VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ ĐỊA PHƯƠNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG VHNT&DL NHA TRANG
KHOA DU LỊCH
ĐỀ TÀI
VĂN HÓA VÀ SỰ PHÁP TRIỂN CỦA NGÀNH DU LỊCH
VIỆT NAM
Du lịch là ngành kinh tế mang lại nguồn lợi lớn cho mỗi quốc gia, là ngành
kinh tế mũi nhọn kéo theo các ngành kinh tế khác phát triển. Đối với Việt Nam, du lịch
cũng đang cất tiếng nói góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế nước nhà.
Trong những năm gần đây du lịch thực sự đang trên đà cất cánh, những tiềm năng du
lịch đã được đánh thức, đã được lần lượt khai thác và đưa vào phát triển để phục vụ
hoạt động du lịch. Bên cạnh việc phát triển theo chiều sâu những loại hình đã được
khai thác từ lâu còn phát triển thêm những loại hình du lịch mới.
Đa dạng hóa kinh doanh du lịch là một biện pháp nhằm khai thác tối đa tiềm
năng, thế mạnh của điểm du lịch. Du lịch văn hóa cũng là xu hướng của nhiều nước lựa
chọn để phát triển ngành du lịch, trong đó Việt Nam chúng ta cũng là một trong những
nước đã và đang chú trọng cho công tác thúc đẩy sự phát triển của du lịch nói chung và
“ du lịch văn hóa “ ở Việt Nam nói riêng. Do đó, việc phát triển, khai thác du lịch văn
hóa được xem là một hướng đi có nhiều triển vọng đối với du lịch Việt Nam trong
tương lai. Chính vì là một loại hình du lịch mới nên “ du lịch văn hóa “ sẽ vừa là cơ hội
vừa là thách thức đối với du lịch Việt Nam.
Vậy để thấy được rõ bản chất, thực trạng văn hóa và sự phát triển của ngành du
lịch Việt Nam, cũng như những mặt trái cần khắc phục của du lịch Việt Nam trong thời
gian qua cũng như cơ hội và thách thứ của nó đối với du lịch Việt Nam hiện nay và
trong tương lai nói chung, và đối với “ du lịch văn hóa ” nói riêng là như thế nào?
Chúng ta cần hiểu và biết một số khái niêm liên quan đến vấn đề trên một cách cụ thể
và rõ ràng hơn.
Khi nói đến đề tài văn hóa và sự phát triển của du lịch Việt Nam, chúng ta nghĩ
ngay đến những câu hỏi: vậy thế nào là văn hoa?, Du lịch?, Du lịch văn hóa?
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 1 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH
con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội.
Các định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền
thống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa. Một trong những định
nghĩa đó là của Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học
người Mỹ: văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang
dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập
quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống.
Các định nghĩa chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị,
chẳng hạn William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ coi
văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết
chế, tập tục, phản ứng cư xử, ).
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 2 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ ĐỊA PHƯƠNG
Các định nghĩa tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi
trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người. Một
trong những cách định nghĩa như vậy của William Graham Sumner (1840 -
1910), viện sỹ Mỹ, giáo sư Đại học Yale và Albert Galloway Keller, học trò và
cộng sự của ông là: Tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện
sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh Những sự thích nghi này
được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc
và truyền đạt bằng kế thừa.
Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn
hóa, ví dụ Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ định nghĩa:
a.Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành
viên xã hội; b. Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó
được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa.
Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của
nó, ví dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã
hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học
cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả họ hay ngoài nước
họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc cuả họ.
Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: họat động du lịch là tổng hoà hàng
loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định
làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều
kiện.
Theo luật du lịch Việt Nam, năm 2006:
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm
hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.” (thời gian lưu
trú trên 24 giờ).
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian cuả du khách: du lịch là một trong
những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ
một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm
việc.
Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm
vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghĩ ngơi, có hoặc không kết hợp với
các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Đặc điểm của du lịch
Du lịch là ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du
lịch vừa được nghỉ ngơi, giảm strees vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ mà
khách chưa biết. Du lịch còn góp phần phát triển kinh tế của đất nước, tạo việc
làm và tăng thu nhập cho người lao động (hướng dẫn viên, các dịch vụ liên
quan ).
Hiện nay ngành du lịch đang phát triển mạnh ở các nước thuộc thế giới thứ ba.
Nhu cầu về du lịch càng tăng thì vấn đề bảo vệ môi trường cần phải được coi trọng.
Xin giới thiệu đến quý khách một dạng du lịch nữa, đó là du lịch xúc tiến thương mại,
vừa đi du lịch vừa kết hợp làm ăn. Hiện nay cũng rất phổ biến tại Việt Nam.
