luận văn Sự phản ánh phong tục cưới hỏi trong ca dao người Việt - Pdf 26

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Từ bao đời nay trong tâm thức người Việt, văn học dân gian được coi
như là một di sản, một kho tàng quý giá tích lũy những gì mà loài người đã
biết được nhờ vào sự trải nghiệm hàng thế kỉ. Trong đó ca dao được coi như
là một viên ngọc mà sự lung linh, kì ảo của nó đã lặn sâu vào trong kí ức con
người như một ảnh tượng của quê hương ngàn đời.
Sở dĩ ca dao có một sức hấp dẫn kì lạ, một sức sống lâu bền trong tâm
hồn người Việt, bởi nó là những sáng tác diệu kì của người bình dân. Cho
nên tìm về với ca dao là tìm về với những nét đẹp trong cuộc sống, những
nét đẹp văn hóa mang màu sắc xứ sở, những phong tục tập quán từ nghìn
đời, tinh thần lạc quan yêu đời, yêu người thiết tha mà vượt qua mọi sức
công phá của thời gian, ca dao gìn giữ lại cho muôn đời.
Cũng vì lẽ đó, những tác phẩm chứa đầy chất thơ, chất trí tuệ này cho
đến nay đã giành được vô vàn sự quan tâm, chắt lọc và nâng niu tìm kiếm
của những người “nặng lòng” với ca dao. Những tưởng ca dao sẽ ngày càng
trở nên bó hẹp lại, và những giá trị của nó sẽ ngày một hạn chế. Nhưng
dường như những giá trị của ca dao sẽ chẳng bao giờ là hữu hạn, mà ngược
lại mỗi công trình nghiên cứu lại góp phần đem đến những diện mạo mới cho
thể loại văn học bình dân này.
Với lòng yêu thích và khao khát muốn tìm hiểu thêm những nét đẹp
trong cội nguồn văn hóa dân tộc, qua đề tài “Sự phản ánh phong tục cưới hỏi
trong ca dao người Việt” người viết hi vọng sẽ giúp cho mình và những
người quan tâm được cảm nhận những nét đẹp tinh tế và độc đáo, mang bản
sắc riêng của một trong những phong tục giàu văn hoá của người Việt. Đồng
thời cảm nhận được chất bình dị, trong sáng, sự vui tươi, hóm hỉnh, thông
minh trong tâm hồn người dân Việt.
1
Hơn nữa, đề tài này cũng nhằm hướng tới ý nghĩa nghiệp vụ đối với
một giáo viên dạy văn sau này. Trước đây trong chương trình THPT đã có
đưa vào giảng dạy bài ca dao “Tát nước đầu đình”, gần đây theo chương

đầu “Phong tục trong gia tộc”.
Cùng với cuốn sách trên có rất nhiều cuốn sách khác cũng đều in dấu
ấn văn hóa này. Cuốn “Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam” –
Tân Việt (NXB Văn hóa dân tộc 1994), cưới hỏi là một trong tổng số 7 mục
của cuốn sách (cùng với sinh dưỡng, giao thiệp, đạo hiếu, tang lễ ). Trong
phần cưới hỏi, tác giả cũng trình bày khá cụ thể những nghi thức và ý nghĩa
của chúng trong cưới hỏi.
Cuốn “Văn hóa phong tục” – Hoàng Quốc Hải (NXB Văn hóa thông tin
2000), sau khi khái quát chung về văn hóa Việt Nam ,đều giới thiệu về phong
tục cưới hỏi – một trong những phong tục đậm chất văn hóa của Việt Nam.
Xuất hiện gần đây và cũng khá thu hút sự quan tâm của mọi người vì
sự phản ánh phong tục gần với cuộc sống hiện tại, cuốn “Tục cưới hỏi”(Nxb
Văn Hoá – Thông Tin 2003) của hai tác giả Bùi Xuân Mĩ và Phạm Minh
Thảo. Tác giả đi sâu giới thiệu về tục cưới hỏi của người Việt, bao gồm
những nghi lễ quan trọng, không thể thiếu như: Nạp thái, vấn danh, nạp cát,
thỉnh kì, nạp tệ, thân nghinh và phân tích chi tiết, cụ thể các nghi lễ. Sau khi
giới thiệu về tục cưới hỏi của người Việt, tác giả còn mở rộng phản ánh
phong tục này ở một số dân tộc ít người như: Tục cưới hỏi của người Mường
Bi(Hòa Bình), người Nùng, người Khmer, mỗi dân tộc đều mang những
nét đặc trưng độc đáo riêng.
Có thể nói văn học chính là phương tiện quan trọng ghi lại dấu ấn văn
hóa, do đó “Văn học như là một bộ phận tạo thành của văn hóa dân tộc”. Vì
thế bàn về Phong tục cưới hỏi trong ca dao - một khía cạnh của văn hóa, ta
cũng phải tìm đến với những công trình nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ
văn học.
3
Cuốn “Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan (Nxb
Khoa học xã hội Hà Nội, 1956) là một tuyển tập về tục ngữ, ca dao và dân ca
Việt Nam. Sách chia làm 6 phần, trong phần III Quan hệ xã hội gồm các
mục: Tình yêu nam nữ, Hôn nhân gia đình. Sau khi nghiên cứu kĩ ta nhận

