Hành vi mời và hỏi thể hiện phép lịch sự trong ca dao người việt - Pdf 29

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
PHẠM THỊ HƢƠNG

HÀNH VI MỜI VÀ HỎI
THỂ HIỆN PHÉP LỊCH SỰ
TRONG CA DAO NGƢỜI VIỆT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ

HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN

Được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên
khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, tôi đã hoàn thành luận văn
tốt nghiệp Đại học với đề tài: “Hành vi mời và hỏi thể hiện phép lịch sự

Tác giả khoá luận. Phạm Thị Hương. MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Đóng góp của khoá luận 5
7. Cấu trúc của khóa luận 5

3.2.2 Hành vi hỏi để giãi bày tình cảm 45
3.2.3 Hỏi để than trách 51
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ.
Nó cũng chính là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”[4, 201].
Vì vậy, hội thoại cũng là hoạt động quan trọng của dụng học, đồng thời hội
thoại cũng là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu khác. Sự hiệu quả
của một cuộc thoại đòi hỏi những đối tác giao tiếp phải tuân thủ những
nguyên tắc nhất định. Một trong những nguyên tắc như vậy là nguyên tắc lịch
sự, ở Việt Nam còn gọi là phép lịch sự.
Lịch sự là một nhu cầu trong xã hội văn minh. Hơn nữa lịch sự cũng là
một trong những thuộc tính diễn ngôn, một thực tế khách quan trong giao tiếp
bằng ngôn ngữ. Nguyên tắc lịch sự liên quan đến những vấn đề thuộc bản
thân người tham gia hội thoại. Nó không chỉ thuộc về kiến thức lí tính mà còn
bao gồm cả những vấn đề về khoảng cách giữa con người với con người trong
xã hội, về quyền lực của con người trong xã hội, về giới tính và cá tính dân
tộc. Vì vậy, khi giao tiếp cần tuân thủ phép lịch sự. Mặt khác, phép lịch sự
cũng tác động nhiều đến việc tạo lập các phát ngôn trong quá trình giao tiếp
đặc biệt qua các hành vi ngôn ngữ trong đó có hành vi mời và hành vi hỏi.

ngữ của ứng xử lễ độ. Lần đầu tiên, Nguyễn Đình Hòa đề cập đến mối quan
hệ giữa thể diện và ứng sử trong tiếng Việt. Trong đó, thể diện được hiểu như
sự tự hào về những giá trị xã hội mà mình có được.
Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn: Dụng học Việt ngữ khẳng định lịch sự
như một chuẩn mực xã hội. Tác giả viết: “Các nhà văn hóa thuộc nhiều dân
tộc khác nhau đã quan niệm lịch sự là hành vi xã hội có lễ độ hay phép xã
giao trong hành vi văn hóa”. Tác giả cho rằng: chuẩn mực xã hội trong giao
tiếp “không chỉ thể hiện ở lời nói mà còn thể hiện ở giọng, ở điệu”. Cùng với
việc khẳng định lịch sự là một chuẩn mực xã hội, tác giả cũng xác nhận rằng:
Trong giao tiếp còn một kiểu lịch sự nữa được thể hiện. Để miêu tả kiểu lịch
sự này cần biết khái niệm thể diện. Và thể diện theo hướng phân tích của các
3

tác giả thì thực chất là lịch sự chiến lược theo tư tưởng của Brown và
Levison.
Cho đến nay Vũ Thị Thanh Hương có lẽ là người nghiên cứu sâu hơn
cả về phép lịch sự trong giao tiếp bằng tiếng Việt thông qua các công trình
nghiên cứu như: Lịch sự và phương thức biểu hiện tính lịch sự trong lời cầu
khiến tiếng Việt và công trình: Lịch sự trong tiếng Việt hiện đại, tác giả đã
phác họa một mô hình lịch sự trong tiếng Việt bao gồm nội dung: lễ phép,
đúng mực, khéo léo, tế nhị.
Để xây dựng mô hình lịch sự, tác giả sử dụng phương pháp điều tra trắc
nghiệm. Kết quả cho thấy: xét trong quan hệ với lịch sự lễ phép và đúng mực
ở cùng bình diện khéo léo, tế nhị nằm ở bình diện khác. Điều này cho thấy
lịch sự gồm hai bình diện cơ bản: là lịch sự lễ độ hay lịch sự tối thiểu và lịch
sự chiến lược hay lịch sự xã giao thông qua các hành vi giao tiếp.
Cũng theo tác giả khái niệm lịch sự trong tiếng Việt bao gồm cả hai
bình diện lịch sự: lịch sự chiến lược theo kiểu phương Tây và lịch sự chuẩn
mực theo kiểu phương Đông. Cả hai bình diện này kết hợp hài hòa với nhau
hình thành nên nội dung khái niệm lịch sự trong tiếng Việt.

