàng rong, quản lý lòng đường, vỉa hè; thực
hiện phong trào “Gọn nhà, sạch phố, đẹp Thủ đô”. Xây dựng và triển khai kế
hoạch thực hiện quy chế dân chủ trong công tác quản lý trật tự xây dựng trên
địa bàn quận. Chỉ đạo nâng cao chất lượng quy hoạch, quản lý quy hoạch, thẩm
định các công trình xây dựng cơ bản tuân thủ quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội Thủ đô và quận theo định hướng chỉ đạo của Thành uỷ tại
Chương trình số 06-CTr/TU ngày 08/11/2011 và Kế hoạch số 37-KH/QU ngày
01/02/2012 của Quận uỷ về "Đẩy mạnh công tác quy hoạch, xây dựng và quản
lý đô thị giai đoạn 2011 - 2015". Tuy nhiên, cũng như công tác quản lý trật tự
xây dựng đô thị, vấn đề quản lý văn minh đô thị, quản lý đô thị vẫn còn là vấn
đề phải giải quyết theo hướng liên tục và quyết liệt.
Ba là: quá trình đô thị hóa làm nảy sinh những khó khăn và phức tạp
về công tác quản lý đất đai,
24
Vấn đề đất đai và quản lý đất đai trong quá trình đô thị hóa là vấn đề
mang tính quy luật chung, mà các quốc gia đi trước nước ta đã phải dối diện.
Với Quận Hà Đông cũng không phải là ngoại lệ. Nhận thức rõ vấn đề này,
Quận ủy Hà Đông đã triển khai Chương trình 09-CTr/QU, ngày 21/4/2009 về
"Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong quản lý, sử dụng đất đai trên