ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
VÕ MINH TUẤN
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN cứu HIỆN TƯỢNG
TÔN GIÁO MỚI VÀ XU THÊ HIỆN NAY
LUẬN VÃN THẠC s ĩ TRIÊT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử
Mã số: 5.01.02
Người hướng dẫn khoa học: GS. Đặng Nghiêm Vạn
Hà Nội, 2001
2
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan 3
Chữ viết tắt 4
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài 5
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài 7
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 9
4. Phương pháp nghiên cứu 11
5. Đ óng góp mới của luận văn 11
6. Giá trị thực tiễn của luận văn 12
7. Kết cấu của luận văn 12
Chương I: Khái quát về hiện tượng tôn giáo mới
trên thê giói và Việt Nam
1. Bối cảnh lịch sử của hiện tượng 13
2. Sự xuất hiện của hiện tượng 17
3. Bản chất hiện tượng 31
Chương II: Vận động của hiện tưọng tỏn giáo mới
qua xu thế tôn giáo hiện nay
1. Vận động 39
sống tôn giáo luôn chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội. Trong lịch sử,
có rất nhiều bằng chứng cho điều đó.
Đặng N ghiêm Vạn trong bài D iễ n trình tôn ý á o q u a lịch sử nhân lo ạ i
[38] đã đưa ra 5 mốc lịch sử lớn gắn liền với những thời kỳ vận cịộng của
tôn giáo: 1- Thời kỳ xã hội loài người xuất hiện (thời kỳ tôn giáo xuất
hiện); 2- Thời kỳ xã hội loài người bước vào ngưỡn? cửa văn minh: Các
quốc gia dân tộc hình thành (sự ra đời các tôn giáo dân tộc); 3- Thời kỳ
xuất hiện các đế chế xuyên quốc gia của từng khu vực (sự ra đời các tôn
giáo khu vực); 4- Thời kỳ xã hội công nghiệp xuất hiện (sự xuất hiện tự
do tôn giáo); 5- Thời kỳ hiện nay-thế giới đang bắt đầu tiến triển theo xu
thế toàn cầu hoá (thời kỳ bắt đầu xuất hiện những dạng tôn giáo thích
nghi với xu thế toàn cầu hoá).
Nói về những hình thức tôn giáo sơ khai, X. A. Tocarev (1899-1985)-
nhà dân tộc học, nhà tôn giáo học nổi tiếng của Liên xỏ (cũ), đã có nhận
xét: "Mức độ lâu đời của chúng, trình độ phát triển của chúng lệ thuộc
không phái vào chính bản thân chúng, mà vào mảnh đất vật chất xã hội
mà trên đó từng hình thức tôn giáo đã hình thành. Chính trình độ phát
triển lịch sử của hình thức sinh hoạt xã hội này hay khác đã m ang lại cho
ta khả năng xác định trình độ phát triển lịch sử của hình thức tôn giáo mà
nó sản sinh ra. Do đó, tính liên tục, sự phát triển của các tín ngưỡng tôn
giáo có thể xác định một cách gián tiếp" [30, 56-57].
6
Song hành cùng với con người, tôn giáo cũng luôn luôn vận động, cả
về mặt hình thức lẫn nội dung, biến đổi phù hợp với thực tế xã hội, cô
gắng làm cho mình thích nghi hơn trong một hoàn cảnh mới. Trên cái
nền của những vận động và biến đổi xã hội, càng về sau tốc độ càng
nhanh hơn và sâu sắc hơn, để thích ứng và tồn tại, m ọi hình thái ý thức xã
hội, trong đó có tôn giáo, cũng chuyển biến theo xu hướns chịu ảnh
hưởng và tìm cách thích nghi.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng đã từng nói
mức hình thành một phong trào, và mang trong mình những nội dung
chịu ảnh hưởng của một thời hiện đại, khác về chất so với các hiện tượng
trước kia. Trên thế giới và gần đây là ở cả Việt Nam, những hiện tượns ấy
ngày càng trở nên nhiều và đa dạng hơn. A. Malraux đã từng nhận xét:
"Vấn đề then chốt của cuối thế kỷ này sẽ là vấn đề tôn giáo được diễn ra
dưới m ột dạng khác với sự hiểu biết của chúng ta, cũng như đạo Kitô đã
làm với những tôn giáo cổ đại. Nhưng nó sẽ không còn là vấn đề Đ ấng
Tối Cao" [55, 15].