Nhưng nó được nghiên cứu trên bình diện văn hóa học, xã hội học hoặc bình
diện văn học. Nó hoặc được đề cập ở phạm vi rộng hơn thuộc về hôn nhân
gia đình, hoặc mới chỉ được nhắc tới thoáng qua; có một số những báo cáo
khoa học đã bước đầu nghiên cứu nhưng chưa đi sâu vào khảo sát, thống kê
và phân tích một cách có hệ thống trong kho tàng ca dao Việt Nam. Vì thế
với đề tài “Sự phản ánh phong tục cưới hỏi trong ca dao người Việt” người
viết hi vọng sẽ có những đóng góp một cách cụ thể và hệ thống, đồng thời
khơi gợi, chắt lọc thêm được những tinh hoa trong nền văn hóa dân tộc và
những đặc trưng bản chất của thể loại trữ tình bình dân này.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng:
Hệ thống ca dao trữ tình người Việt rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên
trong khóa luận này, người viết chỉ đi sâu vào nghiên cứu mảng ca dao phản
ánh chủ đề phong tục cưới hỏi – một hệ thống nhỏ nhưng khá hấp dẫn và độc
đáo, không mang tham vọng nghiên cứu ở phạm vi rộng như một đề tài về
hôn nhân gia đình.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung khảo sát những câu ca dao
phản ánh phong tục cưới hỏi với những đặc trưng nổi bật trong các nghi lễ
mang tính thuần phong mĩ tục của dân tộc, từ đó nghiên cứu những giá trị
nội dung biểu đạt và những phương diện nghệ thuật mang đặc trưng của thể
loại trữ tình dân gian này như kết cấu, ngôn ngữ, lối nói.
3.2 Phạm vi:
Nghiên cứu đề tài này người viết chỉ khảo sát phong tục cưới hỏi trong
bộ phận ca dao người Việt.
5
Tư liệu khảo sát về ca dao phản ánh phong tục cưới hỏi trong cuốn
“Kho tàng ca dao người Việt” (4 tập) do Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng
Nhật chủ biên cùng nhiều tác giả khác, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội
1995.
Ngoài ra để nguồn tư liệu thêm phong phú, khóa luận có tham khảo

