Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao người Việt - Pdf 28



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THANH TRANG

VĂN HÓA ỨNG XỬ VỀ TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN
TRONG CA DAO NGƢỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Dân gian

Hà Nội - 2014
Hà Nội, 11/ 2014

3
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ học hàm, học vị nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực
hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã
đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Người thực hiện
Nguyễn Thanh Trang


5
DANH MỤC VIẾT TẮT KTCD : Kho tàng ca dao ngƣời Việt
VHDG : Văn học dân gian
THCS : Trung học cơ sở
H : Hà Nội
NXB : Nhà xuất bản
TS : Tiến sĩ
PGS : Phó giáo sƣ
GS : Giáo sƣ
Tr : Trang
6

3.1. Ứng xử trong quan hệ vợ chồng 64
3.1.1. Đạo nghĩa chung trong quan hệ vợ chồng 64
3.1.2. Ứng xử của người vợ 67
3.1.2.1. Ứng xử tích cực ( sự gắn bó, hòa hợp) 67
3.1.2.2. Ứng xử tiêu cực 77
3.1.3. Ứng xử của người chồng 92
3.1.4. Ứng xử của người tình của chồng 94
3.2. Ứng xử trong mối quan hệ khác 97
3.2.1. Ứng xử trong quan hệ nàng dâu với mẹ chồng 97
3.2.2. Ứng xử trong quan hệ bố mẹ vợ - con rể 102
3.2.3. Ứng xử trong quan hệ mẹ ghẻ - con chồng, cha dượng - con của vợ 103
3.2.4. Ứng xử giữa anh chị em dâu rể 104
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN 106
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do thực tiễn
Văn hóa ứng xử của ngƣời Việt đƣợc hình thành trong quá trình giao tiếp

đổi mới, phẩm giá còn có sự tiếp nối. Thế nhƣng có đổi mới tới đâu cũng phải
phát triển dựa trên dân trí và đạo đức. Không thể phủ nhận ngày nay là thời đại
khoa học công nghệ, thời đại của công nghệ thông tin, thời đại dân trí phát triển
mạnh. nhƣng dân trí đƣợc nâng cao không có nghĩa phá vỡ những nền tảng đạo
đức. Hai khía cạnh ấy phải luôn có sự song hành, diễn tiến hài hòa.
Do đó, việc tìm hiểu văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân qua ca dao
giúp chúng ta hiểu hơn đời sống của cha ông và việc soi bóng vào quá khứ sẽ
giúp ta thấy đƣợc một tƣơng lai, soi bóng vào dân tộc để thấy đƣợc chính mình.
Có đƣợc gốc rễ ấy để ta có cái nhìn đúng đắn về tình yêu, hôn nhân trong cuộc
sống hiện đại và đây là điều thực sự cần thiết cho giới trẻ ngày nay.
1.2. Lý do học thuật
Ca dao cũng là một lĩnh vực cần nghiên cứu chuyên sâu, vì kho tàng ca
dao cũng là một kho tàng tri thức về lịch sử, xã hội, địa lý, đặc biệt là lĩnh vực
văn hóa. Nghiên cứu ca dao chính là việc làm mang tính chất học thuật nhằm
khám phá kho tàng tri thức của cha ông.
Tình yêu, hôn nhân đặc biệt là tình yêu, hôn nhân trong ca dao của ngƣời
Việt luôn là tâm điểm nghiên cứu từ xƣa đến nay. Bởi đó là vấn đề mang tính
chất hiện sinh, đặt ra nhiều mối quan tâm trong cuộc sống thực tại. Những bài ca
dao về tình yêu tự do, về quyền sống của con ngƣời, đặc biệt là ngƣời phụ nữ, 10
những bài ca dao đòi hỏi sự công bằng, chống áp bức bất công đều là những cách
ứng xử rất khéo léo của ngƣời xƣa để đòi quyền đƣợc cất lên tiếng nói của mình.
Việc khảo sát những bài ca dao về tình yêu, hôn nhân sẽ giúp con ngƣời hiện tại
khám phá đƣợc kho tàng ứng xử của ngƣời xƣa trƣớc những vấn đề của muôn
đời. Đó cũng là một cách làm mang tính chất học thuật và vì học thuật.
Quá trình khám phá những bài ca dao cũng là một quá trình đòi hỏi tính
học thuật rất cao. Giống nhƣ ngôn ngữ thông thƣờng, từ cái vỏ bề ngoài ( cái
phản ánh) cần phải khám phá ra cái đƣợc phản ánh bên trong. Ca dao rất hay

