Đặc trưng văn hoá, văn hoá và sự thể hiệnchúng trong ca dao người Việt - Pdf 28

Đặc trưng văn hoá, cội nguồn văn hoá và sự thể hiện chúng
trong ca dao người Việt
Cùng với khoa học - công nghệ và giáo dục - đào tạo, các hoạt động văn hoá - văn nghệ có vị trí quan trọng trong việc xây
dựng một xã hội phát triển, làm phong phú đời sống tinh thần con người, đưa dân tộc đến sự văn minh…Trong số đó, văn hoá
là nền tảng xã hội, là động lực thúc đẩy dân tộc phát triển theo hướng an sinh, bền vững. Văn hoá thể hiện trong mọi lĩnh vực
của đời sống. Các phương thức biểu hiện, lưu giữ và truyền đạt văn hoá rất phong phú và đa dạng. Trong số đó, nổi bật và tiêu
biểu là phương thức ngôn ngữ biểu đạt văn hoá qua các hình thức sáng tác, trong đó có văn học dân gian.
1. Đặc trưng văn hoá và cội nguồn văn hoá
a) Vấn đề xác định đặc trưng văn hoá
Nếu hiểu văn hoá là những giá trị vật chất và tinh thần, có tính biểu trưng và tồn tại lâu đời do con người tạo ra, thì dân tộc nào
cũng có văn hoá, cộng đồng nào cũng có văn hoá. Có những giá trị văn hoá mang tính hằng thể chung cho cả nhân loại, lại có
những giá trị văn hoá mang tính đặc thù, chỉ có ở cộng đồng này mà không thấy rõ ở cộng đồng kia và ngược lại.
Những giá trị văn hoá đặc thù ấy chính là đặc trưng văn hoá.
Khi xác định, đánh giá đặc trưng văn hoá của một cộng đồng hay một dân tộc nào đó, có người đưa ra thang độ cao thấp
(chẳng hạn, E.B. Taylor), có người đưa ra tiêu chí khác biệt (F. Boas). Trong đó, ý kiến xác định văn hoá là sự khác biệt dễ tạo
sự đồng thuận hơn. Nói chung, sự khác biệt tạo ra đặc trưng; nói riêng ở phạm trù văn hoá, đặc trưng văn hoá của mỗi dân tộc
trước hết được minh định dựa trên sự khác biệt giữa văn hoá dân tộc này với văn hoá dân tộc khác. Chẳng hạn, đặc trưng văn
hoá Mỹ là coi trọng nguyên tắc, văn hoá ấn Độ là tính khoan dung, văn hoá Trung Hoa là trọng tôn ty, văn hoá Việt Nam là
trọng tình nghĩa…
Có thể hiểu, đặc trưng văn hoá là những nét trội về một hay một số mặt nào đó của văn hoá một dân tộc hay một cộng đồng.
Những nét trội này làm thành các giá trị văn hoá cơ bản, tiêu biểu, có tính bền vững; cùng với các giá trị khác, chúng làm thành
nền văn hoá. Như vậy, đặc trưng văn hoá của một dân tộc chính là những giá trị tiêu biểu về tinh thần và vật chất mà dân tộc
đã tích luỹ trong quá trình lịch sử, nó có tính bền vững, có ý nghĩa lâu dài, có giá trị khu biệt. Có như thế, đặc trưng văn hoá mới
làm thành bản sắc văn hoá. Tìm hiểu văn hoá dân tộc chính là tìm hiểu cái bản sắc ấy, tức cũng là xác định nét khác biệt.
Hành tinh của chúng ta hiện có hơn 220 quốc gia với hàng trăm dân tộc, có khoảng hơn 6 tỷ người đang sinh sống. Với tất cả
sự phong phú và phức tạp ấy, con người - xét về mặt văn hoá- vừa có tính đa dạng trong sự thống nhất, vừa có tính thống nhất
trong sự đa dạng. Thế giới hiện có 38 nền văn minh (11; tr.31), có 34 nền văn hoá, trong đó có 17 nền văn hoá có bản sắc (10;
tr.12). Vậy, những nền văn hoá nào không có bản sắc, có những nền văn hoá nào bản sắc mờ nhạt? Và có những nền văn hoá
mang bản sắc nổi trội? Những câu hỏi này, muốn trả lời cho thật đầy đủ, hẳn là phải có thời gian và nhiều nguồn tư liệu…
Nhưng trước mắt ta hãy bằng lòng với kết quả phân loại trên đây. Và trong số các nền văn hoá bản sắc, có tên văn hoá Việt
Nam chúng ta. Vậy, bản sắc văn hoá dân tộc có nguồn gốc từ đâu và thể hiện qua những dấu hiệu nào và như thế nào?