Với những đặc điểm như vậy thì du lịch có những chức năng nhất định. Có thể
xếp các chức năng ấy thành 4 nhóm:
nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khoẻ và hoạt động của con người.Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ
tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hoá quá trình sử
dụng tự nhiên với mục đích du lịch. Lúc này đòi hỏi con người phải tìm kiếm
các hình thức bảo vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên một
cách hợp lí.Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ
chặt chẽ. Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt
khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của các dòng
khách du lịch và việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch. Như vậy,
giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối liên quan gần gũi với nhau.
Chức năng chính trị
Chức năng chính trị của du lịch được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như
một nhân tố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết
giữa các dân tộc. Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác
nhau hiểu biết và xích lại gần nhau. Mỗi năm, hoạt động du lịch có những chủ
đề khác nhau, như “Du lịch là giấy thông hành của hoà bình” (1967), “Du lịch
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 5 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ ĐỊA PHƯƠNG
không chỉ là quyền lợi, mà còn là trách nhiệm của mỗi người” (1983)… kêu gọi
hàng triệu người quí trọng lịch sử, văn hoá và truyền thống của các quốc gia,
giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo
nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc.
Du lịch văn hóa:
“Là loại hình du lịch mà du khách muốn thẩm nhận bề dày văn hóa của một
nước một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hóa, những phong tục tập quán còn
hiện diện.”
Văn hóa du lịch (hoặc văn hóa du lịch) các tập hợp con của ngành du lịch
quan tâm đến một quốc gia hay văn hóa của vùng, đặc biệt các lối sống của
người dân trong những khu vực địa lý, lịch sử của những dân tộc, nghệ thuật,
Văn hóa Việt Nam dưới quan niệm là văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa
sắc thái văn hóa tộc người được thể hiện ở ba đặc trưng chính:
Đặc trưng thứ nhất: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng
trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 53 dân tộc anh em có
những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa
sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung
trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao
tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ
thuật.
Đặc trưng thứ hai: Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố
dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại
Việt Nam. Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người
Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái
văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây bắc và Đông bắc. Từ các vùng đất biên
viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa
Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ. Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ
với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong
văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên.
Đặc trưng thứ ba: Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt
cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người
Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàng
nghìn năm nay. Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam
Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và
toàn cầu hóa từ thế kỷ 21. Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các
thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn
hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại.
Văn hóa Việt Nam theo khía cạnh
Phong tục
Theo nghĩa Hán-Việt, Phong là nền nếp đã lan truyền rộng rãi và Tục là
thói quen lâu đời. Phong tục ở Việt Nam có truyền thống lâu đời hàng ngàn năm
tuy nhiên qua những gì sử sách và dã sử để lại cũng cho thấy một sự tinh tế
trong ẩm thực, trang phục của người Việt Nam từ xưa đến nay, những phong tục
gắn liền và thay đổi theo sự thay đổi của cuộc sống người dân nông nghiệp
Lễ hội
Cũng giống như nhiều nước khác, Việt Nam là một nước có nhiều lễ hội
dân gian là hình thức sinh hoạt của cộng đồng. Trong lễ hội, các lễ nghi tín
ngưỡng, các phong tục tập quán, các thể lệ và hình thức sinh hoạt của một cộng
đồng đã được tái hiện một cách rất sinh động. Lễ hội được tổ chức vào những
thời điểm khác nhau trong một năm, tuỳ thuộc vào phong tục tập quán của từng
dân tộc, nhưng lễ hội vẫn tập trung nhiều
nhất vào mùa Xuân.