nhiều ngƣời quan tâm và nghiên cứu. Các giáo trình văn học dân gian của Đinh
Gia Khánh, Hoàng Tiến Tựu, Vũ Anh Tuấn, Đỗ Bình Trị… cũng đề cập tới vấn
đề này, tuy không nhiều lắm, nhƣng cũng là nguồn tham khảo quý giá cho chúng
tôi. Bên cạnh đó, qua các cuốn chuyên luận, các luận án, các bài báo mà chúng
tôi khảo sát đƣợc, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu trƣớc đây mới chỉ tập
trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Về vấn đề văn hóa ứng xử trong ca dao, các nhà nghiên cứu mới tập trung
nghiên cứu mảng ứng xử xã hội (Chuyên luận của Trần Thúy Anh: Ứng xử cổ
truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục
ngữ; bài viết của Hà Đan: Từ chữ “nghĩa” trong ca dao, tìm về một nét ứng xử
trong truyền thống văn hóa người Việt; bài viết của Trần Thị Ngân Giang: Nghĩa
của từ “nhịn” trong tiếng Việt và chữ nhịn trong văn hóa ứng xử người Việt),
mảng ứng xử trong gia đình, đạo đức (Đỗ Thị Bảy: Sự phản ánh quan hệ gia
đình, xã hội trong tục ngữ, ca dao; Nguyễn Nghĩa Dân: Tục ngữ ca dao về giáo
dục đạo đức…); về thi pháp biểu hiện trong ca dao ( bài viết của Cao Huy Đỉnh: 12
Lối đối đáp trong ca dao trữ tình; Đỗ Thị Hòa - Luận văn Thạc sĩ Văn học dân
gian Trƣờng ĐHSP Hà Nội: Đặc điểm nghệ thuật so sánh trực tiếp trong ca dao
tình yêu người Việt; Nguyễn Xuân Kính: Thi pháp ca dao; Đặng Diệu Trang:
Thiên nhiên với thế giới nghệ thuật ẩn dụ và biểu tượng trong ca dao dân ca;
Hoàng Kim Ngọc: So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình: Dưới góc nhìn ngôn
ngữ văn hóa học…).
Về mảng ca dao tình yêu và hôn nhân, các luận văn, các chuyên luận, các
bài nghiên cứu mới đề cập tới các vấn đề chung của tình yêu đôi lứa, thân phận
ngƣời phụ nữ chứ chƣa đi sâu vào nghệ thuật ứng xử. Tiêu biểu có các bài viết:
bài viết của Lê Thị Thắm: Ý niệm về đôi - cặp trong ca dao người Việt về hôn
nhân và gia đình; Nguyễn Xuân Đức: Nghệ thuật biểu hiện trong bài ca dao
“Trèo lên cây bưởi hái hoa”; Phạm Danh Môn (st, chỉnh lý): Tình yêu đôi lứa