qua các hành vi nhỏ tiêu biểu có tần số xuất hiện tương đối nhiều.
Trong hành vi mời có: hành vi mời thăm danh lam thắng cảnh, hành vi
mời trầu.
Trong hành vi hỏi có: hành vi hỏi để tạo lập quan hệ, hành vi hỏi để
giãi bày tình cảm, hành vi hỏi để than trách.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung tìm hiểu những câu ca dao nói về đất nước con
người, ca dao nói về quan hệ xã hội trong đó tiêu biểu mảng đề tài tình yêu
nam nữ và hôn nhân, gia đình trong cuốn: “Tuyển tập tục ngữ, ca dao, dân
ca” của Vũ Ngọc Phan (NXB Văn hóa, 1998). 5

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Khảo sát, thống kê, phân loại
5.2. Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích các câu ca dao có chứa các hành vi giao tiếp cụ
thể là hành vi mời và hành vi hỏi thể hiện phép lịch sự.
5.3. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh dùng để so sánh số liệu, tần suất xuất hiện của
những hành vi mời và hành vi hỏi.
5.4. Phương pháp tổng hợp
Phương pháp vận dụng khi phân tích và so sánh để rút ra những nhận
xét và kết luận cần thiết.
6. Đóng góp của khoá luận
6.1. Về mặt lí luận
Từ việc khảo sát những hành vi mời và hành vi hỏi thể hiện phép lịch
sự trong ca dao Việt, đề tài góp phần làm phong phú thêm những kiến thức về
lịch sự trên đối tượng cụ thể là ca dao.

hình thức và nội dung trong giao tiếp với Sp2.
Ví dụ: “Tôi đi học.”
Hành vi mượn lời (acte perlocutoire) là hành vi Sp1 mượn phát ngôn U
đã được phát ra nhằm gây một hiệu quả ngoài ngôn ngữ cho Sp2: hiệu quả vật
lí (hành động vật lí của Sp2), hiệu quả tâm lí (thái độ, tâm trạng của Sp2)…
Các hiệu quả mượn lời này phân tán, không tính toán được và không có tính
quy ước. Đây là đối tượng nghiên cứu của xã hội học.
Ví dụ: “ Trời mưa rồi!” Sp2 có thể thấy lo lắng, có thể thấy vui mừng…
7

Hành vi ở lời (acte illocutoire) là hành vi Sp1 thực hiện ngay khi nói
năng, gây ra hiệu quả thuộc ngôn ngữ cho Sp2: hành vi hỏi của Sp1 đòi hỏi
Sp2 phải có hình thức hồi đáp trả lời, hành vi khuyên của Sp1 đòi hỏi Sp2 tiếp
nhận, lĩnh hội… Hành vi ở lời có tính ý định, có mục đích giao tiếp cụ thể và
chịu sự quy định của những quy ước, thể chế xã hội tuy không bộc lộ hiển
ngôn.
Ví dụ: Sp1: “ Mấy giờ rồi?”
Sp2: “ 8h”
Như vậy Sp1 đã thực hiện hành vi hỏi và Sp2 phải thực hiện hành vi trả
lời trước câu hỏi Sp1 đưa ra.
Hành vi ở lời là quan trọng nhất trong ba hành vi ngôn ngữ của Austin.
Nó trở thành đối tượng chính của ngữ dụng học, ngôn ngữ học. Vì thế khóa
luận này chúng tôi thu hẹp nội hàm là hành vi ngôn ngữ ở lời và tiêu biểu xét
ở hai hành vi cụ thể là hành vi mời và hành vi hỏi.
1.2 Lí thuyết hội thoại
1.2.1 Định nghĩa
Hội thoại là hình thức thường xuyên phổ biến giữa người với người
trong xã hội. Đó là hoạt động mà người nói dùng lời nói để tương tác, nhằm
trao đổi một vấn đề, một thông tin nào đó với người nghe. Hội thoại còn thực
hiện một chức năng của ngôn ngữ đó là chức năng công cụ để giao tiếp.