Việt Nam có nhiều loại lễ hội lớn và
long trọng như lễ tế các thần linh, các lễ hội
nhằm tưởng nhớ tới công ơn tổ tiên, nòi
giống như hội Đền Hùng, có những lễ hội
tưởng nhớ tới các anh hùng như hội Gióng,
hội Đền Kiếp Bạc, hội Đống Đa, có những lễ
hội tưởng nhớ người có công mở mang bờ
cõi, các ông tổ các ngành nghề, của người Việt. Bên cạnh các lễ hội lớn của
người Việt, các dân tộc khác cũng có những lễ hội lớn như lễ hội Katê của
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 8 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ ĐỊA PHƯƠNG
người Chăm, lễ cúng Trăng của người Khmer, lễ hội xuống Đồng của người
Tày, người Nùng, Lễ hội hoa ban của người Thái, Hội đua voi của người
Mnông,
Ngoài các lễ hội lớn và long trọng tại Việt Nam từ bắc đến nam còn có
hàng nghìn lễ hội lớn nhỏ khác nhau của các dân tộc Việt Nam. Các lễ hội ở
Việt Nam rất đa dạng, những lễ hội về nông nghiệp, hội văn nghệ vui chơi, thi
tài, hội giao duyên, hội lịch sử, Đặc biệt là hội mừng năm mới (Tết Nguyên
thần Quan Công, Thần Tài. Người Chăm thờ các
vị thần như Po Nagar, Po Rome,
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 9 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ ĐỊA PHƯƠNG
Thờ cúng tổ tiên và cúng giỗ người đã mất là một tục lệ lâu đời của
người Việt và một số dân tộc khác. Họ tin rằng linh hồn của tổ tiên cũng ở bên
cạnh con cháu và phù hộ cho họ. Chính vì như vậy nên gia đình nào cũng có bàn
thờ tổ tiên và bàn thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong nhà. Ngoài các ngày
giỗ, tết thì các ngày mùng một, ngày rằm họ thắp hương như một như một hình
thức thông báo với tổ tiên ông bà. Nói đến tục thờ cúng tổ tiên, người ta đều biết
tới một ngày giỗ tổ chung cho cho người Việt đó là ngày giỗ tổ Hùng Vương
vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch)
Tôn giáo
Với sự biến động của lịch sử các dân tộc tại Việt Nam, trải qua hơn 10
thế kỷ Bắc thuộc, đời sống tinh thần nói chung của người dân Việt Nam bị ảnh
hưởng rất nhiều của văn hoá Trung Hoa. Với ba hệ tư tưởng Tam giáo đã thâm
nhập vào đời sống tinh thần cũng như vào tôn giáo của người Việt Nam là Đạo
giáo, Nho giáo và Phật giáo. Đạo giáo và Nho giáo có nguồn gốc từ Trung Quốc
và thâm nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyên qua tầng lớp
thống trị người Trung Hoa
Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ và có hai phái đã du nhập vào Việt
Nam bằng hai ngả khác nhau: phái Đại thừa vào Việt Nam qua Trung Quốc
cùng với Đạo giáo và Nho giáo. Còn phái Tiểu thừa qua các nước Đông Nam Á
láng giềng vào Việt Nam thịnh hành ở cộng đồng người Khmer ở Đồng bằng
sông Cửu Long
Tam giáo có những thời kỳ phát triển rất mạnh và cũng có lúc mờ nhạt
tại Việt Nam, nhưng nhìn chung ảnh hưởng của Tam giáo rất sâu rộng trong các
tầng lớp dân chúng, nhất là Phật giáo. Và đến lượt mình, các tầng lớp dân chúng
tại Việt Nam đã tiếp thu các tôn giáo mới một cách có chọn lọc và sáng tạo, hay
Nhóm Tày-Thái: gồm người Tày, Thái,
Nùng, Bố Y, Sán Chay, Lào,
Nhóm Dao-Hmông: gồm người Hmông,
Dao, Pà Thẻn,
Nhóm Tạng-Miến: gồm người Hà Nhì, Lô
Lô, Si La, La Hủ,
Nhóm Hán: gồm người Hoa, Sán Dìu,
Ngái,
Nhóm Môn-Khmer: gồm người Khmer, Kháng, Hrê, Xơ Đăng, Ba Na,
Khơ Mú, Cơ Ho, Mạ, Xinh Mun,
Nhóm Mã Lai-Đa đảo: gồm người Chăm, Gia Rai, Ê Đê, Ra Glai, Chu
Ru,
Nhóm hỗn hợp Nam Á: gồm la Chí, La Ha, Pu Chéo, Cơ Lao,
Tiếng Việt thuộc về ngôn ngữ Việt-Mường, hiện nay là ngôn ngữ chính
thức của nước Việt Nam, là tiếng mẹ đẻ của người Việt và đồng thời là ngôn
ngữ hành chính chung của 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, tiếng Việt
được 86% người dân sử dụng. Mặc dù là ngôn ngữ chung của người Việt nhưng
nó có sự khác biệt về mặt ngữ âm và từ vựng ở các vùng miền dẫn tới phương
ngữ tiếng Việt được phân chia làm nhiều vùng phương ngữ khác nhau từ miền
Bắc, miền Trung và miền Nam
Về nguồn gốc, tiếng Việt được xem là có nguồn gốc với ngôn ngữ Nam
Á về mặt từ vựng kết hợp với ngôn ngữ Tày-Thái về mặt thanh điệu. Trong qúa