tinh hoa của một nền văn hóa là làng quê – mảnh đất gần gũi tự nghìn đời.
Trong quá trình sinh tồn và phát triển của mình, người nông dân Việt
Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn. Sự cố kết cộng đồng trong khó khăn,
hoạn nạn đã sớm hình thành những truyền thống cộng đồng làng xã, hình
thành những phong tục tập quán tốt đẹp mang màu sắc riêng của một xứ sở
anh hùng.
Phong tục có một vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội, là một
vấn đề thuộc về bản chất xã hội, là hiện thực về tình trạng văn hóa của một
cộng đồng, của một tầng lớp xã hội hay của cả một dân tộc. Một dân tộc văn
minh là phải tạo ra được nhiều phong tục đẹp và độc đáo để tạo nên được
bản sắc riêng của dân tộc mình. Việt Nam – một xứ sở với biết bao phong
tục tập quán vừa quen lại lạ, hấp dẫn kích thích bao người tìm tòi và khám
phá như: tục nhuộm răng, ăn trầu, tục ma chay, cưới xin, lễ hội Những
phong tục thuần hậu mang nếp cảm, nếp nghĩ của dân tộc Việt được bắt
nguồn từ nếp sống đẹp, nếp sống văn hóa của những cư dân nông nghiệp,
thật thà và chất phác.
7
Phong tục đã dành được sự quan tâm rất lớn của các nhà văn hóa học,
dân tộc học. Và theo đó những quan niệm về phong tục cũng khác nhau.
Theo “Đại từ điển tiếng Việt” nhà xuất bản Văn hóa thông tin thì:
“Phong tục là: “Lối sống, thói quen đã thành nề nếp được mọi người công
nhận tuân theo”.
Theo lời mở đầu của tác giả Tân Việt trong sách: “Một trăm điều nên
biết về phong tục Việt Nam” - Nxb văn hóa dân tộc, 1994 thì: “Phong” là
nền nếp đã lan truyền rộng rãi, “Tục” là thói quen lâu đời. “Phong tục có thể
trở thành luật tục ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh
hơn cả những đạo luật”.
Tác giả Phan Kế Bính trong cuốn sách “Việt Nam phong tục” (Trích
trong Đông Dương tạp chí từ số 24 đến 49 (1913 – 1914) có viết: “Mỗi nước
có một phong tục riêng. Phong tục ấy kì thủy hoặc bởi tự một vài người mà

2. Quan niệm về phong tục cưới hỏi
2.1 Những hình thức hôn nhân đầu tiên của loài người
Đi ngược dòng thời gian để viết lên lịch sử, và nhìn nhận về lịch sử là
điều hấp dẫn và thú vị đối với con người, sự kì thú có thể nằm trong những
điều sơ khai mông muội cho đến những bước tiến văn minh hiện đại.
Sự sản sinh và hình thành của loài người gắn liền với quá trình hình
thành và phát triển của lịch sử xã hội, gắn liền với các hình thái xã hội. Theo
đó mọi diễn biến trong quá trình phát triển của loài người đều phản ánh đặc
điểm lịch sử xã hội, ngay cả trong vấn đề nguồn gốc hôn nhân gia đình. Ăng-
ghen đã dành tâm huyết của mình nghiên cứu về nguồn gốc của gia đình và
chỉ ra rằng: “Gia đình là một yếu tố năng động. Nó không đứng yên mà tiến
từ hình thức thấp lên hình thức cao, khi xã hội tiến từ hình thức thấp lên hình
thức cao hơn”. Như vậy, Ăng-ghen đã nhấn mạnh tới tính chất phụ thuộc của
sự phát triển gia đình với sự phát triển xã hội và theo đó ta nhận thấy loài
người đã trải qua các hình thái hôn nhân khác nhau.
9
Tổ tiên trực tiếp của loài người là giống động vật sống thành bầy, cho
thấy loài người đã trải qua giai đoạn bầy người nguyên thủy – tập đoàn sớm
nhất của loài người. Tập đoàn đó tồn tại trên cơ sở cùng kiếm ăn chung, cùng
phòng ngừa chung sự xâm hại từ ngoại lai, và cố nhiên sau nữa quan hệ giữa
nam và nữ rất tự do và thậm chí là hơi hỗn loạn. Tình trạng hôn nhân xưa
nhất đó gọi là “Tạp hôn” (Loạn hôn), “trong đó mỗi người đàn bà thuộc về
nhiều người đàn ông và ngược lại. Giữa ông bà, cha mẹ, con cháu, chị em
đều không có sự hạn chế tính giao nào. Trong tình hình đó, con cái chỉ biết
đến mẹ và đương nhiên việc nuôi dậy con cái là công việc chủ yếu của người
mẹ” [21].
Diễn biến của chủng tộc loài người về sau ngày càng thay đổi theo sự
phát triển của quan hệ xã hội, ở sự phát triển trong mối liên hệ giữa những
tập đoàn khác nhau của loài người. Những điều đó sẽ dẫn tới sự hôn phối
giữa các chủng tộc khác nhau, hình thành nên một kiểu hôn nhân thứ hai là

