Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
___________________________________
TỪ, NGỮ CHỈ MÙI, VỊ
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Hùng Việt
HẢI PHÒNG - 2016
Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
LỜI CAM ĐOAN
Hải Phòng, ngày 20 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC BẢNG ......................................................................................... v
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT ................................................................... 8
1.1. Khái niệm về từ, ngữ và từ, ngữ chỉ mùi, vị .............................................. 8
1.1.1. Khái niệm về từ, ngữ ............................................................................... 8
1.1.2. Khái niệm về mùi, vị và từ, ngữ chỉ mùi, vị ......................................... 12
1.2. Một số vấn đề về ý nghĩa của từ .............................................................. 16
1.2.1. Khái niệm nghĩa của từ ......................................................................... 16
1.2.2. Hiện tượng chuyển nghĩa của từ ........................................................... 17
1.3. Một số nét sơ lược về ca dao người Việt ................................................. 19
1.3.1. Khái niệm ca dao ................................................................................... 19
1.3.2. Nội dung của ca dao .............................................................................. 20
1.4. Tiểu kết..................................................................................................... 21
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM KẾT HỢP CỦA TỪ, NGỮ CHỈ MÙI, VỊ TRONG
CA DAO NGƯỜI VIỆT ................................................................................. 23
2.1. Nhóm từ, ngữ chỉ mùi .............................................................................. 23
2.1.1. Danh sách các từ, ngữ chỉ mùi trong tiếng Việt.................................... 23
2.1.2. Danh sách các từ, ngữ chỉ mùi trong ca dao người Việt ....................... 26
2.1.3. Đặc điểm kết hợp của các từ, ngữ chỉ mùi trong ca dao người Việt .... 29
2.2. Nhóm từ, ngữ chỉ vị ................................................................................. 42
bảng
Trang
2.1
Bảng khảo sát các từ đơn chỉ mùi trong tiếng Việt
23
2.2
Bảng khảo sát các từ phức chỉ mùi trong tiếng Việt
24
2.3
Bảng khảo sát các từ đơn chỉ mùi trong ca dao người Việt
26
2.4
Bảng khảo sát các từ phức chỉ mùi trong ca dao người Việt
27
2.5
Bảng tổng kết về sự kết hợp của các từ, ngữ chỉ mùi, vị
53
trong ca dao người Việt (Khi các từ, ngữ chỉ mùi, vị dùng
ở nghĩa gốc)
3.1
Bảng khảo sát sự chuyển nghĩa của từ, ngữ chỉ mùi trong ca
62
dao người Việt
3.2
Bảng khảo sát sự chuyển nghĩa của từ, ngữ chỉ vị trong ca
dao người Việt
v
69
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Làng quê Việt Nam ở đâu cũng vậy, ẩn chứa trong nó bao điều gần
gũi và thân thương. Mỗi một miền quê đều có những câu hò, điệu hát rất
chung mà lại rất riêng, mang âm hưởng của từng vùng, miền. Tất cả cùng hòa
vào câu thơ, giọng hát của những làn điệu, tạo thành kho tàng ca dao Việt
tượng con cò, con bống… nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về
các từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt. Đề tài này đi vào tìm hiểu từ,
ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt nhằm góp phần làm rõ vai trò của lớp
từ, ngữ này về khả năng kết hợp, ngữ nghĩa và về khả năng biểu hiện hình ảnh
trong ca dao.
Vì những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài "Từ, ngữ chỉ
mùi, vị trong ca dao người Việt", với mong muốn góp thêm một tiếng nói xét
từ bình diện ngôn ngữ học để tìm hiểu thêm giá trị của ca dao trong phạm vi
từ, ngữ đang xem xét. Kết quả nghiên cứu đề tài cũng có ý nghĩa rất thiết thực
đối với chúng tôi khi giảng dạy các tác phẩm ca dao trong nhà trường.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu về các từ, ngữ chỉ mùi, vị trong
tiếng Việt.
