ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN )(
Trần Thị Kim Liên TÍNH THỐNG NHẤT VÀ SẮC THÁI
RIÊNG TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT Ở
BA MIỀN BẮC, TRUNG, NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học:
GS. TS. Nguyễn Xuân Kính HÀ NỘI - 2005
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang
5
1. Lí do chọn đề tài
30
1.4. Môi trƣờng tự nhiên, xã hội và lịch sử của chủ nhân ca dao Nam Bộ
(ca dao miền Nam)
33
1.5. Về mối quan hệ giữa tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao
ngƣời Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam
38
1.6. Tiểu kết
46
Chương 2: TÍNH THỐNG NHẤT VÀ SẮC THÁI RIÊNG TRONG
NỘI DUNG CA DAO NGƢỜI VIỆT Ở BA MIỀN BẮC,
TRUNG, NAM 47
2.1. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong nội dung mảng ca dao phản
ánh tình cảm yêu nƣớc
48
2.1.1. Yêu quê hương làng xóm
49
2.1.2. Tự hào về truyền thống văn hoá tốt đẹp
54
2.1.3. Ca ngợi truyền thống kiên cường giữ nước
57
4
2.1.4. Tố cáo tội ác quân giặc
3.1.2. Ca dao ba miền đều sử dụng hình thức lục bát biến thể
121
121
129
3.2. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong việc sử dụng hai dạng văn
bản tạo hình và biểu hiện
132
3.3. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ
135
3.3.1. Sử dụng phương ngữ
3.3.2. Sử dụng từ gốc Hán và điển tích
3.3.3. Sử dụng các biện pháp tu từ và biểu tượng
3.4. Tiểu kết
135
147
161
188
KẾT LUẬN
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
191
197
198
5
Trong bài thứ hai, tác giả Nguyễn Tấn Phát nêu vấn đề có ý nghĩa
phương pháp luận đối với việc nghiên cứu tính thống nhất và sắc thái riêng
của ca dao - dân ca Nam Bộ so với ca dao - dân ca cả nước: “Việc tìm ra
những nét chung và riêng của ca dao – dân ca Nam Bộ sẽ làm giàu thêm trong
sự nhận thức của chúng ta về ca dao dân ca dân tộc, sẽ khẳng định được tính
thống nhất bao trùm của nền văn hoá chung của dân tộc, đồng thời chỉ ra sự
đóng góp riêng của mỗi địa phương vào kho tàng chung ấy, trên cơ sở đó mà
xem xét con đường vận động của các thể loại văn học dân gian Việt Nam, quy
luật nảy sinh và phát triển của chúng” [40, tr. 25].
Về tính thống nhất của ca dao, tác giả đã nhận xét: “Ca dao – dân ca
sưu tầm ở Nam Bộ thống nhất với ca dao – dân ca các miền khác của đất nước
về cội nguồn” [40, tr. 25]. Ông nêu những luận điểm chung về tính thống nhất
của ca dao Nam Bộ: “Ở vùng đất mới Nam Bộ, ta vẫn thấy những bài ca cũ
(tức ca dao truyền thống) còn giữ nguyên vẹn phần lời, phần nghĩa, chỉ thay
đổi về môi trường diễn xướng, điều kiện diễn xướng và ít nhiều cách diễn
xướng… Tính thống nhất của ca dao - dân ca sưu tầm ở Nam Bộ thể hiện rõ
rệt ở chủ đề của thể loại” [40, tr. 26].
Nguyễn Tấn Phát khẳng định: “Tính thống nhất có ý nghĩa bao trùm.
Sự giống nhau của các mảng đề tài ca dao – dân ca sưu tầm được ở Nam Bộ
với các miền khác của đất nước làm thành cái lõi vững chắc của một thân cây,
dòng chảy chính của một con sông. Ca dao – dân ca Nam Bộ do đó không tạo
thành một thể loại nào tách biệt với ca dao – dân ca của cả nước” [40, tr. 27].
