Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk - Pdf 58

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài......................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................... 4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu............................................................. 5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn............................................................. 5
7. Kết cấu của luận văn.............................................................................................. 5
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC............................................................................................................... 7
1.1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách công........................................................ 7
1.2. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục................................ 14
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển giáo dục.................25
Tiểu kết chương 1.................................................................................................. 27
Chương 2.THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK......................28
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hệ thống giáo dục trên địa bàn
thành phố Buôn Ma thuột, tỉnh Đắk Lắk................................................................. 28
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk................................................................................. 29
2.3. Đánh giá thực hiện chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn thành phố Buôn
Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.......................................................................................... 49
Tiểu kết chương 2.................................................................................................. 53
Chương 3. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO
DỤC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
...................................................................................................................................55
3.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về phát triển GD &ĐT......................55




UBND

Ủy ban nhân dân

GD & ĐT

Giáo dục và đào tạo

MN

Mầm non

TH

Tiểu học

THCS

Trung học cơ sở

SL

Số lượng

TL

Tỷ lệ

TS


Số trường đạt chuẩn quốc gia

44

Bảng 2.5

Trẻ em DTTS ra lớp của trường công lập và tư thục

48

Kết quả học sinh tham gia kỳ thi học sinh giỏi văn
Bảng 2.6

hóa từ năm 2013 - 2018

52


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào muốn tồn tại và phát triển đều phải quan
tâm đầu tư phát triển giáo dục. Điều này được minh chứng bằng việc đã có nhiều
quốc gia chú trọng đầu tư cho giáo dục và mang lại những hiệu quả trong tiến trình
phát triển của quốc gia dân tộc mình như Nhật Bản coi “Giáo dục đào tạo là quốc
sách hàng đầu; cần kết hợp hài hòa giữa bản sắc văn hóa lâu đời phương Đông với
những tri thức Phương Tây hiện đại”; trong khi đó, Singapore đưa ra phương châm
“Thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế”; ở
Mỹ thì chú trọng “Tập trung cho đầu tư giáo dục - đào tạo và thu hút nhân tài”; và
Liên Xô trước đây đã khẳng định “Chính sách về con người là điểm bắt đầu và là

được nâng lên, đội ngũ giáo viên ngày càng đảm bảo đạt chuẩn và trên chuẩn… Bên
cạnh những thành tựu đạt được nêu trên, giáo dục của thành phố vẫn còn có những
hạn chế nhất định như tình trạng học sinh bỏ học, cơ sở vật chất, trang thiết bị đầu
tư cho dạy và học còn hạn chế, thiếu đồng bộ ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học
ở một số trường. Việc quản lý đội ngũ giáo viên trong các nhà trường vẫn còn hạn
chế, chất lượng, đạo đức của giáo viên đôi khi còn có những biểu hiện sai lệch
chuẩn mực nhà giáo… Đứng trước thực tế về giáo dục đang đặt ra tại thành phố
Buôn Ma Thuột, tác giả chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển giáo dục trên
địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục dưới
các góc độ: đề tài khoa học; giáo trình; bài báo; bài tạp chí... Có thể khái quát dưới
các góc độ tiếp cận như:
2.1. Tiếp cận dưới góc độ lý thuyết chính sách công
Hồ Văn Thông (Chủ biên, 1999), Tìm hiểu về khoa học chính sách công,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống các
vấn đề về chính sách công dưới góc độ lý thuyết. Tác giả đề cập đến một số nội
dung: khái niệm về chính sách công, khoa học chính sách công; phân tích chính


sách công trong thực tế; khuynh hướng phát triển cơ bản của chính sách công.
Nguyễn Đăng Thành (Chủ nhiệm đề tài, 2004), Chính sách công: Cơ sở lý
luận, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Đề tài
nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách công như: lý thuyết chính sách
công; các công cụ nghiên cứu chính sách công; các cách tiếp cận khi nghiên cứu
chính sách công.
Chu Văn Thành (Chủ biên, 2004) Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công,
một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách tập
hợp các bài viết về dịch vụ công, trong đó có bàn về giáo dục với tư cách là dịch vụ