“Hôn nhân đối ngẫu là một cuộc cách mạng lần thứ nhất về hôn nhân
của loài người” [1]. Nếu trước đây trong các hình thức hôn nhân “mông
muội”, người con sinh ra không biết mặt cha, không nhận được sự dưỡng
dục từ cha thì nay nó ra đời trong vòng tay yêu thương ấm áp của cả cha và
mẹ. Đồng thời nó còn đảm bảo duy trì nòi giống cho thế hệ sau thúc đẩy sự
phát triển và tiến bộ của xã hội.
Như vậy nhìn lại lịch sử, ta đón nhận được biết bao điều kì thú, thấy
được từng bước phát triển để hiểu thêm được những điều đang diễn ra trong
cuộc sống ngày hôm nay.
2.2 Từ hôn nhân một vợ một chồng đến cưới hỏi là một bước tiến
văn minh.
Vào thời kì cuối của chế độ “Thị tộc mẫu hệ” sức sản xuất phát triển
rất lớn đã kéo theo sự phát triển của kinh tế, kéo theo sự thay đổi địa vị của
đàn ông và đàn bà trong nền sản xuất xã hội và trong nền kinh tế gia đình
11
chính là mấu chốt của sự chuyển từ chế độ mẫu quyền sang chế độ phụ
quyền. Cùng với quá trình chuyển đổi này “hôn nhân đối ngẫu” cũng phát
triển thành “hôn nhân một vợ một chồng”.
Khi địa vị xã hội cũng như địa vị trong lao động của người đàn ông
thay đổi, thì người phụ nữ trở về với bản chất mà tạo hóa ban cho mình, đó
là sự mềm yếu, cần được che chở và thương yêu. Còn người đàn ông cũng
khao khát được đem sức cường tráng của mình để che chở cho những người
phụ nữ. Trong quá trình lao động vất vả, tình cảm luyến ái giữa nam và nữ
đã bắt đầu nảy nở. Đặc biệt lúc này nhận thức đã phát triển cao độ, họ muốn
tất cả chỉ là của riêng mình. Do đó, họ muốn có một hình thức nào đó để
thông báo cho mọi người biết, để hai người chính thức được trở thành vợ
chồng, xây dựng một cuộc sống riêng, bền vững và lâu dài. Theo đó hình
thức hôn lễ hay còn gọi là cưới hỏi ra đời.
Hình thức cưới hỏi ước đoán “được ra đời vào thời kì quá độ từ chế độ
“Tòng phụ cư” sang chế độ “Tòng phu cư” [1].