- Bùi Minh Toán [49, tr.44] nghiên cứu về các từ chỉ mùi vị trong truyện
Kiều. Tác giả cho thấy có 18 từ chỉ mùi vị xuất hiện trong 91 câu thơ của tác
phẩm, chia thành hai tiểu trường: tiểu trường tên gọi mùi vị cụ thể và tiểu
trường tên gọi khái quát. Các từ chỉ mùi, vị trong Truyện Kiều chủ yếu được
dùng với nghĩa chuyển.
- Hoàng Thị Ái Vân [52, tr.49] trong luận văn thạc sĩ "Trường nghĩa mùi
vị và các hình thức ngôn ngữ biểu hiện trong tiếng Việt" đã tiến hành xác lập
các trường nghĩa mùi và trường nghĩa vị trong tiếng Việt; xem xét mối quan
hệ giữa trường nghĩa mùi vị và văn hóa ẩm thực của người Việt để thấy được
mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.
- Nguyễn Quỳnh Thu [48, tr.43] trong luận văn thạc sĩ "Nhóm tính từ chỉ
mùi, vị trong tiếng Việt: đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị" đã thống kê được 81
3
tính từ chỉ mùi, 94 tính từ chỉ vị và nêu lên được các đặc điểm về kết trị cũng
như ngữ nghĩa của nhóm tính từ này.
gian "Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật ca dao qua một số tín hiệu thẩm mỹ"
(1992). Tác giả đã nêu ý nghĩa biểu tượng của các vật thể như khăn, áo,
giường, chiếu,… và đi sâu tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ sông. Ở bài viết này tác
giả kết luận: "Khả năng biểu trưng hoá nghệ thuật của các vật thể trong ca
dao góp phần tạo nên một nét đặc trưng rất cơ bản. Sông là một yếu tố mang
ý nghĩa thẩm mĩ giàu sức khái quát nghệ thuật, tham gia vào hệ thống biểu
hiện của ngôn ngữ nghệ thuật ca dao, sông có giá trị của một tín hiệu thẩm
mĩ".
- Nguyễn Xuân Kính [28, tr.29] với công trình nghiên cứu "Thi pháp ca
dao" đã dành hẳn một chương để tìm hiểu các biểu tượng như cây trúc, cây
mai, hoa nhài, con bống, con cò và so sánh ý nghĩa của một số biểu tượng
động vật trong ca dao và văn học viết. Tác giả đặt ra một vấn đề cần được
quan tâm khi xác định ý nghĩa biểu tượng: "Tuy cùng viết về một biểu tượng
nhưng hai dòng thơ dân gian và bác học đã miêu tả khác nhau, cấp cho nhau
những ý nghĩa khác nhau".
- Cũng là tác giả Trương Thị Nhàn [40], với luận án phó tiến sĩ "Sự biểu
đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mỹ không gian trong ca dao" (1995) đã
tiếp tục đi sâu nghiên cứu một loạt biểu tượng không gian như rừng, núi,
sông, ruộng, bến, đình, chùa,... Tác giả đã góp một tiếng nói ở một phương
diện mới trong lĩnh vực nghiên cứu biểu tượng ca dao.
- Phạm Thu Yến [55] trong cuốn "Những thế giới nghệ thuật của ca dao"
(1998) đã dành một số trang để khảo sát, nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca
trữ tình dân gian tương đối toàn diện. Tác giả nghiên cứu biểu tượng theo ba
vấn đề: Ranh giới giữa biểu tượng và ẩn dụ; Biểu tượng thơ ca dân gian; Sự
hình thành và phát triển của biểu tượng. Theo như như tác giả viết "những
điều trình bày trên vẫn mang ý nghĩa mở, ý nghĩa đặt vấn đề chứ chưa phải là
sự giải quyết triệt để".