Chính vì vai trò quan trọng của tôn giáo nói chung và các hiện tượng
tôn giáo mới nói riêng như vậy, nên không thể không nghiên cúu đê cô
gắng đưa ra được những đặc điểm, nguyên nhân và thử dự đoán những xu
thế của nó. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện tại, các hiện tượng này đang
hình thành, vận động và biến đổi, rất cần một nghiên cứu bước đầu.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN cứ u CỦA ĐỂ TÀI
Các hiện tượng tôn giáo mới, do tính đương đại của nó nên chưa có
một thời gian tổn tại dài đủ để định hình và ổn định, giúp cho công việc
nghiên cứu dễ dàng, vì thế có không nhiều lắm những công trình khoa
học nghiên cứu về đối tượng này trên thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam.
V ề nhũng sự vận độn^ biến đổi mới trong đời sống tôn giáo, các nhà
khoa học thế giới đã rất quan tâm nghiên cứu. Xin eiới thiệu một sô cône
trình tiêu biểu.
Trước hết là Max W eber với S o c io lo q ie d es r e liẹ io n s (Xã hội học tôn
giáo) [58] đã đưa ra khái niệm phân biệt giữa hai hình thức tồn tại của tôn
giáo là giáo hội và giáo phái, cung cấp những đặc điểm khác biệt eiữa
chúng. K ế thừa tư tưởng của W eber là Jean-Paul W illiam e [59] với việc
tiếp tục đưa thêm một loại hình thứ ba mà chúng tôi sẽ phân tích ở phần
sau. Đ ặc biệt, tác giả Francoise Champion [57] với thuật ngữ hệ tinh ván
h u yền b í đã đưa ra một khái niệm tương đỏi phổ quát về các hiện tượng
tôn giáo mới đương đại, vạch ra 7 tính chất của hiện tượng này.
Trong cuốn C ả i cá ch và cách m ạ n ạ tr o n ẹ c á c x ã h ộ i tru yền th ố n g [23],
sơ lược về tình hình biến đổi trong tôn giáo ở Trung Q uốc, Nga. Ồng
khẳng định: Đ ã đến lúc cần phải nhìn tôn giáo như m ột cơ thể sống có
khả năng tự thay đổi, hồi phục sức sống và thích nghi, đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay.
ở Việt Nam , V iện Thông tin Khoa học Xã hội thể hiện cố gắng cập
nhật của mình bằns cách cho tập hợp và dịch một số bài nghiên cứu tốn
giáo gần đây của các học giả nước ngoài. Có liên quan đến vấn đề hiện
tượng tôn giáo mới là các bài của Balagushkin E. G.: C á c tôn ạiáo m ớ i
vớ i tỉnh cá c h là h iện tư ợ ng văn h ó a -x ã h ội và tư tư ở n ẹ h ệ, cua Lin
9
Zhaorong: K in h t ế th ị trườn g và hư ớn g đ i của tôn qiáo T ru n ẹ Q u ố c , của
Chen Choumei: P h ân tích việ c sửa đ ổ i lu ậ t ph á p nhân tôn ẹiá o củ a N h ậ t
B ản , của I. Robertson : T ôn g iá o ở H o a K ỳ [27].
Trong tác phẩm N h ữ n ẹ vấn đ ê tôn g iá o hiện n ay , Đ ặng N ghiêm Vạn
với bài Đ iểm q u a tình hình tôn qiáo hiện n a y , đã nói về thực trạng nảy
sinh các hiện tượng tôn giáo mới, "bắt nguồn từ sự khủng hoảng niềm tin
trần tục, sự bất mãn, cuồng tín phủ nhận thế giới đương sống, phủ nhận
các tôn giáo chủ lưu, mà họ cho là một thứ tôn giáo khô cứng, với một tổ
chức lỗi thời" [39, 21]. Tác giả có nhắc đến công trình L es N o u ve lls
S e c te s (Những giáo phái mới) của A. W oodrow, Paris, 1987. Tiếp đến là
công trình của M. c . Ernst, S ec tes e t c u lte s CIUX E ta t-Ư n is d a n s lcs an n ées
d e 70 (Các giáo phái và nhóm sùng bái ở M ỹ trong những năm 70), Paris,
1991. M. c . Ernst cho rằng sự xuất hiện của các hiện tượng tôn giáo mới
là đáng suy nghĩ, vì cùng với sự 2 ;iao lưu kinh tế và văn hoá, hiện tượng
này đã lan dần từ châu M ỹ, châu Âu đến mọi nơi trên thế giới và trở
thành một trào lưu đáng tính đến.
Viện Nghiên cứu Tôn giáo với cuốn Vê tôn qiáo tín nqưữnq V iệt N am
hiện n a y , có bài của Đ ặng N ghiêm Vạn: M ột s ố vấn đ ề lý lu ận và thực
trạ n q tôn ỳ á o V iệt N a m [37], tiếp tục để cập đến một cách khái quát về
việc các hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện thời hiện đại. Cũng trong cồng
3.3. Phạm vi
N ghiên cứu những hiện tượng tôn giáo m ới xuất hiện tronơ những năm
gần đây, trên thế giới và ở Việt Nam . Trên thế giới là từ những năm 70
của thế kỷ X X , còn Việt Nam từ 1986 đến 1996.