Thứ hai: các quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại.
Thứ ba: các quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân-phép lịch sự.
Theo GS TS Đỗ Hữu Châu nên thêm một nhóm nữa: nhóm quy tắc
điều hành nội dung hội thoại.
Trong khóa luận này chúng tôi sẽ đề cập đến ba quy tắc cơ bản của hội
thoại sau:
Thứ nhất: các quy tắc điều hành luân phiên lượt lời.
Thứ hai: các quy tắc điều hành nội dung hội thoại.
9

Thứ ba: các quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân-phép lịch sự.
1.2.2.1 Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
Trong cuộc hội thoại có hoạt động trao lời và đáp lời. Vì vậy, việc có
một quy tắc điều hành luân phiên lượt lời của các nhân vật giao tiếp có vai trò
quan trọng để đảm bảo quá trình diễn ra cuộc hội thoại.
Các quy tắc điều hành luân phiên lượt lời gồm một hệ thống những
“điều khoản” mà Sacks và các đồng tác giả phát biểu như sau:
- Thứ nhất: vai nói thường xuyên thay đổi nhau trong một
cuộc hội thoại
- Thứ hai: mỗi lần chỉ một người nói.
- Thứ ba: lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài
do đó cần có những biện pháp để nhận biết khi nào thì lượt lời chấm
dứt.
- Thứ tư: vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy
thường gặp nhau nhưng không bao giờ kéo dài.
- Thứ năm: thông thường lượt lời của đối tác này chuyển
đến đối tác kia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, cũng không bị
dẫm đạp lên nhau.
- Thứ sáu: trật tự (nói trước, nói sau) của những người nói
không cố định, trái lại luôn thay đổi. Do đó, một số phương tiện

Trong lời nói của chúng ta, thường truyền báo nhiều hơn những điều
được nói trực tiếp theo câu chữ. Nói cách khác, trong bất kì lời nói, lượt lời
nào cũng có nghĩa tường minh (nghĩa được nói ra trực tiếp theo câu chữ) và
nghĩa hàm ẩn (nghĩa không được nói ra trực tiếp chỉ được suy ra từ nghĩa trực
tiếp). Quy tắc điều hành nội dung hội thoại do đó phải điều hành không chỉ
những nghĩa trực tiếp theo câu chữ mà còn phải điều hành cả những nghĩa
hàm ẩn, những nghĩa phải suy nghĩ mới nắm bắt được.
11

Thuộc các quy tắc điều hành nội dung hội thoại có hai nguyên tắc cơ
bản là: nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc quan yếu.
1.2.2.3 Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân-phép lịch sự
Một cuộc hội thoại vẫn gặp trở ngại nếu như quan hệ liên cá nhân bị va
chạm cho dù nội dung thông tin, đích giao tiếp là đúng đắn và cần thiết.
C.K Orecchioni định nghĩa: “Khái niệm lịch sự bao hàm tất cả các
phương tiện của diễn ngôn bị chi phối bởi các quy tắc có chức năng giữ gìn
tính chất hài hoà của quan hệ liên cá nhân”.
Các lí thuyết về lịch sự được GS.TS Đỗ Hữu Châu giới thiệu tương đối
hoàn chỉnh. Đó là ba quan điểm của R.Lakoff, của G.N.Leech và của Brown
và Levinson trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học (tập hai). Các lí thuyết về
lịch sự của các tác giả trên chúng tôi xin trình bày ở phần dưới.
Những lí thuyết được nói trên đã cho thấy trong tương tác bằng lời và
tương tác xã hội những quan hệ liên cá nhân có vai trò không kém quan trọng
với những quan hệ nội dung. Phép lịch sự bị chi phối bởi những quy tắc tương
tự như quy tắc của Lakoff, của Leech nhưng những quy tắc này chỉ phát huy
tác dụng trên cơ sở thể diện của những người tham gia tương tác. Có thể quy
tắc lịch sự chi phối quan hệ giữa thể diện của những người nói và người nghe
trong hội thoại.
1.3 Các quy tắc lịch sự trong hội thoại
1.3.1 Lí thuyết lịch sự của Lakoff