trình phát triển Tiếng Việt đã tiếp thu và đồng hoá nhiều từ Hán và được gọi là
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 11 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ ĐỊA PHƯƠNG
từ Hán-Việt, ngoài ra tiếng Việt còn tiếp thu một số lượng khá lớn các từ khoa
học kỹ thuật của các ngôn ngữ Pháp, Nga, Anh từ đầu thế kỷ 20 đến nay
Về chữ viết, theo một số nghiên cứu khảo cổ, từ thời Hùng Vương người
Việt đã có chữ viết riêng gọi là chữ Khoa Đẩu mà người Trung Quốc miêu tả là
của các thế hệ người Việt Nam khi đại đa số
người dân trong thời phong kiến không có điều
kiện biết chữ Hán, một hình thức văn học dân
gian truyền miệng đã ra đời và được truyền lại từ
thế hệ này sang thế hệ khác tại Việt Nam. Đó là
những câu chuyện thần thoại như Thần Trụ Trời của người Việt, Đi san mặt Đất
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 12 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ ĐỊA PHƯƠNG
của người Lô Lô, những sử thi như Đam San của người E Đê, Đẻ đất đẻ nước
của người Mường, những truyền thuyết như Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Thánh
Gióng của người Việt, những cổ tích như Thạch Sanh của người Khmer và các
truyện ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, ca dao, Văn học dân gian thường ca
ngợi tài năng và lòng dũng cảm của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt,
trước kẻ thù độc ác, ca ngợi lòng nhân hậu, độ lượng giúp đỡ nhau, ca ngợi tình
yêu trai gái, tình chung thuỷ vợ chồng, yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu làng
xóm, quê hương. Không những thế văn học dân gian Việt Nam còn là vũ khí
đấu tranh chống lại những thói hư tật xấu của con người, chống lại những bất
công thối nát trong xã hội. Bằng ngôn ngữ dân gian giàu hình ảnh, bằng nghệ
thuật nhạc điệu sinh động, văn học dân gian Việt Nam đã thấm sâu vào lòng
người một cách tự nhiên và rất dễ dàng truyền lại cho đời sau
Trong văn học viết, với chữ Hán và chữ Nôm được sử dụng trong một
thời gian dài. Các tác phẩm văn học cổ nhất còn lưu lại được sáng tác vào thế kỷ
11 và chủ yếu liên quan đến đạo Phật khi đó đang thịnh hành tại Việt Nam. Đó
là những bài thơ của các vị sư giải thích về cơ sở căn bản của đạo Phật cũng như
bình luận về các biến cố lịch sử hay các đề tài về ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, từ
thế kỷ 13 nhiều công trình về lịch sử, địa lý và địa chí bằng chữ Hán đã xuất
hiện. Khi hệ thống chữ Nôm được hoàn chỉnh vào thế kỷ 13, nhiều tác phẩm
văn học viết bằng chữ Nôm lần lượt xuất hiện, một trong những tác phẩm sớm
nhất bằng chữ Nôm còn để lại đến hôm nay là các bài thơ của Nguyễn Trãi, các
từ thế kỷ 10 khi dành được độc lập kiến trúc Việt Nam là sự kết hợp giữa kiến
trúc bản địa cùng với những ảnh hưởng từ Trung Quốc, Chăm Pa. Các công
trình của Việt Nam quy mô thường không lớn, nhưng thường là sự kết hợp hài
hoà giữa công trình chính và cảnh quan xung quanh, đặc biệt là sử dụng hồ, ao,
sông ngòi để điều tiết khí hậu và tạo cảnh quan. Từ cuối thế kỷ 19, với việc đô
hộ của thực dân Pháp, kiến trúc Việt Nam bắt đầu áp dụng rộng rãi các khuông
mẫu và thủ pháp kiến trúc, xây dựng của phương Tây, nhiều công trình còn tồn
tại đến ngày nay ở các đô thị, đặc biệt là tại Hà Nội đã để lại một sắc thái kiến
trúc đẹp và độc đáo.
Nền Mỹ thuật bắt đầu với điêu khắc cổ được thể hiện trên mặt trống
Đồng Đông Sơn của cư dân Lạc Việt, trải qua các thời kỳ cùng với những ảnh
hưởng từ bên ngoài đã tạo ra nền điêu khắc Việt Nam phát triển rực rỡ vào các
thời Lý, Trần, Lê qua các công trình tôn giáo và cung điện các vương triều. Bên
cạnh các công trình kiến trúc và điêu khắc của người Việt thì nền điêu khắc kiến
trúc Việt Nam được bổ sung các kỹ thuật tinh xảo trong việc xây dựng các công
trình tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm và người Khmer Nam Bộ. Hội họa
xuất hiện muộn hơn với dòng tranh dân gian Việt Nam, gồm tranh lụa, tranh tết,
tranh Đông Hồ. Đề tài tranh dân gian thường giản dị và gần gũi với đời sống
dân dã, mỗi bức tranh đều có ý nghĩa tượng trưng và đều được cách điệu hoá.