Lẽ dĩ nhiên không thể cô lập m ột giai đoạn, m à cần phải đặt nó vào
trong tiến trình lịch sử chung. V ì thế, luận văn sẽ m ở rộng về mặt thời
gian, sẽ đề cập tới các giáo phái trong phong trào cứu thế ở châu M ỹ
Latinh, đến đạo Bahai vào cuối thế kỷ X VIII đầu thế kỷ XIX. Với Việt
Nam là Bủn Sơn Kỳ Hương, Cao Đài, Hoà Háo, Tứ ân Hiếu nghĩa từ nửa
cuối thế kỷ XIX. Sự m ở rộng này chí đế nhấn mạnh thêm cho các luận
điểm được đưa ra.
11
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
V ề phương pháp, cơ sở lý thuyết nghiên cứu, tác giả xuất phát từ nển
tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặt đôi tượng ơ
trong trạng thái vận động và phát triển, từ lúc sinh ra, tồn tại và tiêu VOI12,
vì trong quá trình ấy mà đối tượng bộc lộ chất, đặc điểm của mình. Đặt
đối tượng trong một bối cảnh lịch sử (chủ yếu là hôm nay) để làm rõ tính
qui định của thực tiễn, của thòi đại với một hình thái ý thức xã hội. Xác
lập những mặt thống nhất và đối lập bên trong đối tượng đê chi ra quá
trình vận động tự thân.
Cũng không kém phần quan trọng khi áp dụng phương pháp xã hội học
vào nghiên cứu, vì nó sẽ cung cấp những bằng chứng hiện thực đi đến các
luận điểm , luận cứ khoa học. Một bộ phận của xã hội-tôn giáo, thì khônR
thể tách rời vận động xã hội.
Phương pháp lịch sử cũng không thể bó qua vì nó sẽ góp phần vạch ra
quỹ đạo của hiện tượng, hiểu được quá trình vận động và phát triển, từ đó
dự báo xu thế trong tương lai.
Và cuối cùng là sự kết hợp cả ba phương pháp trên để hỗ trợ, bổ sung
cho nhau. Trên thực tế, các phương pháp nghiên cứu khôns tách rời nhau
Đ ổn g thời, luận văn cũng sẽ là cơ sớ cho những nghiên cứu tiếp theo về
đối tượng, đặc biệt dưới góc độ triết học.
7. KẾT CÂU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm hai chương, không kể Lời nói đầu, M ở đầu và Kết luận.
Chương I: Khái quát một số hiện tượng tôn ơiáo m ới trên thế siới và
Việt Nam.
Chương II: Vận động của hiện tượng tôn giáo mới qua xu thế tón giáo
hiện nay.
13
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỂ HIỆN TƯỢNG TÔN GIÁO MỚI
TRÊN THÊ GIÓI VÀ VIỆT NAM
1. BỐI CẢNH LỊCH sử CỦA HIỆN TƯỢNG
Những hiện tượng mới có tính tôn giáo đều luôn gắn liền với hoàn cảnh
xã hội. Cái bối cảnh lịch sử của thời hiện đại-mảnh đất đứng chân cua các
hiện tượng tôn giáo mới hiện nay là gì?
Lịch sử nhân loại thời hiện đại đã đi qua những biến động rất lớn, với
những đổi thay vô cùng nhanh chóng. Bước sang thế kỷ X X , sự kiện làm
rung động toàn thế giới là thành công rực 1 Ỡ của Cách m ạng tháng Mười
Nga, m ở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên giải phóng con người. Tiếp
đến, là những thành tựu vĩ đại do cuộc cách mạng khoa học công nghệ
lần thứ hai vào những năm 50 của thế kỷ đem lại. Người ta mơ về một thế
giới đại đổng, về một xã hội văn minh tươi đẹp ngay trên trần thế này.
Điều đó dẫn đến việc tôn giáo gần như bị suy thoái, niềm tin tôn giáo bị
giảm sút. Các hiện tượng khô đạo, nhạt đạo xuất hiện.