nhà để sum vầy, tránh mưa, nắng; cũng khó như việc phải làm sao để lựa
được một con trâu tốt đảm bảo cuộc sống.
Ngay trong thời kì chuyển từ hôn nhân “đối ngẫu” sang chế độ một vợ
một chồng, con người đã có nhu cầu muốn khẳng định tình yêu chân chính,
tự nguyện của hai người; muốn được mọi người thừa nhận một tình yêu. Và
mong muốn đó vẫn còn giữ nguyên giá trị tới hôm nay.
Cưới hỏi còn có một giá trị nhân văn lớn lao đó là sự “duy trì và phát
triển giống nòi”. Với cư dân nông nghiệp trồng trọt, thì giống là hết sức quan
trọng và quý giá. Mất giống là mất tất cả, là tay trắng và ngược lại còn giống
là còn tương lai, hi vọng. Giống của cỏ cây hoa màu phải quý trọng như vậy,
“Giống” của con người còn quý trọng hơn bội phần. “Tiệt nòi giống” là lời
nguyền hết sức độc địa, mất giống là có nghĩa là tuyệt diệt, là kết cục thảm
hại mà không ai dám nghĩ tới. Coi sinh khí thực là biểu tượng về sự phát
13
triển của giống nòi và tiến hành những nghi lễ thờ phụng được người Việt
coi trọng, càng khẳng định tầm quan trọng của việc “bảo tồn giống nòi”.
Người Việt từ xưa đến nay luôn gìn giữ truyền thống luân lí đạo đức,
mọi việc làm đều phải dựa trên luân lí đạo đức của dân tộc. Cưới hỏi với
những hình thức lễ nghi long trọng và thiêng liêng như: lễ gia tiên, lễ hợp
cẩn, lễ lại mặt đã bộc lộ được những giá trị đạo đức tốt đẹp trong đạo hiếu đễ
với tổ tiên, trân trọng tình cảm vợ chồng. Mặt khác lễ cưới hỏi còn là dịp anh
em bạn bè được gặp gỡ, sum vầy; hàng xóm láng giềng được tụ họp, làm
tăng thêm tình cảm gắn bó giữa người với người, tăng thêm tinh thần cố kết
cộng đồng tình yêu làng xóm quê hương, đất nước.
Từ tôn trọng hạt giống con người đã tiến hành những lễ nghi cẩn
trọng. Người Việt có nhiều nghi lễ về hạt lúa, hồn lúa, bởi họ sợ nếu sơ sẩy
để hồn lúa bỏ đi thì thóc giống không nảy mầm được, mùa màng thất bát. Và
cũng như vậy tôn trọng “nòi giống”, những nghi lễ trong cưới hỏi của người
Việt cũng được tiến hành cẩn trọng.
Chắc hẳn trong chúng ta đã có người nghe thấy câu “Lục lễ bất bị, trinh

biên NXB Văn hóa thông tin,1995) đã tìm thấy 162 bài ca dao phản ánh
phong tục cưới hỏi của người Việt (chiếm 1,37%) (cần chú ý đây chưa phải là
con số cuối cùng) nhưng nó cũng không phải là quá ít để có thể trở thành một
nguồn tư liệu phản ánh một phong tục mang nhiều nét đẹp văn hóa dân tộc.
Trong quá trình thống kê khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhân vật trữ
tình trong ca dao cưới hỏi được biểu hiện thông qua lời của các nhân vật:
Bảng 1
Nhân vật trữ tình Số bài Tỉ lệ (%)
Lời của nam
Lời của nữ
Lời của cả nam và nữ
Lời mang tính chất chung tính
64
57
34
17
39,50%
35,18%
20,98%
10,49%
*Nhận xét:
15
Kết quả khảo sát trên cho ta thấy có sự chênh lệch về lời của nam và nữ
(Tuy tỷ lệ chênh lệch không quá lớn) nhưng đó cũng là điều cần phải chú ý.
Sau một thời gian tìm hiểu, tình yêu của hai người ngày càng trở nên
sâu sắc, mặn nồng, đó cũng là lúc những khao khát được gắn kết, hòa hợp
trọn vẹn không những về tâm hồn mà cao hơn còn là khao khát về sự bảo tồn
và phát triển giống nòi – một ý nghĩa có thể nói là quan trọng hàng đầu của
cưới hỏi. Khao khát đó nhiều khi không kìm nén được, nó được thốt lên từ
con tim đang căng tràn khao khát và tận hiến của nhân vật nam:

chủ thể trữ tình là trai hay gái, số bài ca dao mang tính chất chung tính trong
ca dao cưới hỏi là 34 bài. Nó thường xuất hiện dưới dạng “đôi ta”, “đôi
mình”, “hai ta”
- “Têm trầu bỏ đãy kim nhung
Đôi mình ước được chào chung mẹ thầy”
- “Ai làm cho bến xa thuyền
Cho trăng xa cuội, bạn hiền xa nhau
Cha mẹ sao chẳng nghĩ sâu
Để thương, để nhớ, để sầu cho cả hai ta”
Khát khao kết duyên, hòa hợp trong hạnh phúc cũng như những lời
trách móc, bùi ngùi không còn là của riêng ai, của nam hay nữ, nó là những
lời tâm sự biểu hiện tâm trạng chân thực và những ước mơ sâu kín của
những người bình dân.
Trong ca dao do đặc trưng bản chất thể loại là tính truyền miệng và
tính tập thể, bởi vậy mà lối nói được những người bình dân rất quan tâm
trong khi diễn xướng, đối đáp. Ca dao phản ánh phong tục cưới hỏi nổi bật
lên với những lối nói đầy thú vị:
17
Bảng 2
Lối nói Số bài Tỉ lệ %
Lối nói cụ thể, trực tiếp 120 74,07%
Lối nói bóng gió, gián tiếp 42 32,09%
Lối nói phóng đại, hài hước 33 16,66%
Lối nói chân thành, giản dị 129 79,62%