Về tính địa phương (tức là sắc thái riêng), ông viết: “Tính địa phương
của thể loại sáng tác dân gian là một vấn đề thuộc bản chất trong sự vận động
7
của văn học dân gian. Đó là một vấn đề có tính chất tất yếu vừa là thuộc tính
vừa là phẩm chất của đối tượng. Ca dao – dân ca trữ tình Nam Bộ nằm trong
sự vận động chung có tính quy luật ấy… [40, tr. 33]. Tính địa phương thể
hiện ngay trong nội dung và hình thức của mỗi thể loại. Quan hệ giữa tính
thống nhất chung với tính địa phương (vùng, miền…) của văn học dân gian là
trong ca dao Nam Bộ; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Phương Châm khảo sát
ngôn ngữ và thể thơ ca dao Nam Bộ; luận án tiến sĩ của nhà giáo Trần Diễm
Thuý về thiên nhiên trong ca dao trữ tình Nam Bộ; luận án tiến sĩ của Trần
Văn Nam phân tích biểu trưng của ca dao Nam Bộ; - những tài liệu đó cũng
là những chỉ dẫn quý báu cho nghiên cứu sinh trong việc nhận diện tính thống
nhất và sắc thái riêng của ca dao Nam Bộ.
Trong việc sưu tầm, biên soạn ca dao Trung Bộ, bên cạnh xu hướng tập
hợp thơ ca dân gian theo từng tỉnh, còn có xu hướng thu thập ca dao theo từng
tiểu vùng (lớn hơn tỉnh):
a. Ca dao xứ Nghệ (Nghệ An và Hà Tĩnh)
b. Ca dao Bình Trị Thiên (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế)
c. Ca dao Nam Trung Bộ (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận).
Năm 1981 tại Hội thảo khoa học về văn học dân gian miền Trung
(được tổ chức tại Đà Nẵng), tác giả Lê Văn Hảo khẳng định có một vùng văn
hoá dân gian miền Trung và có các tiểu vùng dân ca tương ứng với các tiểu
vùng văn hoá của văn hoá miền Trung.
(1)
(1) Lê Văn Hảo xác định vùng văn hoá dân gian miền Trung là từ Thanh Hoá vào đến Bình Thuận;
với bốn tiểu vùng là: Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ. Chúng tôi xác định
vùng văn hoá miền Trung là từ Nghệ Tĩnh vào Bình Thuận với ba tiểu vùng: Nghệ Tĩnh, Bình Trị
Thiên và Nam Trung Bộ.
9
Bàn về nét riêng của ca dao Nghệ Tĩnh còn có các bài viết của Lê Văn
Hảo, Ninh Viết Giao, Nguyễn Phương Châm, luận văn thạc sĩ của Phan Thị
Mai
Về ca dao tiểu vùng Bình Trị Thiên, Lê Văn Hảo nhận xét, phong cách
ngọc thung thăng chốn này”, thì thật là hay đến trình độ cổ điển. Tuy nhiên,
trong cái trau chuốt, nhiều khi xảy ra cái khuôn sáo; ca dao cũng đã có cái
khuôn sáo của ca dao; cái chất sáng tạo và phát hiện của nghệ thuật dường
như mòn dần, và đó là nhược điểm của nhiều bài ca Bắc Bộ – Tôi nói về ca
dao ân tình, còn về xã hội thì theo ý tôi, ca dao Bắc Bộ phong phú nhất, sắc
sảo đến mức điển hình” [25, tr. 286].
Như vậy, đã có không ít công trình, bài viết phân tích các vùng và các
tiểu vùng ca dao, góp phần khẳng định ca dao người Việt thống nhất trong sự
đa dạng.
Có thể nhận xét chung về các bài viết, tiểu luận của các tác giả đi trước
như sau:
+ Về phạm vi không gian: Sự so sánh của các tác giả đi trước mang
tính chất nhỏ lẻ. Các công trình mới chỉ tập trung vào một vùng (hay tiểu
vùng) tiêu biểu mà chưa có sự so sánh tổng hợp, toàn diện về ca dao ba miền.
+ Về phạm vi vấn đề: Các tác giả chú ý bàn về tính thống nhất hoặc sắc
thái riêng một cách độc lập (có phần nghiêng về sắc thái riêng) mà ít chú ý
đến mối quan hệ giữa hai phương diện này.