Ngay từ trước đó, trong triết học đã xuất hiện tư tưởng về cái chết cua
tôn giáo. Tổ phụ của triết học hiện sinh-nhà triết học Đức F. Nietzche
(1844-1900), đã từng tuyên bố: "Thượng Đ ế đã chết". Thượng Đ ế là khái
niệm tận cùng của chuỗi phạm trù "nhập cuộc", "tha nhân" của chu nghĩa
hiện sinh [3]. Cái chết của Thượng Đ ế là cái chết của những giá trị cũ. v ề
bó kín đằng sau cánh cửa nhà thờ, tôn giáo đã hoà vào tâm kham của
từng cá nhân. "Chết" ở đây là sự biến mất của nhữns cái nhìn cũ về tôn
giáo. Con người thời đại mới muốn thay thế một đức tin cổ điển vào
Thiên Chúa bằng đức tin về một thế giới mới với những tiến bộ khoa học
kỹ thuật. "Thiên Chúa siêu việt của Kinh thánh đã bị giết chết, và người
giết Thiên Chúa không phải là những người vô tín ngưỡng, mà là thứ tôn
giáo mới đồng hoá Nước Chúa với đô thị trần thế, đồng hoá niềm tin Kitô
với tiến bộ của con người" [9, 136].
Hamilton, giáo sư thần học Tin Lành, cho rằng rất khó nói về Thiên
Chúa, và một Thiên Chúa với tư cách sứ giả đến với con người-đã chết.
Ông kết luận: Người ta có thể là Kitô hữu mà vẫn khước từ nói về Thiên
Chúa [9, 136]. Người ta khôn? còn hình dung về Thiên Chúa theo một
hình ảnh như xưa, mà Thiên Chúa ấy hôm nay phải được xuất hiện dưới
một hình hài mới.
Trong Ỹ n ẹh ĩa trần th ế củ a Tin M ừng, Buren cho rằng hai từ "Thiên
Chúa" không còn ý nghĩa nữa, và đối tượng chính của Kitô giáo khóng
phải là Thiên Chúa mà chính là con người [9, 137].
15
Thomas Altuzer nhận xét: Ngôi Hai (Chúa Jesus) đã nhập thê và huy
bỏ hình hài linh th iêng trước kia của m ình [9, 137]. "Chết" ờ đây chì là sự
từ bỏ hình hài cũ và nội dung cũ, cò n ý niệm về m ột Đ ấn g tối cao vẫn
còn , và bắt đầu được xuất hiện dưới m ột bộ dạng m ới.
N hưng đấy m ới chỉ là những khúc dạo đầu ch o m ột h iện tượng m à sau
này đã trở thành m ột phong trào. V ào đầu những năm 8 0 tiếp đó, m ột
cu ộ c kh ủng hoảng khác rộng lớn hơn c ó tính toàn cầu: khủng h oản s dân
tộc, tôn g iáo, m ôi trường, thể ch ế, giai cấp, đã xảy ra và vẫn còn cho
đến h ôm nay. V à đặc biệt, sự tan rã của Liên bang X ô viết, k éo theo sự
sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đ ô n g  u đã làm chấm dứt thời kỳ chiến
tranh lạnh, m ở đầu m ột thời kỳ m ới có tính toàn cầu với những cuộc
khủng hoảng m ới.
nh iều tranh cãi kh ông chỉ về m ặt khoa h ọc mà về cả đạo đức. V ấn đề con
người hiện đại là vấn đề lý tính trong sự giáp ranh giữa h iện thực và phi
hiện thực. N hững xáo trộn xã h ội, cu ộ c khủng hoảng niềm tin và tâm
trạng ch ờ đợi nơi bản lề thiên niên kỷ cũn g góp phần vào việc làm thay
đổi các quan niệm . Chưa bao giờ vấn đề giai cấp, dân tộc và tôn giáo
trong bối cảnh toàn nhân loại được đặt ra gay gắt như hôm nay.
N gư ời ta đưa ra 6 đặc trưng thời đại là:
1. Thời đại tiến tới trí tuệ hóa, k éo theo là quốc tế hóa đời sốn g kinh tế xã
hội.
2. M ột xã hội của thông tin, nối kết toàn thế giới dưới m ái nhà chung.
C ách m ạng thông tin đã gia nhập vào lực lượng sản xuất hiện đại.
3. N ền kinh tế thế giới tiến tới hòa nhập toàn cầu, hình thành các liên
m inh đa q uốc gia như EU , A SE A N .
4. G iá trị m ột quốc gia được đánh giá trên năm phẩm chất: dân cu' được
giáo dục tốt, nguồn nhân lực trí tuệ cao, quỹ chất xám dồi dào, cơ c h ế tài
chính linh hoạt và đội ngũ doanh nhân tài năng.
5. Các q u ốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, dẫn đến sự hợp tác toàn
cầu, đặc biệt là hợp tác trí tuệ.
6. Ô nhiễm m ôi trường, bùng nổ dân số, bùng nổ lương thực, thất nghiộp-
những cu ộ c khủng hoản g lớn m à không m ột quốc gia nào trên th ế giớ i có
thể tự m ình giải quyết được.