được định hình trên nền không gian văn hoá khu vực Đông Nam á tiền sử (11; tr.60- 61). Đó là nhân tố đầu tiên và cũng là
nhân tố làm nên đặc trưng gốc của văn hoá Việt Nam.
Sau này, do nhiều điều kiện khác nhau, Việt Nam chúng ta tiếp xúc với các nước khác- tức cũng là các nền văn hoá khác, như
Trung Hoa, ấn Độ (từ rất sớm), sau đó là tiếp xúc với văn hoá phương Tây…- Trong bối cảnh đó, dù sớm hay muộn, dù nhiều
hay ít, văn hoá Việt Nam cũng đã có những ảnh hưởng nhất định và đã tiếp nhận các nền văn hoá này ở những mức độ khác
nhau, đặc biệt là với văn hoá Trung Hoa. Đây là nhân tố thứ hai, góp phần làm nên đặc trưng văn hoá Việt Nam.
Tuy vậy, với điều kiện môi trường tự nhiên khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, với một không gian xã hội được định hình rất sớm,
nên đặc trưng gốc văn hoá nông nghiệp lúa nước vẫn bảo lưu, làm thành mạch ngầm xuyên suốt chiều dài không gian và
thời gian dân tộc Việt; và đây chính là đặc tính trội nhất khi nói về bản sắc văn hoá Việt Nam, về lịch sử dân tộc Việt Nam. Đặc
trưng này có tác dụng chi phối các đặc trưng văn hoá khác. Vậy, đặc trưng gốc này thể hiện trong đời sống vật chất và tinh
thần của con người Việt Nam, văn hoá Việt Nam như thế nào?
c) Cội nguồn văn hoá và sự biểu thị văn hoá dân tộc
Theo giới nghiên cứu ngoài nước và trong nước (10,11,14), khi tìm hiểu văn hoá Việt, người ta nhận thấy mối liên hệ rất rõ
giữa sự phong phú về điều kiện tự nhiên và tính đa dạng về văn hoá.
Trước hết, đất nước ta ở trong một môi trường tự nhiên nước, sông nước bao quanh con người; yếu tố này chiếm vị trí đặc
biệt, chi phối, ảnh hưởng đến nhiều mặt trong cuộc sống xã hội. Chẳng hạn:
Về nghề nghiệp, nghề trồng lúa nước là chủ đạo với kỹ thuật canh tác: cấy, gieo, vãi, tỉa, trồng; cày, bừa, gặt, đập… và một hệ
thống thống thuỷ lợi thể hiện công sức của con người trong ứng biến với môi trường (nước) và nghề nghiệp (trồng lúa nước):
đê, kênh, hồ, đập, mương máng…Về ăn ở, sinh hoạt, phong tục tập quán, những đặc tính văn hoá này cũng in đậm dấu ấn của
môi trường sông nước. ăn chủ yếu là cơm (sản phẩm từ lúa nước), với các thức ăn là cá, tôm, cua, mực (các loài sinh vật dưới
nước). Về ở, con người sinh sống cố kết với nhau, định cư thành làng xóm (cách sống điển hình của cư dân nông nghiệp); các
vùng cư trú gần nước: làng chài, làng ven sông, bến chợ, bến sông, với các loại nhà: nhà đất, nhà gỗ, nhà sàn, nhà thuyền; các
phương tiện vận chuyển, sinh hoạt cũng gắn liền với nước: thuyền, bè, nốc, ghe, mảng… Những phong tục sinh hoạt cộng
đồng cũng liên quan đến nước: hội đua thuyền, bơi chải, kết đèn hoa đăng; tục thờ cá, rắn, thuỷ thần; nghệ thuật dân gian cũng
dựa nhiều bối cảnh của nước: rối nước, chèo, tuồng, các điệu hò lý diễn ra trên sông hồ, bến bãi…
Thứ hai, điều kiện thiên nhiên bao quanh xã hội luôn gắn liền với môi trường thực vật, làm thành đặc trưng văn hoá thuần Việt.