xem xét một cách tương đối toàn diện tính hợp lý của chiến lược thị trường hóa nền
giáo dục Việt Nam, phân tích và rút ra những vấn đề hữu ích cho giáo dục Việt
Nam như mục tiêu của giáo dục và trách nhiệm xã hội; giáo dục và vấn đề ngân
sách nhà nước; kế hoạch cho hệ thống giáo dục.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quá trình thực hiện
chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk
Lắk. Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả chính sách
phát triển giáo dục trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột đáp ứng yêu cầu phát
triển trong tình hình mới.
3.2. Nhiệm vụ
Nghiên cứu thực hiện chính sách phát triển giáo dục từ góc độ lý luận.
Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển giáo dục trên
địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2018.
Đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả chính sách phát triển
giáo dục trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về quy trình thực hiện chính sách giáo dục và
kết quả thực hiện chính sách giáo dục trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2018
Nội dung: Thực hiện chính sách phát triển giáo dục trên (Trình độ đội ngũ
cán bộ quản lý, cán bộ, giáo viên, nhân viên, cơ sở vật chất, chất lượng học sinh tại
các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở)
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
1.1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách công

1.1.1. Một số khái niệm
Chính sách: “Chính sách” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến, tuy
nhiên đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về định nghĩa chính sách. Từ điển tiếng
Anh (Oxford English Dictionary) định nghĩa, “chính sách” là một đường lối hành
động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách…
Với cách giải thích này, chính sách không chỉ là một quyết định mà nó còn là một
đường lối, một phương hướng hành động. David Easton (năm 1953), định nghĩa
chính sách… bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động phân phối của
các giá trị. Theo Hugh Heclo (năm 1972) cho rằng, một chính sách có thể được xem
như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định
hoặc các hành động cụ thể. Smith (năm 1976) định nghĩa chính sách bao hàm… sự
lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của
những lực lượng có quan hệ với nhau. Ông nhấn mạnh “không hành động” cũng
như “hành động” và nhắc nhở mọi người rằng “sự quan tâm sẽ không chỉ tập trung
vào các quyết định tạo ra sự thay đổi, mà còn phải thận trọng với những quyết định
chống lại sự thay đổi và khó quan sát bởi vì chúng không được tuyên bố trong quá
trình hoạch định chính sách”[53]. Theo từ điển tiếng Việt, “Chính sách là chiến
lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào một đường lối
chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”[42, tr.157]. Từ điển Bách khoa Việt
Nam định nghĩa “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối,
nhiệm vụ”. [40, tr.475]
Chính sách công: Theo Thomas Dye (năm 1972) định nghĩa “chính sách
công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”[54]. Ông William
Jenkins (năm 1978) định nghĩa “Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên
quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị



phát triển, kiểm soát, phân bổ các nguồn lực trong xã hội, tạo môi trường thích hợp
cho các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển, từ đó thúc đẩy sự phối hợp hoạt động
giữa các cấp, các ngành liên quan. [35].
Thực hiện chính sách công: là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn
thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục, chương trình, … và thực hiện chúng
nhằm hiện thực hóa mục tiêu của chính sách được ban hành. Thực hiện chính sách
công là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể ban hành chính sách thành hiện thực
với các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu nhất định mà chủ thể đặt ra.
1.1.2. Quy trình chính sách công
Quy trình thực hiện chính sách công được được hiểu là một chuỗi các giai
đoạn kế tiếp liên quan với nhau từ khi vấn đề công được đưa vào chương trình nghị
sự của nhà nước đến khi đánh giá được kết quả của chính sách đó. Quy trình chính
sách có tính liên tục và tính biến động. Tính liên tục thể hiện, mỗi chính sách khi ra
đời là sự tiếp nối những chính sách đã có từ trước, chính sách mới ban hành có thể
có kế thừa những mặt tích cực và cũng có thể có sự khắc phục những mặt hạn chế
của chính sách trước đó. Tính biến động của chính sách thể hiện, khi chính sách
được tạo ra sẽ chịu sự tác động của nhiều yếu tố có thể từ chủ thể, từ môi trường…
Các chính sách thường có giá trị pháp lý không giống nhau nhưng không có bất kỳ
chính sách nào là tồn tại bất biến. Khi tiếp cận chính sách theo quan điểm quy trình,
ta thấy hoạt động quản lý Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành các
chính sách công một cách thường xuyên, việc ra đời của các chính sách là sự nối
tiếp nhau giữa các chính sách và trong quá trình đó chính sách công luôn được hoàn
thiện, bổ sung. Quy trình chính sách công bao gồm ba giai đoạn:
Một là, giai đoạn hoạch định chính sách là hình thành phương án chính sách,
đưa ra quyết nghị chính sách. Để thực hiện giai đoạn này, đòi hỏi các nhà hoạch
định chính sách cần có tầm nhìn dài hạn, tiến hành các hoạt động phân tích thực
trạng để xác định vấn đề chính sách, đưa vấn đề đó vào chương trình nghị sự để giải
quyết bằng việc ban hành chính sách. Hoạt động xác định vấn đề chính sách không
chỉ do cơ quan nhà nước thực hiện mà có sự tham gia của cả xã hội, nhất là vai trò