T h eo Y . Lam bert thì đây là "thời kỳ trục quét" [15]. T rong lịch sứ có
những thời k ỳ m à con người phải xem xét lại những chuẩn giá trị và biếu
tượng đã hình thành nên từ trước đến nay. Hệ biểu tượng tương lai được
cấu trúc lại thành bốn nội dung cơ bản của thời hiện đại: 1- Ham m uốn tự
do, ý ch í tự do. 2- K hoa h ọc kỹ thuật. 3- Sự xuất hiện của quần chúng
trên sân khấu th ế giới. 4 - Quá trình quốc tế hoá. Cũng th eo Y. Lam bert,
17
còn c ó thể thêm vào ba nội dung nữa: Sự ưu th ế của lý trí. Sự phát triển
của kinh tế. Sự phân biệt hoá, đa dạng hóa chức năng.
Phụ bản cuốn Bách khoa từ điển các tôn giáo M ỹ, năm 1987, liệt kê
2 0 6 nh óm m ới. N iên giám các giáo hội M ỹ và C anada, năm 1998, ghi
nhận c ó 2 2 0 giáo phái.
Tại N hật Bản, theo Bách khoa thư tôn ẹiáo N hật Bản, những tổ chức
tôn g iáo này lên tới hàng trâm.
T heo Bản tường trình G uyard (hay còn gọi là C ác giáo phái ở Pháp)
do U ỷ ban điều tra quốc hội Pháp trình bày, Pháp hiện có 172 giá o phái
đang gây ra những sự x áo trộn trong xã hội. Có thể kể ra các nhóm tiêu
biểu như L iên m inh toàn thể, H iệp sĩ hoa sen vàng, N gư ời n goài địa cầu
E loh im , N hững nội dung m à nhiều nhóm trong số này thường đề cập
đến là hướng về sự hoàn thiện và đề cao năng lực của con người, bảo vệ
m ôi trường, đề cao tính cộn g đồn g tình cảm .
Linh m ục G iu lio X esa K lisaga thuộc H ội đồng Tòa Thánh đôi thoại
liên tôn giáo vùng châu M ỹ Latinh ch o biết tại Ư rugoay hiện có chừng
2 0 0 g iá o phái đang hoạt đ ộn g [36].
Đ ể cung cấp m ột cái nhìn cụ thể về các hiện tượng, xin giớ i thiệu m ột
sô nhóm tiêu biểu dưới đây.
V ới nhóm Hare K rishna, các tín đồ thường m ặc áo ch oàn g m àu vàng,
đầu cạ o trọc, nhảy m úa, tụng kinh và ăn xin tại nơi cô n g cộ n g trên đường
phố, sân bay, ga tầu. Có g ố c gác từ m ột nhóm phái m ang hơi hướng đạo
Hindu có tên International Society fo r Krishna Consciousness (H iệp hội
quốc tế vì ý thức K rishna), du nhập từ An Đ ộ vào M ỹ năm 1965. Thực
hành lối sốn g độc thân, khổ hạnh. Hare K rishna yêu cầu các thành viên từ
bỏ lối sốn g cũ, x em xét lại những giá trị truyền thống. N h óm này chú
trương rằng, để đạt được m ột ý thức K rishna (giác n g ộ) khôn g cần nhiều
năm ch iêm ngh iệm , m à chỉ cần thực hiện đủ các nghi lễ-m ộ t biến đổi phù
hợp với đời số n s hiện đại. N hữ ng thành viên chủ yếu là tầng lớp trung
lưu, trong đ ộ tuổi 20 đến 30 [27, 2 4 8 -2 4 9 ].
M ột nh óm khác, c ó cái tên khá dài: The International Suprem e M aster
C hing Hai M editation A sso ciatio n (IS M C H M A ), được dịch ra là Thanh
cũng xin giới thiệu sơ lược.
H ình thành tại Ba Tư vào cu ối th ế k ỷ X V III đầu th ế kỷ X IX , chính
thức ra đời qua lời tuyên ngôn của M irza A li M uham ad ngày 2 3 -5 -1 8 4 4
tại M ecca, nơi sau này được coi là thánh địa. Từ đó quy tụ dần các tín đồ
và nhanh ch ó n g trở thành m ột tổ chức tôn giáo m ạnh. Tôn g iáo Bahai vào
V iệt N am bởi hai phụ nữ: bà Shirin Fozdar đặt chân đến Sài G òn ngày
1 8 -2 -1 9 5 4 . Tháng; 6 cùn g năm , con dâu là Parvati Fordar tiếp tục đến.