cách nhìn của ca dao đối với ngƣời phụ nữ. Trên cơ sở đó, chúng tôi có sự so
sánh cách dân gian đối xử với ngƣời phụ nữ trong chèo cổ, truyện nôm bình dân
cũng nhƣ cách những ngƣời phụ nữ đó ứng xử trong tình yêu, hôn nhân. Từ đó
có thể thấy hôn nhân và tình yêu thể hiện chuẩn mực của xã hội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tƣ liệu về ca dao rất dồi dào, phong phú, đa dạng biểu hiện ở nhiều công
trình. Nhƣng với đề tài “Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao
người Việt”, đối tƣợng khảo sát chính của chúng tôi là “Kho tàng ca dao người
Việt” (1995), 14
4 tập, do Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên, Nxb Văn hóa thông tin,
H. Ngoài ra chúng tôi có tham khảo thêm“Tổng tập Văn học dân gian người
Việt” (2002), Nxb khoa học xã hội, H. Đây là một công trình tập thể đƣợc biên
soạn công phu gồm 19 tập về tất cả các thể loại của văn học dân gian ngƣời Việt.
Chúng tôi sử dụng tập 15,16 (quyển thƣợng, quyển hạ) là tập nói về ca dao
ngƣời Việt. Trong quá trình tiến hành thống kê và phân tích, đối chiếu, so sánh,
chúng tôi cũng có thể sử dụng thêm một số tƣ liệu có sẵn, đƣợc trích dẫn lại
trong các công trình có liên quan. Các tƣ liệu này đều đƣợc chú thích rõ nguồn
gốc, xuất xứ.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm góp phần vào việc tìm hiểu văn hóa ứng xử của ngƣời Việt
về tình yêu và hôn nhân đƣợc phản ánh trong ca dao. Đề tài cũng khẳng định
những giá trị đã tạo nên vẻ đẹp trong văn hóa ứng xử của ngƣời Việt nói riêng
và con ngƣời Việt Nam nói chung. Từ đó phát huy những nét đẹp đó để
giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.
4.2. Nhiệm vụ
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, chúng tôi xác định nhiệm vụ

ca dao tình yêu, hôn nhân trong kho tàng ca dao ngƣời Việt. Bên cạnh đó, góp
phần gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc để
khẳng định sự bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc trong văn hóa ứng xử. Từ 16
đó để ta có cái nhìn đúng đắn về tình yêu, hôn nhân trong cuộc sống hiện đại và
đây là điều thực sự cần thiết cho giới trẻ ngày nay.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các chữ viết tắt, Tài liệu tham
khảo, Phụ lục, Luận văn này gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề chung
1.1. Tổng quan về văn hóa ứng xử
1.2. Ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong văn hóa Việt Nam
1.3. Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao từ góc nhìn thể
loại
Chương 2: Văn hóa ứng xử trong tình yêu
2.1. Tình yêu hạnh phúc
2.2. Tình yêu đau khổ
2.3. Tình yêu đơn phương
2.4. Những ước mong trong tình yêu
Chương 3: Văn hóa ứng xử trong hôn nhân
3.1. Ứng xử trong quan hệ vợ chồng
3.2. Ứng xử trong mối quan hệ khác

18
lối ứng xử… Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn… và
tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau” [71, tr.22].
Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: “Văn
hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí
tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người
trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống,
những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và
những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có
lí tính, có óc phê phán và dấn thân mọt cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con
người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa
hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết
mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản
thân” [71, tr.23] . Điều đó cũng có nghĩa là “văn hóa bao gồm tất cả những gì
làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia”.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng: văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con
ngƣời sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên. Văn hóa là sản phẩm của loài
ngƣời, đƣợc tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con ngƣời và xã hội,
đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa, đƣợc
tái tạo, phát triển trong quá trình hành động và tƣơng tác xã hội của con ngƣời.
Nói cách khác, văn hóa là trình độ phát triển của con ngƣời và của xã hội đƣợc
biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con
ngƣời cũng nhƣ trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con ngƣời tạo ra.
Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con ngƣời trƣớc
sự tác động của ngƣời khác với mình trong một tình huống nhất định đƣợc thể 19
hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con ngƣời nhằm đạt kết quả