Lối bộc lộ trực tiếp là cách bày tỏ trực tiếp trạng thái tình cảm thậm
chí cái khó nói nhất là tỏ tình cũng được bộc lộ một cách hết sức tự nhiên, dễ
hiểu, chân thành tạo nên những xúc cảm mạnh mẽ. Các chàng trai, cô gái
không khép lòng mình mà có thể bày tỏ thẳng thắn điều mình muốn:
- “Anh về sắm nón sắm quai

vừa cảm nhận được cái chất phác, mộc mạc trong tâm hồn người chân quê,
lại vừa phải vận động tư duy liên tưởng để hiểu những gì mà họ nói, đó
chính là tài năng mà những người chân quê ấy đem lại cho mỗi người khi
thưởng thức những áng thơ dân gian trữ tình nói chung và ca dao cưới hỏi
nói riêng.
Ngoài ra người bình dân còn rất thích sử dụng lối nói bông đùa,
phóng đại, thể hiện tâm hồn vui tươi, hóm hỉnh sau những phút giây lao động
mệt mỏi. Đây thiết nghĩ là đặc trưng cho những nét đẹp trong tâm hồn người
Việt, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhân văn thể hiện cách sống lạc quan yêu đời
quên đi cảnh nghèo trong sự kiện quan trọng nhất của đời người, nên người
viết đi sâu khai thác trên góc độ nét đẹp tâm hồn tình cảm của người lao
động và những thủ pháp nghệ thuật để kiến tạo lối nói này ở chương III của
khóa luận. Chỉ dẫn ra đây mấy bài làm điển hình:
- “Cưới nàng anh toan dẫn voi
Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn
Dẫn trâu sợ họ máu hàn
19
Dẫn con chuột béo mời dân mời làng ”
- “Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng cuội, râu cằm thiên lôi
Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Chàng mà theo được thiếp cùng theo chân”
* Tiểu kết
Ở chương I người viết đã khái quát quan niệm về phong tục trên cơ sở
những quan niệm về phong tục của các nhà nghiên cứu văn hóa học. Từ đó
khẳng định được vai trò, tầm quan trọng của phong tục trong nền văn hóa
dân tộc.
Cùng với quan niệm về phong tục là quan niệm về phong tục cưới hỏi
của nhân dân ta. Bắt đầu từ những hình thức hôn nhân đầu tiên của loài