Cùng với các môn nghệ thuật hiện đại khác, mỹ thuật hiện đại Việt Nam cũng
có những bước tiến dài từ đầu thế kỷ 20 với ảnh hưởng của nghệ thuật phương
Tây thời Pháp thuộc, với các trường phái lãng mạn, hiện thực, ấn tượng, trừu
tượng, siêu thực, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của phương Tây nhưng khuynh
hướng mỹ thuật hiện đại của Việt Nam vẫn gắn liền với lịch sử đất nước.
Sự ra đời và phát triển của sân khấu dân gian Việt Nam gắn liền với đời
sống nông nghiệp, múa rối nước là nghệ thuật dân gian của của người nông dân
làm ruộng nước ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, thường được biểu diễn trong dịp hội
hè, những lúc nông nhàn, múa rối nước là một nghệ thuật tổng hoà giữa các
nghệ thuật điêu khắc, sơn mài, âm nhạc, hội hoạ và văn học. Cùng với múa rối
nước là các môn nghệ thuật chèo, tuồng, cải lương góp phần làm phong phú nền
Với Lịch sử hình thành và phát triển của ngành du lịch Việt Nam:
Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt khi Quốc trưởng Bảo Đại cho
lập Sở Du lịch Quốc gia ngày 5 Tháng Sáu, 1951. Chuyển tiếp sang thời kỳ Việt Nam
Cộng hòa, Nha Quốc gia Du lịch điều hành việc phát triển các tiện nghi du lịch trong
nước ở phía nam vĩ tuyến 17 cùng tăng cường hợp tác quốc tế như việc gửi phái đoàn
tham dự Hội nghị Du lịch Quốc tế ở Brussel năm 1958. Năm 1961 Nha Du lịch cổ
động du lịch "Thăm viếng Đông Dương" với ba chí điểm: Nha Trang, Đà Lạt và Vũng
Tàu. Vì chiến cuộc và thiếu an ninh ngành du lịch bị hạn chế nhưng chính phủ vẫn cố
nâng đỡ kỹ nghệ du lịch như việc phát hành bộ tem "Du lịch" ngày 12 Tháng Bảy năm
1974.
Đối với miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ngày thành lập ngành Du
lịch Việt Nam được tính là ngày 09/7/1960.
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 15 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ ĐỊA PHƯƠNG
Ngày 16/3/1963 Bộ Ngoại thương ban hành Quyết định số 164-BNT-TCCB quy
định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công ty Du lịch Việt Nam.
Ngày 18/8/1969 Chính phủ ban hành Nghị định số 145 CP chuyển giao Công ty
Du lịch Việt Nam sang cho Phủ Thủ tướng quản lý.
Ngày 27/6/1978 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quyết nghị số 262
NQ/QHK6 phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam trực thuộc Hội đồng
Chính phủ.
Ngày 23/1/1979 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 32-CP quy định
nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch Việt Nam.
Ngày 15/8/1987 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 120-HĐBT về chức
năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.
Ngày 9/4/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 119-HĐBT thành
lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam.
Ngày 31/12/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 447-HĐBT về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể
lịch hành lang Đông Tây và hệ thống biển, đảo Bắc Trung Bộ. Các địa bàn trọng điểm:
Huế và phụ cận; Kim Liên - Vinh - Cửa Lò - Cầu Treo.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng,
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận gắn với vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung, với hệ thống biển đảo Nam Trung Bộ. Các địa bàn
trọng điểm: Đà Nẵng - Quảng Nam, Nha Trang - Ninh Chữ, Phan Thiết - Mũi Né.
Vùng Tây Nguyên: gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm
Đồng gắn với Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia. Các địa bàn trọng
điểm: TP Đà Lạt và phụ cận, TP. Buôn Mê Thuột và phụ cận; Khu vực Bờ Y- TX. Kon
Tum - TP. Pleiku.
Vùng Đông Nam Bộ: gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình
Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh gắn với vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam và hành lang du lịch xuyên Á. Các địa bàn trọng điểm: Thành phố Hồ Chí
Minh - Tây Ninh, Vũng Tàu - Côn Đảo.
Vùng Tây Nam Bộ: Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang,
Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang
và TP. Cần Thơ gắn với du lịch tiểu vùng sông Mêkông. Các địa bàn trọng điểm: Khu
vực TP.Cần Thơ và phụ cận; Hà Tiên - Phú Quốc; Khu vực Đồng Tháp Mười.