5
6
- Trình bày những cơ sở lí thuyết liên quan đến khái niệm từ, ngữ, nghĩa
của từ, sự chuyển nghĩa, từ, ngữ chỉ mùi, vị. Luận văn cũng trình bày một số
nét khái quát về ca dao người Việt.
- Khảo sát, phân loại từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt.
- Khảo sát đặc điểm kết hợp của từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người
Việt.
- Xem xét đặc điểm ngữ nghĩa và sự chuyển nghĩa từ, ngữ chỉ mùi, vị
trong ca dao người Việt.
4. Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là lớp từ, ngữ chỉ mùi, vị trong
ca dao người Việt.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các đặc điểm về khả năng kết hợp, về đặc trưng
ngữ nghĩa và sự chuyển nghĩa của các từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người
Việt.
Phạm vi tư liệu khảo sát là bộ tổng tập Kho tàng ca dao người Việt của
Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên, (2001) NXB Văn hoá –
thông tin, Hà Nội. Tư liệu này gồm 2 tập, số câu ca dao được tập hợp trong bộ
sách này đạt tới 12.487 lời (chưa kể dị bản). Đây là công trình biên soạn quy
mô, công phu, khoa học của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học.
5. Phương pháp nghiên cứu
Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
5.1. Phương pháp thống kê, phân loại (thống kê có định hướng, phân loại
định lượng kết hợp với phân tích định tính): được sử dụng trong quá trình thu
thập và xử lí tư liệu.
5.2. Phương pháp miêu tả: dùng để miêu tả những đặc trưng ngữ nghĩa
của các từ, chỉ mùi, vị trong tiếng Việt.
sinh học và cơ sở ngôn ngữ học.
1.1. Khái niệm về từ, ngữ và từ, ngữ chỉ mùi, vị
1.1.1. Khái niệm về từ, ngữ
1.1.1.1. Khái niệm về từ
Từ là đơn vị rất cơ bản trong ngôn ngữ học. Hiện nay, chưa có quan
điểm thống nhất về loại đơn vị này.
Theo Nguyễn Thiện Giáp, "Từ là đơn vị nhỏ nhất của lời nói, có tính
độc lập" [17, tr.15].
Các tác giả cuốn "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt" coi từ là "đơn vị
nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng
gọi tên; được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu" [13,
tr.170].
Theo Đỗ Hữu Châu: "Từ là một đơn vị hai mặt: mặt ý nghĩa và mặt
hình thức. Mặt hình thức theo chúng tôi, là một hợp thể của một số thành
phần: thành phần ngữ âm (còn gọi là ngoại biểu), thành phần cấu tạo (còn gọi
là cấu trúc của từ) và thành phần ngữ pháp" [9, tr.21].
Các tác giả "Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học" coi "từ là đơn vị cấu trúc
ngữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ dùng để gọi tên các sự vật và các thuộc tính
của chúng, các sự vật các hiện tượng, các quan hệ của thực tiễn, là tổng thể
các quan hệ của ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp đặc trưng cho từng ngôn
ngữ. Các dấu hiệu đặc trưng của từ là tính hoàn chỉnh, tính có thể phân chia
thành các bộ phận và khả năng tái hiện lại dễ dàng trong lời nói. Từ có thể
phân chia thành các cấu trúc: cấu trúc ngữ âm của từ, cấu trúc hình thái của từ
và cấu trúc ngữ nghĩa của từ… Cấu trúc hình thái của từ là toàn bộ các hình vị
9
tạo nên từ; cấu trúc ngữ nghĩa của từ là toàn bộ các nghĩa khác nhau của từ"
[53, tr.329-330].