C uộc truyền đ ạo bắt đầu. Dần dần, tôn g iá o Bahai lan rộn g ra m iền N am ,
m iền T rung và lên Tây N g u yên . Tính đến năm 1963-thời kỳ đinh ca o, số
tín đ ồ lên tới xấp xỉ 10 .00 0 người. Sau 1975, bị chữ ne lại và tạm ngừng
hoạt đ ộn g. C ho đến 1989, dần dần khôi phục. Đ ến năm 1993, bắt đầu lan
ra m iền Bắc và cắm chân được ở m ột vài nơi như H à N ộ i, Hà T ây, Ra
đời từ tinh thần phản k háng cứa những người dân Ba Tư đang phái chịu
20
ách áp bứ c nặng n ề của tầng lớp thống trị, từ những xung đột xã hội và
tôn g iá o sâu sắc, tồn g iáo Bahai hướng m ạnh về tính cộ n g đồng, dân chủ
và trí tuệ. K hôn g phải ngẫu nhiên m à nhiều tín đồ Bahai thuộc tầng lớp trí
thức. N hững tôn chỉ nó đưa ra, về cơ bản đều phù hợp với nh ữ ns gì con
' người m ơ ước về m ột thế giới yên bình, hạnh phúc và đại đồng. Bahai cho
là c ó Thượng đ ế nhưng con người k h ôn g thể nói về Thượng đế, Thượng
đ ế ngự trị thiêng liên g trong trái tim và m ỗi người c ó riêng cho m ình một
hình ảnh về Thượng đế. T hiên đường là n gay trên Trái Đất này, và chính
m ỗ i chún g ta phải nỗ lực xây dựng thiên đường ấy, không phải bằn s
những lời ngu yện cầu, m à bằng hành đ ộng [41].
N gà y càng nhiều và sôi nổi các nhóm có nguồn gốc từ đạo Tin Lành
đang hoạt đ ộn g trên thế giớ i. N hân chứng Jehovah là một nhóm khá
m ạnh với hàng triệu thành viên rải khắp các nước châu  u, gần đây lưu
hành những ấn phẩm định kỳ tại V iệt Nam : Watch Toxver (Tháp canh),
Wake up (Đánh thức). C ác nhóm M orm ons, Cơ đốc Phục lâm , Q uakers,
M en n o n ities, H uttles, Christian S cien tist, cũn g được tính đến với m ột
dục với siêu ý thức). 1968, giớ i thiệu dynam ic m editation (phương pháp
thiền định động). D ần quy tụ nhiều tín đồ và chung tiền m ua gần 2 6 .0 0 0
ha đất ở bang O regon, M ỹ, lập nên m ô hình "thành p h ố tron£ mơ" có tên
Rajneeshkpuram , gồ m 5 0 0 0 côn g xã tự quản và m ột trung tâm truyền
thông. G iáo lý của O sh o là sự nhào trộn nội dung của các tư tưởng khác
nhau ở đạo L ão, đạo Phật, Có thể thấy được m ột phần tư tưởng của hiện
tượng này qua d òn g chũ' bằng vàng trên đá cẩm thạch trên m ộ O sh o tại
thành phố Pune m iền tây  n Đ ộ: "Oshu: never bo m , never dìed. Only
visited the plan et Earth between D ec. 11, 1931 and Jan. 19, 199 0" (tạm
dịch: O sho: không c ó sinh, không có chết. Chỉ viến g thăm hành tinh Trái
Đất từ 11 -12-193 1 đến 19-1 -19 9 0 ). O sh o tự cho m ình là m ột con người
phi thường đi tìm chân lý, và đã thoát ra khỏi vòng sinh tử, k h ôn g có sinh
và kh ôn g có chết. C uộc đời chỉ là m ột khoảnh khắc trong m ơ, còn cái
vĩnh hằng tìm thấy ở thiền định, không phải loại thiền định thông thường,
mà thiền định gắn liền với tình dục như m ột phương thức siêu giải thoát
[27].
G iáo hội khoa học luận, m ột nhóm bắt đầu k hông phải từ tôn giá o , m à
là khoa học-m ộ t phép tâm lý trị liệu có tên "clianetics", được đề xướng
năm 1950 bởi nhà văn khoa học viễn tưởng L. R on Hubbard. Hai năm
sau, Hubbard đãng ký phương pháp này với tư cách m ột tôn giáo. V à sau
đó thêm thắt vào phần g iáo lý để tạo nên m ột thứ tôn giá o -k h oa h ọc trộn
lẫn. T h eo Hubbard, con người là hiện thân và tái h iện thân của sinh vật
tâm linh gọ i là "Thetans", và Hubbard ch o rằng m ình đã 7 4 .0 0 0 tỷ tuổi.
G iáo hội khoa h ọc luận lan sang m ột vài nước, đưa con số thành viên lẽn
m ột triệu người. N h óm này đã làm nên nhiều tai tiến g trong các vụ điều
trị đương thời bị ch o là bịp bợm . 1980, Hubbard bị điều tra các hành vi,
và đột n gột biến m ất năm 1986 [27, 250].
N g ô i đền của các dân tộc do Jim Johns khới xướng tại C a liío m ia , M ỹ
vào đầu những năm 60 , quy tụ được trên 2 0 .0 0 0 tín đồ. Jim Johns tuyên
22
ác" [37, 4 3 9 ].