“Thổ lộ tâm can hết với nhau”, bộc lộ hết mọi chi tiết của cuộc sống, kinh
nghiệm, cảm xúc. 13

1.3.2 Lí thuyết lịch sự của G.N Leech
Nội dung khái quát của quy tắc này là: giảm tới mức tối thiểu
những cách nói không lịch sự và tăng tối đa những cách nói lịch sự.
Leech cụ thể hóa quy tắc lịch sự trong sáu phương châm:
<1.> Phương châm khéo léo:
a. Giảm thiểu tổn thất cho người nghe
b. Tăng tối đa lợi ích cho người
<2.> Phương châm rộng rãi:
a. Giảm thiểu lợi ích cho ta
b. Tăng tối đa tổn thất cho ta
<3.> Phương châm tán thưởng:
a. Giảm thiểu sự chê bai đối với người
b. Tăng tối đa khen ngợi người
<4.> Phương châm khiêm tốn:
a. Giảm thiểu khen ngợi ta
b. Tăng tối đa sự chê bai ta
<5.> Phương châm tán đồng:
a. Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta và người
b. Tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người
<6.> Phương châm thiện cảm:
a. Giảm thiểu ác cảm giữa ta và người
b. Tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người
Mức độ lịch sự ở một hành vi ở lời theo Leech phụ thuộc vào ba nhân
tố:

Green) [4, 264].
15

Thể diện dương tính là cái “được phản ánh trong ý muốn mình được ưa
thích, tán thưởng, tôn trọng, đánh giá cao.” (J. Thomas), là “sự thỏa mãn một
khi giá trị của mình được tán thưởng” (G.M. Green). G. Yule giải thích cụ
thể hơn: “Thể diện dương tính của một người là cái nhu cầu được chấp nhận,
thậm chí được yêu thích bởi người khác, được đối xử như là thành viên của
cùng một nhóm xã hội và nhu cầu được biết rằng mong muốn của mình cũng
được người khác chia sẻ. Nói đơn giản thì thể diện âm tính là nhu cầu được
độc lập còn thể diện dương tính là nhu cầu được liên thông với người
khác”[4, 264].
C.K. Orecchioni cụ thể thêm hai khái niệm thể diện âm tính và thể diện
dương tính cụ thể như sau:
“ Tất cả các sinh thể xã hội đều có hai thể diện:
1. Thể diện âm tính tương ứng với cái mà Goffman gọi là
“lãnh địa của cái tôi” – lãnh địa cơ thể, không gian, thời gian, tài sản
vật chất hay tinh thần.
2. Thể diện dương tính nói tổng quát tương ứng với tính quá
tự mê, với toàn bộ hình ảnh tự đề cao giá trị của mình mà những người
hội thoại xây dựng nên về mình và cố gắng áp đặt cho người trong
tương tác.
Hai thể diện âm tính và dương tính là hai mặt bổ xung cho nhau chứ
không phải tách biệt nhau. Hai thể diện này phát huy tác dụng theo lối “cộng
sinh” với nhau, có nghĩa là một sự vi phạm thể diện âm tính cũng đồng thời
làm mất thể diện dương tính.
Orecchioni cho rằng trong một cuộc tương tác có bốn thể diện :
- Thể diện dương tính của người nói
- Thể diện âm tính của người nói
- Thể hiện dương tính của người nghe