Để có cơ sở thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài và khảo sát tư liệu,
định, tồn tại với tư cách một đơn vị mang tính sẵn có như từ. Ví dụ: anh
hùng rơm, nuôi ong tay áo, vắt chanh bỏ vỏ... trong tiếng Việt; to have on, to
join battle, to get wind of... trong tiếng Anh v.v... Những đơn vị ấy tuy do vài
từ ghép lại nhưng lại có những đặc điểm giống như từ. Chúng là những đơn vị
có sẵn trong ngôn ngữ, hình thành trong quá trình giao tiếp từ rất lâu đời, có
tính xã hội, mang tính cố định, bắt buộc và được coi là đơn vị tương đương
với từ. Khi cần sử dụng trong giao tiếp, người ta chỉ việc lựa chọn và tái sử
dụng chứ không phải lâm thời ghép các âm lại theo cách riêng của cá nhân.
Ngữ được hình thành trong lịch sử phát triển của một ngôn ngữ. Ngữ
thường là một tổ hợp từ. Vì vậy, nghĩa của một ngữ là nghĩa chung cho toàn
bộ tổ hợp chứ không phải là nghĩa của các từ cộng lại. Ngữ có kết cấu hoàn
chỉnh và chặt chẽ. Để hiểu được và sử dụng được ngữ, ta thường phải ghi nhớ
chúng như là những chỉnh thể, khi sử dụng, ta không thể tùy tiện thay đổi tổ
chức của chúng. Nghĩa của ngữ có thể tương đương với nghĩa của một từ, vì
vậy ta có thể dùng chúng như những từ ngữ bình thường.
Theo Nguyễn Như Ý, ngữ được quan niệm như sau: Kết hợp hai hoặc
nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có quan hệ với chúng gắn bó
về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất và là tên gọi phức
tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan. Đó là một kết cấu cú pháp
được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ
thuộc – theo quan hệ phù hợp, chi phối hay liên hợp. Trong một ngữ có từ
đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính, các
từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là thành tố phụ. Thành tố chính của ngữ
có thể là danh từ (tạo nên danh ngữ), động từ (tạo nên động ngữ), tính từ (tạo
nên tính ngữ). Ngữ còn được gọi là cụm từ, từ tố.
Ngữ là phương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng, quá trình,
phẩm chất. Ý nghĩa ngữ pháp của ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh
giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng.
12
1.1.2. Khái niệm về mùi, vị và từ, ngữ chỉ mùi, vị
Giống như màu sắc và âm thanh, mùi, vị luôn len lỏi và có mặt khắp nơi
trong thế giới bao quanh con người. Có thể nói, mùi, vị là một phần tất yếu
của cuộc sống con người và các loài vật. Con người có năm giác quan, thì đã
có tới hai giác quan (khứu giác và vị giác) dành cho sự cảm nhận về mùi và
vị. Chính vì thế, trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc có cả một trường từ vựng
dành cho mùi và vị.
1.1.2.1. Khái niệm về mùi
Trong tiếng Việt, trường từ vựng này khá phong phú, bao gồm một số
tiểu trường. Đó là những tiểu trường như tên gọi khái quát (mùi, vị, hơi,
hương,...), tên gọi các mùi và vị cụ thể (thơm, hôi, thối, hắc, khai, khắm,
khẳm, khét, tanh, cay, đắng, ngọt, mặn, nồng, nhạt, chua, chát…), tên gọi các
trạng thái hay quá trình của mùi, vị (bay, bốc, dậy, thoang thoảng, sực nức,
thấm, ngào ngạt, nhạt, phai, mất, hết…), tên gọi các hoạt động của con người
đối với mùi, vị (ngửi, hít, đánh hơi, nếm, cảm thấy, cảm nhận, tẩy, xua, khử,
tạo…).
Theo "Từ điển tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê, chủ
biên, NXB Đà Nẵng, 2006), mùi là danh từ chỉ hơi tỏa ra từ vật, có thể nhận
biết được bằng mũi. Ví dụ: Mùi thơm. Mùi hương ngào ngạt. Tanh mùi cá.
Mùi còn chỉ vị của thức ăn, nói về mặt sự cảm nhận của con người. Ví dụ: Ăn
cho biết mùi. Mùi chỉ cái nếm trải, hưởng, chịu trong cuộc đời, nói về mặt sự
cảm nhận của con người. Mùi vinh hoa phú quý. Nếm mùi cay đắng. Biết đủ
mùi đời. [44, tr.649].