Qua với nàng hiểu rõ mấy năm
Tình yêu vẫn giữ âm thầm
Đợi quyền cha mẹ sắt cầm định phân”
Những rào cản đó khiến cho hai người yêu nhau nhưng luôn trong
trạng thái e dè, ngập ngừng khó nói được lời yêu:
- “Anh thấy em anh cũng muốn chào
Sợ lòng bác mẹ cây cao lá dài”
21
Nắm quyền trong tay, các bậc cha mẹ kén chọn thay cho con mình, họ
không cần biết đến cơ sở của hôn nhân là cần phải có một tình cảm chân
thành từ trái tim đến với trái tim. Họ chọn lựa dựa theo gốc gác, giống nòi:
- “Mua thịt thì chọn miếng mông
Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi”
Nhưng có lẽ điều mà họ quan tâm hơn cả trong khi kén chọn đó là “môn
đăng hộ đối”, là “hợp gia cảnh”. Họ chỉ chú ý tới những vật chất đầy giá trị
trước mắt mà không cần biết tới số phận, hạnh phúc tương lai của con mình:
-“Tham giầu mẹ ép gả em ra
Tưởng là mẹ chính, hóa ra mụ hầu”
-“Cha mẹ đòi ăn cá thu
Gả con xuống biển mù mù tăm tăm”
“gả con xuống biển” - một tín hiệu xa xôi, mù mịt, vô hình trước mắt như
báo hiệu sẽ chẳng bao giờ còn có hi vọng trở về quê nhà.
Tìm kiếm hạnh phúc trăm năm là quyền lợi chính đáng của con người,
vậy mà họ không được sở hữu, họ phụ thuộc vào quyền cha mẹ “sắt cầm
định phân”, họ không bao giờ biết trước được điều gì sẽ đến, cuộc đời họ mịt
mờ như gắn với “mười hai bến nước” , bến nước thì nhiều nhưng không biết
bến nào đục, bến nào trong. Tương lai cuộc đời họ thật vô định mà hạnh
phúc tưởng như quá xa vời và mong manh, khiến các cô gái thốt lên thật xót
xa khi tủi với phận mình như một trái cây đang bi đe dọa trước cơn bão táp:
- “Bớ thảm! Bớ thiết ơi! Bớ bạn tình nhân ơi!

nhau”, nam nữ đến tuổi trưởng thành, bắt đầu có khát khao kết duyên thì
ngoài việc nảy nở những “dấu hiệu tình yêu” với nhau thì quan trọng hơn là
còn phải có duyên có số với nhau nữa.
23
Cái “duyên” cái “số” ấy không phải ắt tự nhiên có được, mà từ bao đời
nay nó đã được thực hiện bởi một “vị thần mai mối”. Bắt nguồn “từ một
chuyện ngày xưa bên Tàu, có một người tên là Vi Cố. Một bữa đi chơi trăng,
gặp một ông già đang xe các sợi dây đỏ ở dưới bóng trăng. Hỏi thì ông ấy
nói rằng: ta là Nguyệt lão coi việc se duyên cho vợ chồng nhân gian, ta đã
buộc sợi dây này vào chân người nào thì dù thế nào cũng phải lấy nhau. Vì
thế ta cho việc vợ chồng là có Nguyệt lão định trước ” [20]. Đi vào trong
dân gian ta tồn tại như một tâm niệm, coi đó là điều không thể thiếu được
trong những mối lương duyên của con người. Nó tồn tại với những tên gọi:
ông Tơ, bà Nguyệt, Nguyệt lão, Trăng già. Và hình thành một lễ nghi quan
trọng trong cưới hỏi của người Việt – lễ “Tế tơ hồng”.
Khảo sát trong tổng số 162 bài ca dao phản ánh phong tục cưới hỏi
của người Việt có 29 bài ca dao (chiếm 17,90%) phản ánh quan niệm của
dân gian ta về ông Tơ bà Nguyệt. Ông Tơ bà Nguyệt không thể thiếu được
trong hôn nhân của con người, đóng vai trò như những người làm mối, xe
duyên cho mối lương duyên đời mình:
-“Ai về Bà Điểm, Hóc Môn
Hỏi thăm người ấy có còn hay không
Để tôi kiếm sợi chỉ hồng
Nhờ ông Tơ bà Nguyệt kết vợ chồng đôi ta”
Với tấm lòng thành kính, đặt niềm tin tưởng cao độ vào hạnh phúc có
được trong tương lai, có những lúc trái tim đang căng lên những nhịp đập của
tình yêu đã thôi thúc họ thốt lên những lời cầu xin tha thiết được xe duyên:
“ Yêu nhau chớ quản sang giàu
Bõ công ao ước, bõ ngày ước ao
Tôi ước làm sao duyên đây hợp đấy

Trích đoạn Em là con gái nhà quê Ham bên tài sắc nhiều bề ái ân Mẹ em tham thúng xôi rền Têm trầu mà giắt mái rui Cúi đầu lạy mẹ làm sui cho gần. Anh về dưới vạn Gò Bồi Bán mắm, bán cá lần hồi cưới em thành gia thất hay chưa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status