17

Tuy nhiên, không phải chỉ khi nào có hành vi đe dọa thể diện chúng ta
mới có hành vi cứu vãn thể diện. Bản thân các hành vi ngôn ngữ tự chúng
không bao giờ cũng chỉ có hiệu quả đe dọa thể diện. Rất nhiều hành vi ngôn
ngữ khi thực hiện lại có hiệu quả làm trong sự tôn trọng thể diện của cả người
tiếp nhận và người nói.
Trong cuốn: “Laconversation” C.K. Orecchioni đề xuất khái niệm:
“Hành vi tôn trọng thể diện” . Face Flattering Acts viết tắt là FFA. Những
hành vi như khen ngợi, cảm ơn là những hành vi tôn vinh thể diện của đối tác
của người tiếp nhận. Hành vi tôn vinh thể diện phản đe dọa thể diện (FTA).
Như đã biết sự gia tăng thể diện và sự mất thể diện đi đôi với nhau như
hình với bóng cho nên sự đe dọa thể diện cũng luôn đồng hành với sự tôn
trọng thể diện. Đe dọa và tôn vinh thể diện là hai mặt của tác động của hành
vi ngôn ngữ đối với thể diện của đối tác trong giao tiếp.
1.3.3.3 Chiến lược lịch sự
a) Lịch sự âm tính và lịch sự dương tính
Phép lịch sự âm tính hướng vào thể diện âm tính, vào lãnh địa của đối
tác. Phép lịch sự dương tính là phép lịch sự hướng vào thể diện dương tính
của người tiếp nhận. Nói cụ thể hơn, phép lịch sự âm tính có tính né tránh, có
nghĩa là tránh không dùng những FTA hoặc bù đắp, giảm nhẹ hiệu lực của
các FTA khi không thể dùng chúng. Phép lịch sự dương tính nhằm thực hiện
những hành vi tôn vinh thể diện, tức hành vi làm gia tăng một trong hai thể
diện của đối tác. Phép lịch sự dương tính cũng nhằm gia tăng lợi ích thể diện
cho người nói, là cách người nói tìm cách gia tăng thể diện cho mình bằng
cách cố ý nêu bật mục đích làm cho đối tác nhận biết rằng người đó cũng có
cùng mục đích giao tiếp hội thoại như mình, hoặc dùng những từ ngữ thể hiện
thân tình bằng cách xử sự như vậy, người nói nghĩ rằng sẽ tạo lập được sự
liên thông với đối tác.


3.Thực hiện FTA bằng lối nói trắng có bù đắp theo phép lịch sự âm tính
2. Thực hiện FTA bằng lối nói trắng có bù đắp theo phép lịch sự dương
tính
1. Thực hiện FTA bằng lối nói khơng bù đắp.
19

Mỗi siêu chiến lược lại bao gồm một loạt chiến lược, có 15 chiến lược
cho phép lịch sự dương tính, 10 chiến lược cho siêu chiến lược lịch sự âm tính
và 15 chiến lược cho siêu chiến lược nói kín.
c) Lịch sự dương tính
1. Bày tỏ cho Sp2 sự chú ý của mình đối với Sp2
2. Nói quá sự tán dương, thiện cảm của mình đối với Sp2
3. Gia tăng sư quan tâm của mình đối với Sp2
4. Sử dụng những dấu hiệu báo hiệu mình cùng nhóm với Sp2
5. Tìm sự tán đồng
6. Tránh sự bất đồng
7. Nêu ra những lẽ thường
8. Hãy biết nói đùa, nói vui
9. Quan tâm tới sở thích của Sp2
10. Mời, hứa hẹn
11. Hãy tỏ ra lạc quan
12. Lôi kéo Sp2 cùng với mình làm chung một việc
13. Nêu ra lí do của hành động
14. Đòi hỏi sự có đi có lại
15. Trao tặng cho Sp2 cái gì đó
d) Lịch sự âm tính
1. Dùng lối nói gián tiếp đã thành quy ước
2. Dùng các yếu tố rào đón hay tình thái hóa
3. Hãy tỏ ra bi quan
4. Giảm thiểu sự áp đặt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status