Theo thuyết "thang mùi", trăm nghìn mùi chỉ là sự pha trộn bảy mùi:
mùi long não, mùi xạ hương, mùi hoa hồng, mùi bạc hà, mùi ête, mùi hăng và
mùi thối. "Bộ chữ cái" mùi đã giúp các nhà công nghiệp hóa học viết trên giấy
cái công thức mùi cần điều chế. Tuy mũi của con người dễ dàng phân biệt
mùi tanh của cá và mùi thơm hoa nhài nhưng diễn đạt nó thành công thức hóa
nhận là "vị cơ bản" thứ sáu.
14
- Vị đắng là vị nhạy cảm nhất trong các vị, và là cảm nhận của nhiều
cảm giác khá khó chịu và rõ rệt.
- Vị mặn được tạo nên chủ yếu bởi sự hiện diện của các ion natri. Các
ion khác của nhóm kim loại kiềm cũng có vị mặn, nhưng ít cảm giác được
bằng natri.
- Vị chua là vị cảm nhận được từ tính axit. Độ chua của các chất được
đánh giá tương đối theo axit hydrochloric loãng (độ chua bằng 1). Axit
tartaric có độ chua 0,7, axit citric là 0,46 và axit cacbonic là 0,06.
- Vị ngọt, thường được coi như là một cảm giác tích cực, cảm nhận
được từ các loại đường, một số protein và một số hợp chất khác. Vị ngọt
thường liên quan tới andehit và xeton, có chứa một nhóm cacbonyl. Vị ngọt
được phát hiện bởi một loạt các protein G kết thụ cùng với gustducin protein
G được tìm thấy trên các chồi vị giác.
- Umami là tên cho cảm giác vị tạo nên từ các axit amin như glutamat.
Các hợp chất tạo ra vị umami thường có trong thực phẩm lên men và thực
phẩm ủ tàng trữ. Nó cũng được mô tả như là "vị thịt", hay một vị "phong
phú". Umami được xem là một mùi vị cơ bản trong ẩm thực của người Việt
Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
- Vị béo: Một thụ thể hóa học gọi là CD36 trên các nụ vị giác ở lưỡi
cho phép con người nhận ra các phân tử chất béo và độ nhạy của lưỡi về chất
béo thay đổi theo từng cá nhân.
Bên cạnh các vị cơ bản như trên, chúng ta còn nhận biết được các vị
khác như: vị chát, vị cay, vị the mát, vị tê....
Như vậy ở phần trên, chúng ta đã đi tìm hiểu một cách khái quát về mùi
và vị. So với nghệ thuật văn chương, thì nhiều ngành nghệ thuật khác (hội
hoạ, âm nhạc, điêu khắc, kiến trúc, điện ảnh…) cũng có thể thể hiện thành
Mùi, vị có thể được xác định như là các dạng vật chất, vì chúng có thể
cảm nhận được bằng giác quan. Mùi có thể tồn tại độc lập với vật thể mà nó
là thuộc tính, có thể được con người cảm nhận mà không tiếp xúc trực tiếp
với vật thể. Còn vị là thuộc tính của vật thể, luôn luôn gắn bó chặt chẽ với vật
thể, nên con người chỉ có thể cảm nhận khi tiếp xúc trực tiếp với vật thể qua
16
các giác quan ở khoang miệng. Tuy nhiên, cả hai đều được ngôn ngữ biểu
hiện bằng những từ độc lập đối với chính các từ biểu hiện vật thể, như là các
đối tượng riêng biệt. Đó chính là một thuận lợi to lớn cho sự giao tiếp ngôn
ngữ nói chung và nghệ thuật văn chương nói riêng
b- Từ, ngữ chỉ mùi, vị phái sinh
Từ, ngữ chỉ mùi, vị phái sinh là những từ, ngữ được mở rộng từ các từ,
ngữ chỉ mùi, vị cơ bản. Mỗi từ, ngữ cơ bản được mở rộng theo các hướng
khác nhau để phản ánh các dạng cũng như các cung bậc khác nhau của cảm
xúc. Một từ, ngữ chỉ mùi, vị cơ bản có thể có rất nhiều những từ, ngữ chỉ mùi,
vị phái sinh khác nhau.