vùng khác nhau thì không giống nhau do nền văn hóa khác nhau. Còn ứng xử
của loài vật thì khắp nơi hầu nhƣ giống nhau vì loai vật không có văn hóa. Điều
này có nghĩa là trong những thời đại khác nhau thì văn hóa ứng xử của con
ngƣời cũng có sự thay đổi.
1.2. Ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong văn hóa Việt Nam
1.2.1. Ứng xử về tình yêu trong văn hóa Việt Nam
Tình yêu và hôn nhân là hai vấn đề hầu nhƣ luôn đi đôi với nhau, gắn bó
và tƣơng quan chặt chẽ với nhau nhƣ một. Tình yêu là một tình cảm thiêng liêng,
cao đẹp của con ngƣời nên tình yêu đòi hỏi cung cách ứng xử cũng phải cao đẹp
để tƣơng ứng với nó. Từ cách xƣng hô đến hò hẹn, cả khi trách cứ giận hờn cũng
phải mang màu sắc đặc thù của tình yêu. Nếu chúng ta xử sự một cách suồng sã
thì dù có yêu nhau đến đâu chăng nữa cũng chỉ là một thứ tình yêu thiếu văn hóa.
Do tình yêu là bản chất thiêng liêng và tự nhiên của con ngƣời cho nên dù
ở thời đại nào, tình yêu bao giờ cũng là đề tài bất tận cho những áng văn chƣơng.
Việt Nam chúng ta từ ngàn xƣa là một quốc gia nông nghiệp. Với hình thể chữ S
mềm mại uốn cong ven bờ Thái Bình Dƣơng, với cảnh vật thiên nhiên kỳ thú
nhƣ cỏ cây hoa lá, nhƣ núi cả sông sâu, nhƣ lũy tre xanh, nhƣ đồng ruộng óng ả
lúa vàng, hòa với tâm tình và lịch sử của dân tộc, quê hƣơng Việt Nam có một
nền văn chƣơng bình dân hay bác học hết sức phong phú đầy nét vẽ chân thành
pha lẫn những điểm tế nhị và sâu sắc. Trong cái tình cảm đa dạng đó của dân tộc,
tình yêu nam nữ đã vƣơn lên nhƣ cánh hoa nở trong vƣờn đời, tạo nên biết bao
câu ca dao tình tứ , bao vần thơ truyền khẩu lãng mạn. 21
1.2.2. Ứng xử về hôn nhân trong văn hóa Việt Nam
Hôn nhân là một trong những việc quan trọng của cuộc đời mỗi con
ngƣời. Hôn nhân tốt đẹp sẽ đem lại hạnh phúc bền vững, cuộc sống gia đình hòa
thuận, êm ấm. Hôn nhân là phƣơng thức để xây dựng, duy trì, củng cố và phát triển
gia đình, nó vừa liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội, ảnh hƣởng trực tiếp

Trong xã hội ngƣời Việt cổ truyền khá phổ biến hiện tƣợng ép duyên, xuất
phát từ quan điểm hôn nhân vị mƣu sinh. Mặt khác, cũng có quan điểm hôn nhân vị
tình cảm. Có lẽ đây mới là quan điểm chủ đạo, phù hợp với truyền thống trọng tình
của ngƣời Việt. Vì vậy, ép duyên là cách ứng xử có tồn tại trong xã hội song không
đƣợc coi nhƣ một giá trị văn hóa, mà là một hiện tƣợng cần phê phán. Từ những
nhận xét trên ta thấy cách ứng xử bị ảnh hƣởng tƣ tƣởng Nho giáo với những quan
điểm "môn đăng hộ đối", "lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống" tuy có tồn tại
trong xã hội Việt Nam, song nó không bắt rễ sâu chắc nhƣ quan niệm bản địa vốn
trọng tình. Còn trong cuộc sống gia đình, ứng xử trong gia đình ngƣời Việt đƣợc
dựa trên nền tảng tình cảm hết sức vững chắc, tốt đẹp: vợ chồng đầu gối tay ấp. Mối
quan hệ đó thật bền chặt, gắn bó, thiêng liêng và sâu sắc.
Quan hệ vợ chồng là quan hệ gắn bó từ hai phía, phụ thuộc từ hai phía, vì
nhau và luôn cậy nhờ lẫn nhau. “Đạo vợ chồng cư xử với nhau, trọng nhất là hai
chữ hòa thuận […] có hòa thuận với nhau thì việc khó đến đâu cũng làm nên được.
Người chồng trọng nhất là phải giữ nghĩa với vợ, mà vợ thì phải giữ tiết với
chồng”. [4, tr.84]. Xuất phát từ quan điểm gắn bó và bình đẳng này, ngƣời phụ nữ
trong gia đình truyền thống ngƣời Việt có vai trò rất đặc biệt. Của cải trong gia đình 23
là của chung: của chồng, công vợ; mọi việc trong gia đình phải: thuận vợ, thuận
chồng. Ngƣời đàn bà là tay hòm chìa khóa và còn đóng vai trò quan trọng trong sự
nghiệp của chồng: “Người vợ trên phải phụng dưỡng cha mẹ chồng, có khi phải
nuôi cả chồng; giữa thì giúp chồng lo lắng công kia việc khác, gánh vác giang sơn
nhà cho chồng; dưới thì săn sóc nuôi con, thế mới là nội trợ”. [4, tr.85].
Nhƣ vậy, ngƣời vợ trong gia đình có vị trí đƣợc tôn trọng, bình đẳng với
ngƣời chồng. Mặt khác, trong cuộc sống gia đình, phƣơng châm ứng xử của ngƣời
vợ cũng lại rất khéo léo theo kiểu “lạt mềm buộc chặt”. Đây thực sự là một phƣơng
châm ứng xử tuyệt vời của những ngƣời vợ Việt Nam, xuất phát từ đặc trƣng trọng
hòa hiếu, trọng cuộc sống cộng đồng. Theo truyền thống này, con ngƣời luôn muốn