Cùng với các tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, tiềm năng ấy thể hiện ở
các thế mạnh sau:
Tính đến tháng 8/2010, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có
hơn 3000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 5000 di tích được xếp hạng cấp
tỉnh. Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ
lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam. Tới năm 2011, có 7 di sản được UNESCO
công nhận là Di sản thế giới tại Việt Nam bao gồm: Thành nhà Hồ, Hoàng thành
Thăng Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố Cổ Hội An, Thánh địa
Mỹ Sơn, và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Tính đến hết năm 2010 Việt Nam được UNESCO công nhận 8 khu dự trữ sinh
quyển thế giới đó là Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Đồng Nai, Cù lao
Chàm, Cần Giờ. Cà Mau và biển Kiên Giang
(2001-2005), tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như chiến tranh, khủng bố, dịch
SARS và cúm gia cầm, nhưng do áp dụng các biện pháp táo bạo tháo gỡ kịp thời, nên
lượng khách và thu nhập du lịch hàng năm vẫn tiếp tục tăng trưởng 2 con số. Khách
quốc tế năm 2001 đạt 2,33 triệu lượt, năm 2005 đạt gần 3,47 triệu lượt; khách nội địa
năm 2001 đạt 11,7 triệu lượt; năm 2005 đạt 16,1 triệu lượt; người Việt Nam đi du lịch
nước ngoài năm 2005 ước khoảng 900 nghìn lượt. Du lịch phát triển đã góp phần tăng
tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ (riêng GDP du lịch hiện chiếm khoảng 4% GDP cả
nước, theo cách tính của UNWTO thì con số này khoảng 10%). Du lịch là một trong ít
ngành kinh tế ở nước ta mang lại nguồn thu trên 2 tỷ USD/năm. Hơn 10 năm trước, Du
lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp nhất khu vực, nhưng đến nay khoảng cách này đã
được rút ngắn, đã đuổi kịp và vượt Philíppin, chỉ còn đứng sau Malaysia, Singapore,
Thái Lan và Indonesia. Theo UNWTO, hiện nay Việt Nam là một trong những nước có
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 18 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ ĐỊA PHƯƠNG
tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới. Năm 2004, Du lịch Việt Nam
được Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới xếp thứ 7 thế giới về tăng trưởng lượng
khách trong số 174 nước; Việt Nam được xếp vào nhóm 10 điểm đến hàng đầu thế
giới.
Hiệu quả chiều sâu về nhiều mặt của du lịch ngày càng rõ nét. ở đâu du lịch
phát triển, ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang, sạch đẹp hơn, đời sống
nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hoạt động du lịch đã thúc đẩy các ngành khác phát
triển, tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hoá và dịch vụ; mỗi năm, hàng chục lễ
hội truyền thống được khôi phục, tổ chức dần đi vào nền nếp và lành mạnh, phát huy
được thuần phong mỹ tục. Nhiều làng nghề thủ công truyền thống được khôi phục và
phát triển, tạo thêm các điểm tham quan du lịch, sản xuất hàng lưu niệm, thủ công mỹ
nghệ bán cho khách, nhân dân có thêm việc làm và thu nhập; góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và nhiều hộ dân ở
không ít địa phương đã giàu lên nhờ làm du lịch. Du lịch phát triển đã tạo thêm nguồn
thu để tôn tạo, trùng tu các di tích và nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cơ quan nhà
trung bình của khu vực. Năng lực của các công ty du lịch Việt Nam không tương xứng
với tiềm năng.
Nhìn chung, các ngành hỗ trợ du lịch vẫn chưa phát triển cùng nhịp với sự phát
triển của ngành du lịch. Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông yếu kém, phương tiện vận
tải lạc hậu, đường vận chuyển hàng không vẫn chưa được phát triển đúng mức. Công
nghệ thông tin chưa được ứng dụng nhiều; ứng dụng thương mại điện tử trong điều
hành các tour du lịch và giao dịch giữa các nhà cung cấp dịch vụ du lịch chưa được
nhiều, hoạt động xúc tiến du lịch ở nước ngoài còn yếu về số lượng và hiệu quả. Các
dịch vụ giải trí, văn hoá, thể thao vẫn chưa phát triển và các dịch vụ ngân hàng chưa
đáp ứng nhu cầu.
Sản phẩm dịch vụ du lịch chưa phong phú, đa dạng. Ta có nhiều cảnh quan
thiên nhiên đẹp và có bãi biển được xếp hạng tầm quốc tế, nhưng trên phạm vi cả nước,
chưa có được một khu du lịch tầm cỡ và có tên tuổi như Pataya, Phuket (Thái Lan),
Sentosa (Singapore), Bali (Inđônesia), hay Genting, Langkawi (Malaysia). Đặc điểm
này đã ảnh hưởng đến việc thu hút được sự chú ý của khách du lịch, không kéo dài
được thời gian nghỉ ngơi của khách tại Việt Nam, không tạo cơ hội để tăng chi tiêu của
khách quốc tế tại Việt Nam.