Lúa là cây lương thực chủ yếu, nhưng ngoài ra còn có nhiều cây khác được chăm sóc, thuần dưỡng nuôi sống con người, như:
ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, vừng… Trên mặt đất, bao quanh nơi ở con người là “xanh muôn ngàn cây lá khác nhau”, đặc biệt là
tre, hóp, mây, nứa, cam chanh, bưởi, hồng, khế, bầu bí… “Dưới bóng tre xanh, người dân cày Việt Nam trồng nhà, dựng cửa,
vỡ ruộng, khai hoang” (Thép Mới). Và cũng dưới bóng tre xanh, nhân dân ta “gìn giữ một nền văn hoá lâu đời”, đó là: tục thờ

nam văn hoá sử cương; tr. 24), mà người ngoài nhìn vào cũng thấy khá rõ. Đây là nhận xét của một viện nghiên cứu xã hội Mỹ.
Mười đặc điểm của người Việt:
1- Cần cù trong lao động nhưng dễ thoả mãn nên tâm lí hưởng thụ còn nặng.
2- Thông minh, sáng tạo nhưng có tính đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động.
3- Khéo léo nhưng không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm).
4- Vừa thực tế , vừa mơ mộng nhưng không có ý thức nâng lên thành lí luận.
5- Ham học hỏi và khả năng tiếp thu nhanh nhưng khi học không đến nơi đến chốn nên kiến thức không thành hệ thống, mất
căn bản. Ngoài ra, học tập không còn mục tiêu tự thân của nhiều người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn học vì sĩ diện, để
kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí đam mê).
6- Xởi lởi, chiều khách nhưng không bền.
7- Tiết kiệm nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn người).
8- Có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, điều đó chỉ xảy ra trong những hoàn cảnh có khó khăn, bần hàn. Trong điều kiện
sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này ít khi xuất hiện.
9- Yêu hoà bình và nhẫn nhịn nhưng nhiều khi hiếu thắng vì những lí do tự ái lặt vặt, đánh mất đại cục.
10- Thích tụ tập nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc ,một người làm thì tốt, ba người làm thì kém,
bảy người làm thì hỏng).
(Dẫn theo Phạm Tấn Đắc,7; tr.293)
Có thể nói, những đặc tính tốt xấu này đều có liên quan mật thiết đến đặc trưng gốc đã nói trên: điều kiện tự nhiên đã làm
thành hệ giá trị văn hoá vàtính cách - tâm lý con người Việt Nam với những chế định đậm nét của nền văn hoá nông nghiệp lúa
nước.
2. Tìm hiểu đặc trưng văn hoá dân tộc qua ca dao Việt Nam
a) Cơ sở tìm hiểu đặc trưng văn hoá dân tộc qua ca dao
Văn hoá thể hiện qua nhiều cách thức, nhiều phương tiện, trong số đó, ngôn ngữ là phương tiện quan trọng thể hiện văn
hoá. “Toàn bộ các từ trong ngôn ngữ, đó chính là phương tiện nối kết các hiện tượng bên ngoài với thế giới bên trong của con
người… Đặc biệt, bản sắc riêng của mỗi dân tộc luôn luôn được thể hiện qua tiếng mẹ đẻ của họ; ngôn ngữ là nơi bảo lưu tinh
thần, văn hóa dân tộc, sức mạnh liên minh giữa các dân tộc- tất cả để lại dấu ấn tài tình trong mỗi âm thanh” (W. Humbold; 1;
tr.203). “Ngôn ngữ đã chứa đựng trong mình toàn bộ di sản văn hoá của các thế hệ trước, xác định hành vi của những con
người hiện tại, trong một mức độ nào đó, ngôn ngữ còn làm tiền đề cho con người trong tương lai, có nghĩa chính ngôn ngữ
sản sinh và sáng tạo ra con người” (M. Kheydegger, dẫn theo 1; tr.203). Vì lẽ đó, ngôn ngữ không chỉ là hiện thân của văn hoá,
một thành tố của văn hoá, mà còn là phương tiện truyền đạt văn hoá. “Ngôn ngữ vừa là điều kiện tồn tại, vừa là sản phẩm văn

(Phạm Đức Dương, 2000)…
Một số công trình tìm hiểu sâu về bản sắc văn hoá dân tộc, như: Tìm về bản sắc dân tộc của văn hoá (Hồ Sĩ Vịnh, 1993), Tìm
về bản sắc văn hoá Việt Nam (Trần Ngọc Thêm, 2001), Bản sắc văn hoá Việt Nam (Phan Ngọc, 2006), Bàn về văn hoá ứng xử
của người Việt Nam (Nguyễn Tất Thịnh, 2006), Văn hoá ứng xử truyền thống của người Việt (Lê Văn Quán, 2007), Người Việt,
phẩm chất và thói hư tật xấu (Nhiều tác giả, 2008)… Các công trình nghiên cứu nhìn chung đã xem xét trên nhiều phương diện:
Văn hoá dân tộc Việt thể hiện qua các công trình vật thể được lưu giữ từ trong quá khứ hay mới được xây dựng; thể hiện trong
sinh hoạt hàng ngày, thể hiện qua các lễ hội, phong tục tập quán, ngôn ngữ… Trong nhà trường đại học, học phần văn hoá,
ngôn ngữ và văn hoá luôn là những chương trình cơ bản cung cấp cho người học những vấn đề lí luận chung và những
phương diện cụ thể, làm rõ bản sắc văn hoá, về vai trò và động lực của văn hoá trong đời sống xã hội, phân tích các đặc trưng
và biểu hiện văn hoá của dân tộc…
Tuy đã có nhiều hướng, nhiều kết quả nghiên cứu về văn hoá, đã có những công trình đề cập đến các biểu hiện của văn
hoá trên nhiều phương diện, nhưng việc làm rõ đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện qua ngôn ngữ, đặc biệt là trên dẫn liệu tục
ngữ và ca dao thì đang còn là một vấn đề cần phải được phân tích và hệ thống hoá một cách đầy đủ và toàn diện hơn.