văn hóa. Đó là cách lựa chọn đối tƣợng hôn nhân tƣơng hợp dựa trên nhân cách và
tình cảm, là mối quan hệ gia đình bình đẳng, gắn bó giữa chồng và vợ, là vai trò của
ngƣời phụ nữ đƣợc tôn trọng với những cách ứng xử nhằm bảo đảm sự hòa thuận
êm ấm trong gia đình Đó chính là tinh hoa trong đạo lý sống của ngƣời Việt đƣợc
bảo lƣu qua nhiều thế hệ nhƣ những giá trị trƣờng tồn và mang đậm bản sắc của dân
tộc Việt.
1.3. Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao từ góc nhìn thể
loại
Ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian, là cả một thế giới
muôn màu muôn vẻ, đem đến cho ngƣời dân xƣa và cho chúng ta ngày nay biết
bao tri thức, biết bao bài học trong lao động sản xuất, trong ứng xử, củng cố cho
con ngƣời niềm tin vào điểu thiện, khơi dậy niềm tự hào về quê hƣơng đất nƣớc. 25
Ca dao về tình yêu và hôn nhân trƣớc hết là những sáng tác của những
ngƣời lao động. Tất nhiên đây không phải thơ ca lao động vì nhịp điệu, tiết tấu
của nó không phụ thuộc vào động tác lao động, song nó lại ra đời trên cơ sở lao
động, gắn liền với môi trƣờng sinh hoạt lao động của nhân dân. Điều này cũng
tƣơng đồng với các sáng tác dân gian khác nhƣ truyện nôm bình dân, chèo cổ…
Tuy nhiên, cách ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao khác với cách ứng
xử trong chèo cổ và truyện nôm cũng về lĩnh vực này.
Trƣớc hết là cách ứng xử trong chèo cổ. Với khuôn khổ luận văn, chúng
tôi chỉ khảo sát cách ứng xử của các nhân vật nữ để đƣa ra sự so sánh. Các nhà
nghiên cứu ta đã chia nhân vật nữ trong chèo cổ ra làm hai nhóm cơ bản: nhóm
nữ thuận (nữ chín) và nhóm nữ nghịch (nữ lệch).
Nhóm nữ thuận – là những ngƣời phụ nữ tuân theo mọi quy định của lễ
giáo phong kiến : tứ đức, tam tòng, đảm đang, nết na, chung thủy Họ là tấm
gƣơng trong sáng cho mọi ngƣời soi vào học tập, noi theo. Đó là Trinh Nguyên
trong vở Tôn Mạnh – Tôn Trọng, một ngƣời phụ nữ trẻ đẹp, nết na, đã tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status