1.1.3. Tổ chức thực hiện chính sách công
Tổ chức thực hiện chính sách công có vai trò to lớn trong quy trình thực hiện
chính sách công, thể hiện:
Thứ nhất, thực hiện chính sách công là giai đoạn biến ý chí, thái độ ứng xử
của nhà nước với các đối tượng quản lý thành hiện thực, hay nói cách khác đây là
quá trình đưa ý đồ của nhà nước vào thực hiện trong đời sống xã hội.
Thứ hai, Thực hiện chính công là việc từng bước hiện thực hóa mục tiêu của
chính sách công. Thực hiện chính sách công bao gồm các hoạt động có tổ chức do
chủ thể thực hiện nhằm hướng tới đạt được các mục đích và mục tiêu được chủ thể
tuyên bố trong chính sách. Trong quá trình thực hiện chính sách, các cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền tiến hành thiết lập các quy định, chương trình, dự án và các thủ
tục liên quan để hiện thực hóa mục đích, mục tiêu của chính sách cũng như tiến
hành các hoạt động để thực hiện các quy định, chương trình, dự án, thủ tục đã đề ra.
Thứ ba, Thực hiện chính sách là khâu kiểm định tính đúng đắn của chính
sách đã ban hành. Trên thực tế, khi một chính sách được ban hành để triển khai thực
hiện trong thực tiễn phải đảm bảo các tiêu chuẩn của một chính sách tốt và được
chủ thể ban hành thừa nhận. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện chính sách vào
trong đời sống xã hội sẽ có những vấn đề đặt ra đôi khi chủ thể ban hành chính sách
không thể dự đoán trước. Chính vì vậy, thực hiện chính sách là khâu cung cấp
những bằng chứng thực tiễn về việc kết quả thực hiện của các chính sách đó có đạt
được mục đích, mục tiêu chính sách ban hành hay không, các giải pháp đề ra trong
chính sách đưa vào áp dụng có thực sự phù hợp với vấn đề mà chính sách hướng tới
giải quyết hay không. Tính đúng đắn của chính sách công được đánh giá thông qua
xã hội và đối tượng thụ hưởng khẳng định.
Thứ tư, Thực hiện chính sách công là khâu giúp chính sách công ngày càng
hoàn thiện hơn. Bởi vì, chính sách công ban hành lần đầu là sự định hướng về mục
tiêu, giải pháp để giải quyết các vấn đề công. Trên cơ sở của chính sách lần đầu, các
cơ quan hành chính nhà nước các cấp theo thẩm quyền tiến hành cụ thể hóa các mục