Nguồn nhân lực cho du lịch chưa được đào tạo một cách hệ thống về chuyên
môn và kỹ năng nghề nghiệp. Năng lực ngoại ngữ, kỹ năng công nghệ thông tin và khả
năng giao tiếp còn hạn chế. Các cơ sở đào tạo du lịch phân bổ không đồng đều, chủ
yếu tập trung ở các thành phố lớn. Mặc dù có sự bùng nổ về số lượng các công ty du
lịch lữ hành trong nước, song các công ty này cạnh tranh thiếu lành mạnh về giá, giảm
chất lượng dịch vụ, vi phạm các yêu cầu về giấy phép hành nghề.
Hiện nay sự liên kết, hợp tác giữa các Bộ ngành, địa phương, lãnh thổ tuy gần
đây có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn yếu hoặc thiếu (Tổng cục Du lịch, Bộ Tài nguyên
và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông Vận tải, Công an)
đặc biệt là việc quản lý các nguồn lực tự nhiên. Cũng chưa có sự phối hợp chặt chẽ
giữa các ngành (tài chính, ngân hàng, hàng không, biên phòng, hải quan, điện lực và
viễn thông…) trong hỗ trợ phát triển du lịch. Bên cạnh đó, hệ thống thống kê áp dụng
trong ngành du lịch Việt Nam cũng chưa được cải tiến nhiều. Cùng với xu thế phát
Với nhưng yếu tốt và sự phát triển như vậy của ngành du lịch nước ta đã mang
lại ý nghĩa về mặt kinh tế đối với phát triển du lịch
Ý nghĩa về mặt kinh tế của việc phát triển du lịch nội địa.
Góp phần tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản xuất đồ
lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật…), làm
tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội. Góp phần tích cực vào quá trình phân phối
lại thu nhập quốc dân giữa các vùng. Nói cách khác, du lịch có tác động tích cực
vào việc làm cân đối cấu trúc thu chi của nhân dân theo các vùng (thường các
vùng phát triển mạnh du lịch lại là các vùng kém sản xuất ra của cải vật chất dẫn
đến thu nhập của người dân tại các vùng đó từ sản xuất là thấp).Du lịch nội địa
phát triển tốt sẽ củng cố sức khoẻ cho nhân dân lao động và do vậy góp phần
làm tăng năng suất lao động xã hội.
Ngoài ra du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của
du lịch quốc tế được hợp lý hơn. Vào trước và sau thời vụ du lịch, khi khách
quốc tế vắng có thể sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật ấy vào phục vụ khách du
lịch nội địa.
Ý nghĩa của việc phát triển du lịch quốc tế chủ động
Việc phát triển du lịch quốc tế chủ động có tác động tích cực vào việc
làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn
trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Cùng với hàng không dân dụng,
kiều hối, cung ứng tàu biển, bưu điện quốc tế và các dịch vụ thu ngoại tệ khác,
du lịch quốc tế hàng năm đem lại cho các quốc gia nhiều ngoại tệ.
Ở các nước du lịch phát triển, thu nhập ngoại tệ từ du lịch chiếm tới 20%
hoặc lớn hơn thu nhập ngoại tệ của đất nước. Ngoại tệ thu được từ du lịch quốc
tế thường được các nước sử dụng để mua sắm máy móc, thiết bị cần thiết cho
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 21 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ ĐỊA PHƯƠNG
quá trình tái sản xuất xã hội, nhất là đối với các nước đang phát triển. Do vậy,
du lịch quốc tế góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước.
Với hai hình thức xuất khẩu trên cho thấy hàng hoá và dịch vụ bán thông
qua du lịch đem lại lợi nhuận kinh tế cao hơn, do tiết kiệm được đáng kể chi phí
đóng gói, bảo quản, vận chuyển, thuế xuất nhập khẩu… đồng thời thu hồi vốn
nhanh và lãi suất cao do nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp và có khả năng
thanh toán.
Du lịch khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài. Cơ cấu nền kinh tế
thế giới nói chung và các nước nói riêng đang có xu hướng chuyển dịch ngày
càng trở nên hợp lý hơn. Đó là sự tăng dần tỷ trọng ở lĩnh vực dịch vụ trong cơ
cấu nền kinh tế. Các nhà kinh doanh đi tìm hiệu quả của đồng vốn thì du lịch là
một lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác. Du lịch
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 22 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ ĐỊA PHƯƠNG
đem lại tỷ suất lợi nhuận cao, vì vốn đầu tư ít (so với ngành công nghiệp nặng,
giao thông vận tải, xây dựng…), thời gian thu hồi vốn nhanh, kỹ thuật không
phức tạp.