Khi bàn đến sự thể hiện của văn hoá, người ta nói đến những biểu hiện của văn hoá qua các phương tiện khác nhau, như: qua
âm thanh, màu sắc, hình khối, đường nét, và nhiều phương tiện biểu hiện khác. Một trong những phương tiện quan trọng để
tìm hiểu văn hoá, giải mã văn hoá là ngôn ngữ: ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, ngôn
ngữ trong sáng tác dân gian… Các công trình khoa học cũng đã ít nhiều nói đến vấn đề này. Các hướng nghiên cứu gồm:
Nghiên cứu ca dao từ góc độ thi pháp học: Thi pháp ca dao (Nguyễn Xuân Kính, 2007); Tiếp cận ca dao bằng phương pháp
xâu chuỗi (Triều Nguyên, 2003). Từ góc độ ngôn ngữ - văn hoá: Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt (Triều Nguyên,
1999), Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao người Việt (Nguyễn Nhã Bản, 2005)… Nhiều công
trình nghiên cứu văn hoá từ góc độ ngôn ngữ: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá (Nguyễn Tài Cẩn, 2005),
Giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hoá (Nguyễn Quang, 2008), Tìm hiểu đặc trưng văn hoá - dân tộc qua ngôn ngữ và tư
duy ở người Việt (Nguyễn Đức Tồn, 2002)…
Có thể thấy đây là một hướng nghiên cứu cần thiết, bổ ích và đã có nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, những tìm hiểu,
nghiên cứu đó - nói riêng ở đối tượng nghiên cứu là ca dao - thì, theo những tư liệu mà chúng tôi có được, mới chỉ là những ý
kiến bàn luận, nói thêm nhân bàn đến những vấn đề khác của ca dao (như khi nói về nội dung của ca dao, thi pháp ca dao, cấu
trúc của ca dao…) mà chưa có một chuyên luận bàn sâu và kỹ giành riêng cho việc tìm hiểu đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện
trong ca dao người Việt như thế nào.
3. Những biểu hiện đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiên qua ca dao
a) Ca dao - một tín hiệu văn hoá

Nội dung cơ bản nhất của ca dao là thể hiện tình cảm, miêu tả đất nước, con người, xã hội, phản ánh tập quán phong tục của
con người Việt Nam với tất cả những đặc trưng văn hoá dân tộc tiêu biểu mà chúng ta đã có dịp đề cập ở phần trên. Điều kiện
tự nhiên, môi trường xã hội, tâm lý, lịch sử dân tộc, qua lăng kính của người nghệ sĩ dân gian, đều được phản ánh đậm nét và
sâu sắc trong ca dao người Việt. Những biểu hiện văn hóa dân tộc thể hiện trong ngôn ngữ ca dao là rất phong phú, đa dạng:
các ứng xử văn hoá trong thân tộc (gia đình, họ hàng); các ứng xử văn hoá trong cộng đồng xã hội (làng, nước); quan hệ đối
xử của con người với thế giới loài vật; quan hệ ứng biến của con người với thế giới tự nhiên…Trong khuôn khổ giới hạn của
bài viết này, chúng tôi chỉ bước đầu làm rõ sự phản ánh của ca dao ở một vài đặc trưng văn hoá tiêu biểu.