- Phân công phối hợp thực hiện chính sách công
Tổ chức thực hiện chính sách công cụ thể trong thực tế thường có sự phân


công cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp thực hiện. Một chính sách cụ thể có
thể tác động đến lợi ích một bộ phận dân cư, nhưng kết quả tác động lại liên quan
đến nhiều yếu tố… vì vậy cần phải phối hợp chúng lại để đạt yêu cầu quản lý. Khi
thực hiện phân công, phối hợp cần tuân theo tiến trình, có kế hoạch chủ động, sáng
tạo nhằm duy trì chính sách được ổn định, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính
sách đó.
- Duy trì chính sách công
Duy trì chính sách công là nhằm đảm bảo cho chính sách tồn tại, phát huy tác
dụng trong thực tế. Để duy trì được chính sách công luôn cần có sự đồng tâm, hợp
lực của người tổ chức, người thực hiện và môi trường tồn tại. Trong đó, người tổ
chức thực hiện chính sách là các cơ quan Nhà nước phải thường xuyên tuyên
truyền, vận động đối tượng chính sách và toàn xã hội tham gia thực thi chính sách.
Nếu khi thực hiện chính sách gặp khó khăn từ môi trường thực tế biến động tác
động thì cơ quan quản lý sử dụng hệ thống công cụ tác động để tạo ra môi trường
thuận lợi, đồng thời điều chỉnh chính sách phù hợp với hoàn cảnh mới đặt ra.
- Điều chỉnh chính sách công
Điều chỉnh chính sách công là hoạt động cần thiết để chính sách ngày càng
phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế đặt ra. Thực hiện điều chỉnh chính
sách được tiến hành bởi cơ quan ban hành chính sách. Cơ quan ban hành chính sách
phải thường xuyên nắm bắt tình hình thực tế trong quá trình triển khai thực hiện
chính sách từ đó chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có
hiệu quả chính sách nhưng không làm thay đổi mục tiêu của chính sách đặt ra.
- Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Do điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường ở địa phương không
giống nhau, do trình độ, năng lực tổ chức điều hành của đội ngũ cán bộ, công chức
trong các cơ quan nhà nước không giống nhau, không đồng đều. Như vậy, cơ quan

xã hội loài người. Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức
năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát
triển của xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao
động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về
mọi mặt. Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội


dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã
hội, theo các chế độ chính trị - kinh tế của xã hội [50].
Chính sách giáo dục là hệ thống những quan điểm, đường lối, chính sách
của Đảng, Nhà nước; các Bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương về hoạt
động giáo dục nhằm phát triển và hoàn thiện công tác giáo dục với mục đích “nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Thực hiện chính sách phát triển giáo dục: Từ quan niệm về chính sách
giáo dục, tác giả cho rằng thực hiện chính sách phát triển giáo dục là quá trình biến
các chính sách giáo dục thành những kết quả trên thực tế thông qua hoạt động có tổ
chức trong bộ máy nhà nước nhằm hiện thực hóa các chính sách giáo dục đã đề ra
góp phần tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia.
1.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về giáo dục
Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về GD & ĐT (phụ lục 1)
Chính phủ quản lý, chỉ đạo trực tiếp đối với UBND tỉnh, Bộ, Cơ quan ngang
bộ và Bộ GD & ĐT. Chính phủ trình Quốc hội những chủ trương về giáo dục - đào
tạo trong nước và cải cách nội dung chương trình cấp học. Chính phủ báo cáo trước
Quốc hội về hoạt động GD & ĐT, về thực hiện ngân sách giáo dục.
UBND tỉnh chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ và là cơ quan
quản lý, chỉ đạo trực tiếp đối với UBND huyện và Sở GD & ĐT. UBND tỉnh có
trách nhiệm phối hợp, hướng dẫn thực hiện, kiểm tra của Bộ GD & ĐT khi Bộ yêu
cầu. UBND tỉnh đảm bảo các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật
chất, trang thiết bị cho giáo dục và đáp ứng các yêu cầu về mở rộng quy mô giáo

UBND huyện trình HĐND cấp huyện quyết định kế hoạch, chương trình, dự
án phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn phù hợp với
chiến lược phát triển giáo dục của tỉnh và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương. Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án
phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn sau khi được
cấp có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về giáo dục.
Sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa


bàn phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương; bảo đảm đủ biên chế công
chức quản lý giáo dục, đủ số lượng người làm việc theo đề án vị trí việc làm được
phê duyệt, đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, tiến tới tổ chức học
02 buổi/ngày đối với giáo dục tiểu học, trung học cơ sở; chịu trách nhiệm giải trình
về hoạt động giáo dục, chất lượng giáo dục, quản lý đội ngũ công chức, viên chức,
người lao động và người học, thực hiện chính sách phát triển giáo dục thuộc phạm
vi quản lý. Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng GD & ĐT
theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ GD & ĐT. Hướng dẫn, kiểm tra
các cơ sở giáo dục thuộc phạm vi quản lý trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục.
Thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, xây dựng trường chuẩn quốc gia và xây
dựng xã hội học tập trên địa bàn. Chỉ đạo thực hiện việc sử dụng, đánh giá, đào tạo,
bồi dưỡng và thực hiện chính sách đối với đội ngũ công chức, viên chức và người
lao động tại các cơ sở giáo dục thuộc phạm vi quản lý theo quy định; thường xuyên
cập nhật thông tin về đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thuộc phạm vi
quản lý vào cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục. Bảo đảm đủ các điều kiện về tài
chính, tài sản, cơ sở vật chất và quỹ đất theo quy định; thực hiện chính sách xã hội
hóa giáo dục, huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục; ban hành các quy định
để bảo đảm quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình về thực hiện nhiệm vụ và chất
lượng giáo dục đối với các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý. Kiểm tra việc
tuân thủ pháp luật đối với các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước
của UBND cấp huyện. Chỉ đạo thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo định

động tại các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện theo
quy định. Xây dựng dự toán, gửi Phòng Tài chính - Kế hoạch thẩm định, trình Chủ
tịch UBND dân cấp huyện phê duyệt phương án phân bổ, giao dự toán ngân sách
cho các cơ sở giáo dục công lập thuộc phạm vi quản lý của UBND cấp huyện; phối
hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch hướng dẫn, kiểm tra việc cấp, sử dụng ngân
sách nhà nước và các nguồn tài chính hợp pháp khác đối với các cơ sở giáo dục trên
địa bàn huyện theo quy định. Thực hiện kiểm tra, giải quyết khiếu nại, giải quyết tố
cáo và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Thực hiện công tác thống kê,
thông tin, báo cáo theo định kỳ và đột xuất về lĩnh vực giáo dục thuộc phạm vi quản


lý với UBND cấp huyện và Sở GD & ĐT theo quy định [4].
1.2.4. Nội dung chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện (thành phố trực thuộc tỉnh)
Nội dung của chính sách phát triển giáo dục được thể hiện trong Luật Giáo
dục 2005 (sửa đổi năm 2009), Quyết định 771/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 phê duyệt
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Nghị quyết 29/NQCP ngày 04/11/2013 của BCH Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”, Nghị định số
20/2014/NĐ-CP ngày 24 tháng 3 năm 2014 của Chính phủ về phổ cập giáo dục, xóa
mù chữ, Nghị định số 127/2018/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ
quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục và các quy định pháp luật khác
do Bộ GD & ĐT quy định.
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, xác định
mục tiêu chung “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn
diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc
tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức,
kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học;
đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công
bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước

khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Bảo đảm cho học sinh có
trình độ THCS (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân
luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và
chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ
cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020”.
Để triển khai thực chính sách phát triển giáo dục nhằm đạt được các mục tiêu
chung, mục tiêu cụ, cần thực hiện sau:
- UBND cấp huyện xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án phát
triển giáo dục trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, từ đó chỉ đạo, kiểm tra tổ chức
thực hiện


- UBND cấp huyện tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát các cơ sở giáo dục
thuộc thẩm quyền quản lý trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về
phát triển giáo dục.
- UBND cấp huyện chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra Phòng GD & ĐT, các cơ sở
giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục trên địa
bàn.
- UBND cấp huyện quyết định thành lập (trường công lập), cho phép thành
lập (trường ngoài công lập), sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể đối
với các cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở, trường phổ thông
có nhiều cấp học (không có cấp học trung học phổ thông), trung tâm học tập cộng
đồng và các cơ sở giáo dục khác (nếu có) thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp
huyện.
- UBND cấp huyện bảo đảm đủ nhân lực cho Phòng GD & ĐT, các cơ sở
giáo dục; chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục. Ngoài ra cần thực hiện đầy đủ, kịp thời các chủ trương,
biện pháp để chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản
lý giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý trên địa bàn.
- Để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục trên địa bàn cấp huyện, UBND cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status