Ý nghĩa của việc phát triển du lịch quốc tế bị động
Du lịch quốc tế bị động khác hẳn với du lịch quốc tế chủ động. Nó là
hình thức nhập khẩu đối với đất nước gửi khách đi ra nước ngoài (vì người dân
đem tiền tệ ra nước ngoài tiêu). Bù đắp vào đó là hiệu quả (chủ yếu về mặt xã
hội) của chuyến đi du lịch đối với người dân. Sau các chuyến đi, sức khoẻ của
người dân được củng cố, khách đi du lịch nước ngoài mở rộng sự hiểu biết về
mặt xã hội, nâng cao tầm nhìn và rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân.
Nếu đi du lịch kèm theo mục đích kinh doanh (ký kết hợp đồng, tìm
kiếm thị trường, đầu tư…), dẫn đến du lịch quốc tế bị động có ý nghĩa gián tiếp
về mặt kinh tế đối với đất nước.
Các ý nghĩa khác về mặt kinh tế của việc phát triển hoạt động kinh doanh
du lịch nói chung.
Du lịch phát triển sẽ tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương có
hoạt động du lịch từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực
hưởng đến môi trường nơi đó.
Cuộc sống và các tập quán của các động vật hoang dã có thể bị ảnh
hưởng do lượng lớn khách du lịch đến đông vào các thời điểm quan trọng trong
chu trình sống (di trú, kiếm ăn, sinh sản, làm tổ…).
Du lịch được coi là ngành công nghiệp không khói, tuy nhiên du lịch có
thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy, ô tô và tàu
thuyền khi vận chuyển khách.
Về mặt nhân văn
Du lịch hoạt động mang tính thời vụ, các nhu cầu vào các thời kỳ cao
điểm có thể vượt quá khả năng đáp ứng về dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng
của địa phương sẽ gây ách tắc giao thông, thiếu hụt về nước, năng lượng… đồng
thời tạo ra sự không ổn định về việc làm cho người lao động.
Việc xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch (cơ sở lưu trú,
vui chơi giải trí…) có thể là nguyên nhân của việc di chuyển chỗ ở và tái định
cư ngoài ý muốn của người dân địa phương.
Các tác động do thiết kế, xây dựng các cơ sở phục vụ du lịch có thể làm
nảy sinh do sự thiếu hài hoà về cảnh quan và về văn hoá – xã hội. Các tác động
tiêu cực của việc phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch lên các tài nguyên có
giá trị thẩm mỹ cũng dễ nảy sinh. Việc xác định mức đóng góp của các cơ sở
hoạt động du lịch cho việc sử dụng nước, dịch vụ thoát nước, vệ sinh môi
trường… cũng dễ tạo nên mâu thuẫn đối với người dân địa phương.
Khách du lịch tập trung quá đông, dân cư địa phương sẽ bị cạnh tranh
tiện nghi giao thông, giá cả… và sẽ xuất hiện cảm giác bực bội của dân địa
phương đối với khách du lịch.
Các giá trị văn hoá truyền thống có thể bị xói mòn. Giá trị văn hoá truyền
thống ở những miền núi cao thường khá đặc sắc nhưng rất dễ bị biến đổi do tiếp
xúc với các nền văn hoá xa lạ, do xu hướng thị trường hoá các hoạt động văn
hoá, do mâu thuẫn nảy sinh khi phát triển du lịch hoặc do tương phản về lối
sống.
Ngoài ra còn nhiều tiêu cực khác như có khả năng lây lan các bệnh
bản hướng dẫn Luật Du lịch làm cơ sở cho công tác điều hành, quản lý nhà
nước, cũng như trong hoạt động kinh doanh của chính các doanh nghiệp.
Tổng cục Du lịch chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương, hiệp
hội và doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài) rà soát các quy định có liên quan đến đầu tư, xúc tiến, quảng
bá du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, cơ chế liên kết, phối hợp giữa các ngành,
các cấp và các doanh nghiệp… để tìm ra các quy định bất hợp lý làm cản trở sự
phát triển của ngành và đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung, đồng thời kiến nghị
Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch xem xét, xử lý kịp thời.
Về công tác xúc tiến, quảng bá du lịch:
Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến cơ chế tài chính cho hoạt
động xúc tiến, quảng bá du lịch.
Có chế tài huy động vốn nhiều hơn nữa từ doanh nghiệp cho quảng bá,
xúc tiến du lịch.
Gắn công tác xúc tiến, quảng bá du lịch với xúc tiến đầu tư thương mại.
GVHD: ĐỖ PHƯƠNG QUYÊN 25 SVTH: NGUYỄN TRỌNG
LINH