N gười ngoài địa cầu E loh im , m ột nhóm xuất hiện tại Pháp năm 1974,
do C ỉaude V orilh on-tự xưng là R ael, sán g lập và dần trở thành P hong trào
R ael ở Pháp những năm sau đó. Lan sang Thuỵ Sĩ, Bí, A nh . H y Lạp,
Canada với chừ ng trên 2 0 .0 0 0 thành viên. T heo R ael, con người trén Trái
Đ ất là d o những "người ngoài địa cầu Elohim " ch ế tạo nén từ ph òng thí
23
ngh iệm , vì th ế loài người phải chuẩn bị ch o giờ phút những người E lohim
viến g thăm Trái Đ ất. Chỉ những ai theo nhóm này m ới được hường sự bảo
trợ vĩnh hằng [3 7, 4 3 9].
T ổ chức Q u ốc T ế L ucien Joseph E n gelm ạịer có giáo chủ là L ucien
E ngelm ajer sinh ngày 2 7 -1 1 -1 9 2 0 tại Francfort-sur-le-M ain, Pháp, trong
m ột gia đình D o Thái g ốc Ba Lan. Từng đi lính trong chiến tranh. 1963,
lui về vùng quê T ou lou se, bắt đầu lập đạo. Thuyết phục tín đồ bằng việc
m ô tả th ế giới như địa ngục, và chỉ có theo E ngelm ajer m ới được giải
thoát. 1971, bổ sung thêm cho uy tín bằng cách chữa bệnh cho kẻ nghiện
m a tuý qua việc thành lập m ột trung tâm cai nghiện . 1979, lập thêm m ột
trung tâm nữa tại Tây Ban Nha, vừa chữa nghiện vừa tập hợp thành viên.
V ào thời kỳ thịnh nhất, số trung tâm của E n gelm ajer lên tới 2 5 0 ớ khắp
châu  u và M ỹ. 1985, sau m ột cuộc điều tra về phương pháp chữa bệnh
hành xác của các trung tâm này, những người tiến hành đã chính thức
kiến nghị Chính phủ Pháp rút g iấy phép hoạt động của E ngelm ajer. N ăm
1996, C hính phủ đã ra quyết định ngừng hoạt động của nhóm này. N ăm
1998, 31 thành viên của chính nhóm phái này đã đòi Engelm ajer phải từ
chức vì đã lạm dụng tình dục trẻ em vị thành niên. Sáng 2 3 -0 2 -1 9 9 8 ,
cảnh sát M ỹ đã q uyết định bắt giữ E ngelm ajer tại biệt thự bờ bác biển
M iam i, Florida [2 7].
A um Shirikyo, m ột giáo phái tại N hật Bán do A sahara Shoko láp ra
năm 1986. Trong nhiều năm , g iá o phái này đã tổ chức sản xuất hơi độc
Sarin và dùng khủng bô gây thiệt m ạng hàng chục nsư ờ i, hàng nghìn
dựng m ột thế giới m ới dựa trên cu ộc cách m ạng về nội tâm, tác động
trong m ỗi cá nhân, tạo ra các giá trị.
2.2. V iệt N am
V ới V iệt Nam , sự ra đời của hiện tượng tôn g iáo m ới có thời gian
m uộn hơn nhiều so với thế giới. X uất hiện ở m ột nước có nền kinh tế
chậm phát triển m ang nặng tính chất nôn g nghiệp, những hiện tượng này
bên cạnh những điểm chung nhất định, vẫn m ang m ột tính chất riêng
biệt. Tính thống nhất và tính đặc thù cùng tồn tại bên cạnh nhau. Khi nói
về tôn giá o ở nước ta nói chu ng, Phạm Văn Đ ồ n g nhận xét: "Từ xa xưa
dân tộc V iệt N am k h ôn g có tôn g iá o theo nghĩa thông thường cua Iihiéu
nước khác" [6, 75 ].