Ca dao Việt Nam phản ánh nhiều mặt của con người trong mối quan hệ với tự nhiên, trước hết là sự thể hiện không gian sinh
tồn của con người. Đối với người nông dân làm ruộng nước, cuộc sống định cư là điểm nổi trội; trong cuộc sống định cư thì cái
nhà là trung tâm, nhà là gia bản. Mọi suy nghĩ, sinh hoạt của con người liên quan đến nhà. Truyện dân gian thì tô đậm nhà là
tài sản, nơi trú ngụ…Tục ngữ thì nêu những nhận thức về nhà (Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà; Nhà gỗ xoan, quan ông nghè…). Còn
trong ca dao - do đặc trưng của nó - nhà được thể hiện với nhiều khía cạnh khác nhau. Dù nhà không phải lúc nào cũng là “tiêu
điểm” (nên nó thường ở câu ca dao đầu - làm tiền đề cho ý câu sau), nhưng qua đó ta cũng thấy được hình bóng ngôi nhà Việt:
Nhà anh một gian hai hồi (Họ quen em cả, biết đứng ngồi vô mô); Nhà anh cửa đóng song cài (Em vô không được, ở ngoài lệ
tuôn). Có khi nhà có bóng dáng của thời mới: Nhà em cột đá, tường đá, khoá sắt, chìa đồng (Anh phá làm sao cho được đến
loan phòng với em).
Nhà Việt Nam không chỉ có không gian “trong nhà”- không gian tình nghĩa, mà còn có không gian rộng hơn: “ngoài nhà”; không
gian này cũng gắn chặt với những sự vật cảnh vật thân thuộc của người dân làm nghề lúa nước. Đó là không gian cận nhà,
một khung cảnh gắn chặt với nhà: đó là vườn hồng, vườn đào; vườn cà (Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái
nụ tầm xuân…). Đây là không gian sống thuần hậu gắn liền với nước: ao, hồ (Hồ to ta thả cá chơi/ Hồ rộng nuôi vịt, vườn khơi
nuôi gà/ Quanh năm khách khứa trong nhà/ Ao vườn sẵn đó, lọ là tìm đâu). Có thể dẫn ra nhiều câu như thế để chứng minh
không gian sinh tồn nhà của con người Việt từ thuở xa xưa liên quan đến gốc nông nghiệp.
Từ trong nhà đến ngoài nhà, không gian cứ mở rộng dần: không gian vườn tược. Đó là không gian của thực vật trong vườn:
cây cau cây trầu, cây tre, cây chanh, cây vông, cây bồn bồn, cây bần…(Cây chanh lại nở hoa chanh, Cây cau nhặt mắt khó
trèo, Cây cao bóng ngã qua rào)…Theo thống kê của chúng tôi, có 72 loài cây và hoa xuất hiện trong ca dao thì phần lớn cây
và hoa đều mang đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới nông nghiệp. Cây đa nằm trong số đó. Cây đa không đứng một mình
mà thường ở bên cạnh các cảnh vật khác, tạo thành một không gian vừa thoáng rộng, vừa thấp thoáng thế giới tinh thần- tâm
linh của người Việt từ thuở xa xưa: Cây đa bến đò, cây đa trước miễu, cây đa sân đình, cây đa giếng nước. Như thế, cây đa đã
chuyển dần sang chỉ một không gian ít nhiều mang nghĩa biểu trưng (nghĩa tình): Cây đa bến cũ năm xưa/ Chữ tình ta cũng
đón đưa cho trọn đời; Cây đa rụng lá đầy đình/ Bao nhiêu lá rụng thương mình bấy nhiêu.

miệng, nhưng trong thời đại ngày nay, ca dao vẫn tiếp tục được sáng tác, và hình thức truyền miệng vẫn tồn tại, cho dù đã có
các hình thức khác. Ca dao vẫn đi cùng năm tháng, bởi cái giá trị nhân sinh của nó (ca dao là tâm nguyện của con người về lẽ
sống), bởi cái giá trị văn hoá của nó (ca dao thể hiện bản sắc truyền thống của dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển, tiếp
biến văn hoá hiện đại).
*
Trên đây là mấy suy nghĩ của chúng tôi về việc xác định đặc trưng văn hoá, cội nguồn văn hoá dân tộc, qua đó bài viết bước
đầu nêu một số biểu hiện đặc trưng văn hoá trên dẫn liệu ca dao người Việt. Trước một đối tượng rộng lớn mang tầm “vũ trụ”
như văn hoá, những điều trình bày chỉ là những nhận thức sơ giản, định hướng vào việc nghiên cứu văn hoá, nhằm góp phần
vào việc thực hiện đề tài tìm hiểu ca dao Việt Nam từ góc độ văn hoá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status