Ví dụ: Các từ, ngữ chỉ mùi, vị xuất hiện ở dạng từ đơn như: chua, cay,
mặn, ngọt, thơm, hôi... Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, chúng lại xuất
hiện phần nhiều ở dạng từ ghép (hôi tanh, đắng cay, cay đắng, ngọt bùi, chua
xót, mặn nồng...) hoặc từ láy (mặn mà, ngọt ngào...). Việc cấu tạo thành từ
ghép hay từ láy, tuy không nhất thiết, nhưng cũng là cơ sở thuận lợi để từ
chuyển nghĩa và thay đổi về đặc điểm kết hợp. Từ nghĩa gốc ban đầu, chúng
đã có sự biến đổi để phù hợp với hoàn cảnh sử dụng.
Ví dụ: Từ mặn được hiểu là: "có vị của muối biển", nhưng trong quá
trình sử dụng, nó đã được dùng để nói về phẩm chất của một con người "ăn
nói mặn mà" hay nói về mức độ tình cảm "tình yêu mặn mà"...
Cách biến chuyển từ nghĩa gốc, nghĩa cơ bản thành nghĩa phái sinh chính là
sự chuyển nghĩa của từ. Từ cũng vì thế trở nên đa dạng hơn về mặt ý nghĩa.
độ cảm xúc của mình với từ ngữ qua đó tới cái sở chỉ và sở biểu của từ ngữ.
Quan hệ này gọi là nghĩa sở dụng.
- Nghĩa kết cấu (structure meaning): Mỗi từ đều nằm trong một hệ
thống từ vựng, có quan hệ đa dạng và phức tạp với những từ khác. Quan hệ
giữa từ với những từ khác trong hệ thống được gọi là nghĩa kết cấu [17,
tr.219-220].
1.2.2. Hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Như đã biết, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là một hệ
thống mở (đặc biệt là ở hệ thống từ vựng). Cho nên, cùng với sự phát triển
18
của lịch sử xã hội loài người, ngôn ngữ cũng phải luôn luôn biến đổi theo, cả
mặt ngữ âm lẫn ngữ nghĩa. "Chính sự phát triển của xã hội, mục đích nhận
thức, nhu cầu giao tiếp xã hội là động lực thúc đẩy ngôn ngữ phải biến đổi"
[17, tr.178]
Khi ra mới ra đời, từ vốn chỉ có một nghĩa (nghĩa cơ bản), trải qua thời
gian nhất định, trong quá trình sử dụng của con người, từ có thêm nghĩa mới.
Về sắc thái biểu cảm, với nghĩa, thật là trầu cay
50
585
314
Bún ngon bún mát Tứ Kì
Pháp Vân cua ốc đồn thì chẳng ngoa
51
344
Xót xa như muối đổ vào lòng
Đắng cay như ngậm bồ hòn vẫn phải gượng vui
55
107
373
Quả bồ hòn đắng lắm cô hàng xén ơi
Ông già bà lão chuộng nơi cái cối giã trầu
56
138
382
Cam đời mô mà cam lại không ngọt
Ớt đời mô mà ớt lại không cay
57
139
382
61
244
404
Chờ em cho tuổi anh cao
Cho duyên anh nhạt, má đào em phai
62
311
417
Cây chi chi không đọt
Trái ngọt tợ như đường
63
385
431
Mồ côi cực lắm bớ Trời
Mẹ ruột cha ghẻ nhiều lời đắng cay
64
409
Chanh chua anh để giặt quần