"Ta c ó thể thấy tôn g iáo k h ông thể là thuần nhất m à đa dạng tuỳ thuộc
vào cá c nền văn hoá đặc trưng của từng khu vực, từng dân tộc." Đ ặn g
N g h iêm Vạn trong M ột s ố vấn đ ề lý luận và thực trạnẹ tôn giáo Việt
Nam [37, 14-15] nhận xét. T rong m ột c ô n s trình khác, Đ ặn g N gh iêm
V ạn đã tiếp tục chỉ rõ tính đa dạng về tôn giáo của m ỗi khu vực và dân
tộc, thể h iện qua tính đặc thù của tôn g iá o ớ V iệt Nam . Trước hết là sự
khác biệt trong m ối quan hệ giữa con nsư ời với Đ ấn g tối cao. K hác với
tính đ ộc thần trong tôn g iáo phương T ây, chỉ c ó m ột ĐấnR tối cao n gự trị
trên tất cả, thì tôn £Ìáo V iệt Nam là đa thần, k h ông c ó m ột Đ ấn g tỏi cao
(sau n ày m ới vay m ượn từ m ột tôn g iá o ngoại sinh để thành N g ọc H oàng
25
thượng đế). Cùng với sự du nhập các tôn giáo từ bên ngoài vào và tiếp
xú c với nền văn m inh côn g ngh iệp, dẫn đến m ột hệ quả là sự hoà nhập và
đan x en giữa các tôn giáo. “N hững thần thánh khác tôn g iá o có thê đê
n gồi chung m ột điện thần. Các tôn giáo truyền thống ít phủ nhận nhau,
đối lập nhau m ột cách rành rọt. Xu th ế hoà nhi bất đ ổn g ờ đây khác với
xu th ế đ ối lập, dị biệt, chính tà ở phương T ây“ [39, 32].
V ới phương Đ ô n g , mảnh đất này từ xưa xa và đến bây giờ , vẫn là nơi
ươm m ầm cho những tư tưởng về người và thần cùn g sốnơ bên nhau. V ốn
m on g m uốn thay đổi hoặc bộc lộ sự phù hợp với m ột thay đổi tôn g iáo đa
chiều. Sự qui ước này sẽ c ó giá trị định hình đối tượng.
T h eo thống k ê của Trung tâm Khoa học về Tín ngư ỡn g và Tôn giáo,
H ọ c viện C TQG Hồ C hí M inh, tính ch o đến đầu năm 1998, V iệt Nam có
28 hiện tượng tôn giáo: 1. L ong H oa D i Lặc; 2. đạo Từ Hạnh; 3. Tam tổ
thánh hiền; 4. Chân tu tâm kính; 5. đạo Bạch; 6. Quần tiên; 7. đạo Tràng;
8. N g ọ c Phật H ồ Chí M inh; 9. đạo Bác Hồ; 10. Q uang m inh H ồ C hí
M inh; 11. Đ ứ c N g ọ c Phật H ổ C hí M inh; 12. Chân không; 13. Tắm pháp;
14. Siêu thoát; 15. Siêu hoá; 16. V ô vi; 17. V ô vi pháp; 18. V ô vi khoa
học huyền bí; 19. Tổ tiên chính thống giáo; 20. Thánh mẫu; 21. đạo Lẽ
phải; 22. H uynh đạo; 23. Thanh Hải V ô thượng sư; 24. K hổng M inh
thánh giáo; 25. Ô m ô tô giáo; 26. Ôm sai Ba Ha; 27. Đ oàn 18 Phú Thọ;
28. T hiên đạo [33].
Theo số liệu cứa Ban chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 24/T W , liệt kê 31
hiện tượng: 1. Thanh Hải V ô thượng sư; 2. đạo N e ọ c Phật H ồ Chí M inh;
3. đạo Ba Hai; 4. đạo Chân không; 5. Bạch đạo; 6. đạo Quần tiên; 7. đạo
Đ e o vỏ cây trái bầu khô đế tránh ma quỷ; 8. đạo Vạt (V ô điểm thỉnh
điểm tô); 9. Tiên thiên huỳnh kỳ; 10. Đ ịa mẫu (Phật m ẫu địa cầu); 11. Tứ
ân H iếu nghĩa; 12. Q uốc tổ Lạc hồng; 13. K okagkhai; 14. đạo Trứng; 15.
đạo Khăn vàng; 16. Thần linh tiên; 17. Thần quyền ni m ô pháp; 18.
Q uang M inh tu đức; 19. đạo Siêu hoá; 20. đạo Bác Hồ; 21. Lon g Hoa Di
Lặc; 22. N g ọ c Phật N gu yễn Thị Lương; 23. đạo Đ ập đầu; 24. đạo N ăm
ông; 25. đạo C ây dừa; 26. đạo Trần Hưng Đ ạo; 27. T iên thiên nhất giáo;
28. Thần linh thần quyền; 29. V ô vi khoa học; 30. Ô m ô tô giáo; 31.
K hổng M ạnh thánh s iá o hội [1].
Có thể thấy đặc điểm chung của các hiện tượng tôn s iá o m ới ở V iệt
N am được thống kê trên đây là mang đậm tính cách của những cư dân
nôn g ngh iệp trồng lúa nước, nên có màu sắc tự phát, lẻ tẻ, siá o lý chắp vá
vay m ượn, hoặc thậm ch í không có , cô kết nhóm vô cù n g rời rạc, và
không được pháp luật côn g nhận. Chưa có m ột nhóm nào c ó tính quốc tế,