3. TƢ LIỆU KHẢO SÁT
Trong khi tiến hành thực hiện đề tài, chủ yếu chúng tôi sử dụng tư liệu
11
ca dao trong bộ sách Kho tàng ca dao ngƣời Việt do Nguyễn Xuân Kính và
Phan Đăng Nhật làm chủ biên cùng các soạn giả Phan Đăng Tài, Nguyễn
Thuý Loan, Đặng Diệu Trang [74]. Đây là công trình tập thể được biên soạn
với sự nỗ lực lớn trong 20 năm, từ 1974 đến 1994. Bản in năm 1995 gồm bốn
tập 2788 trang, tập hợp khối lượng tư liệu tương đương với số tư liệu về dân
ca, ca dao của tất cả 37 cuốn sách (gần 46 tập được biên soạn từ cuối thế kỉ
XVIII đến năm 1975 tất cả có 11.825 đơn vị). Kho tàng ca dao ngƣời Việt
được tái bản với sự chỉnh lí và bổ sung năm 2001 gồm có tư liệu của 40 cuốn
sách (49 tập) với 12.487 lời ca dao, dân ca được in thành hai tập. Ngoài việc
số lời ca dao được tập hợp với khối lượng đồ sộ, phong phú, các soạn giả đã
phú thêm nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc chống lại sự xâm nhập
của văn hoá độc hại và xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc là động lực để phát triển kinh tế, đất nước.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án gồm ba
chương:
Chƣơng 1 Một số vấn đề lí luận chung
Chƣơng 2: Tính thống nhất và sắc thái riêng trong nội dung ca dao
người Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam
Chƣơng 3: Tính thống nhất và sắc thái riêng trong nghệ thuật phản
ánh của ca dao người Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam. 13 14
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.1. GIỚI THUYẾT CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1. Ca dao và dân ca
Đã có nhiều quan niệm về ca dao, dân ca (Dương Quảng Hàm, Vũ
Ngọc Phan, Thuần Phong, Hoàng Tiến Tựu, Vũ Ngọc Khánh,…). Ở đây,
chúng tôi xin được sử dụng cách hiểu của tác giả Nguyễn Xuân Kính. Cách
hiểu này thể hiện trong sách Thi pháp ca dao [73] và bộ Kho tàng ca dao
ngƣời Việt [74].
Sinh hoạt ca hát của người Việt có từ rất sớm. Người dân xưa chưa có
những tên gọi có tính khái quát cao, mà thường dùng những từ chỉ các hiện
Ở Việt Nam, so với từ ca dao, thuật ngữ dân ca xuất hiện muộn hơn.
Phải đến năm 1956, với cuốn sách Tục ngữ và dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc
Phan, từ dân ca mới trở nên quen thuộc.
Các nhà nghiên cứu văn học dân gian hiện nay cho rằng dân ca bao
gồm phần lời (câu hoặc bài) phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương
thức diễn xướng và cả môi trường, khung cảnh ca hát.
Khi nói đến dân ca, người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát
nhất định. Như vậy không có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát của một
loại dân ca nào đó (hát quan họ, hát ví, hát xoan ) cứ tước bỏ tiếng đệm,
tiếng láy, tiếng đưa hơi thì đều là ca dao. Ca dao được hình thành từ dân ca.
Khi nói đến ca dao người ta thường nghĩ đến lời ca.
Giữa ca dao và dân ca có mối quan hệ gắn bó. Thuật ngữ kép ca dao -
16
dân ca đã được sử dụng để phản ánh mối quan hệ đặc biệt có những điểm
tương đồng trong diễn xướng (có thể hát, ngâm theo các làn điệu). Khi được
ghi chép, dân ca và ca dao đều được ngắt ra thành câu (hai dòng thơ) thành
bài ca dao - dân ca (với nhiều dòng). Hiện tượng từng được gọi là câu, là bài,
là đơn vị, là tác phẩm ấy là những lời dân ca, ca dao. Theo nhà nghiên cứu
Nguyễn Xuân Kính, thuật ngữ lời ca dao được hiểu theo nghĩa là một cơ cấu
nghệ thuật hoàn chỉnh có mặt nội dung và mặt hình thức văn học. Nội dung
của lời diễn đạt một tình cảm, thông báo một vấn đề, một điều cụ thể. Hình
thức của lời ca dao gồm ngôn ngữ, nhịp điệu, thể thơ
Theo các soạn giả bộ sách Kho tàng ca dao ngƣời Việt, thuật ngữ ca
dao được hiểu theo ba nghĩa rộng, hẹp khác nhau:
1. Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành
phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu, trong trường hợp này ca
dao đồng nghĩa với dân ca.
2. Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca
(không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).
3. Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó tước
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ - Buồn trông con nhện giăng tơ - Nhện ơi
nhện hỡi nhện chờ mối ai…”, “Trên trời có đám mây xanh - Ở giữa mây
trắng chung quanh mây vàng - Ƣớc gì anh lấy đƣợc nàng - Để anh mua gạch
Bát Tràng về xây - Xây dọc rồi lại xây ngang - Xây hồ bán nguyệt cho nàng
chao chân”, “Núi cao chi lắm núi ơi - Che bóng mặt trời khuất mặt ngƣời
thƣơng”, (…). Cho nên không có gì lạ khi bắt gặp trong ca dao Quảng Nam -
Đà Nẵng nhiều câu hát thuần tuý Đàng Ngoài, còn nguyên gốc chính bản và
thường rất hay. Cũng dễ hiểu thôi, đường xa vạn dặm đâu có điều kiện mang
nhiều, bởi vậy mỗi lưu dân phải chọn mang theo những gì là tinh hoa nhất; vả
lại cái gì hay mới dễ khắc sâu vào ký ức con người. Dần dà để phù hợp hơn
với cảnh ngộ mới, họ có nhu cầu thay lời đổi chữ, thêm mắm dặm muối vào
18
câu hát hôm qua, và đến một ngày kia, cuộc sống vừa bám - trụ - giữ - đất vừa
quảng - nam - mở - cõi có quá nhiều điều khiến họ phải suy ngẫm sâu xa, phải
tìm cảnh bộc lộ, giãi bày, đòi hỏi họ phải tự mình sáng tác những câu hát của
chính hôm nay” [131, tr. 20]
(1)
.
Trong luận án, các từ: tác phẩm, bài, lời, đơn vị (ca dao) là những từ
được dùng với ý nghĩa tương đương. Với cách hiểu này, các lời ca dao cổ
truyền là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi.
1.1.2. Các khái niệm Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, miền Bắc, miền
Trung, miền Nam
Dưới thời Minh Mệnh, nước ta được phân chia thành các tỉnh. Từ tháng
10 năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), trên toàn quốc, trừ Thừa Thiên phủ ra, có
30 tỉnh dưới đây:
A. Từ Thừa Thiên ra Bắc có 18 tỉnh là: (1) Chúng tôi trích và giữ đúng cách trình bày của tác giả Bùi Văn Tiếng.
11. An Giang
12. Hà Tiên
Tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), nhà vua lại ra chỉ dụ phân bố
toàn quốc thành bảng khu vực địa lý lớn hơn tỉnh:
1. Kinh sư (Phủ Thừa Thiên)
2. Tả trực (các trực tỉnh phía tả Kinh sư): Quảng Nam, Quảng Ngãi
3. Hữu trực (các tỉnh phía hữu Kinh sư): Quảng Trị, Quảng Bình
4. Tả Kỳ (các tỉnh phía Tả Kỳ): Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình
Thuận
5. Hữu Kỳ (các tỉnh thuộc Hữu Kỳ): Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá
6. Nam Kỳ: Gia Định, Định Tường, Biên Hoà, An Giang, Vĩnh Long,
20
Hà Tiên
7. Bắc Kỳ: Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hải Dương, Nam
Định, Quảng Yên, Thái Nguyên, Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Lạng
Sơn, Cao Bằng.
“Qua việc định khu vực địa lý trên đây, chúng ta thấy danh xưng “Nam
Kỳ lục tỉnh: từ lâu xuất hiện trong các thư tịch, cũng lâu rồi đi vào tâm thức
người Việt, bắt đầu được khai sinh dưới triều Minh Mệnh” [140, tr. 137].
Ngày 19 - 7 - 1883, vua Tự Đức chết. Ngày 20 - 8 - 1883, giặc Pháp
chiếm cửa biển Thuận An. Ngày 25 - 8 - 1883, triều đình nhà Nguyễn phải ký
tại Huế hiệp ước Hácmăng, gồm 27 khoản. Nội dung quy định triều đình Huế
thừa nhận Nam Kỳ là thuộc địa Pháp, còn lại đặt dưới chế độ “bảo hộ” của
Pháp. Đất nước ta bị chia cắt làm ba kỳ: từ Bình Thuận vào Nam gọi là
Côsanhsin (Cochinchine) tức Nam Kỳ, thuộc địa Pháp; từ Khánh Hoà tới Đèo
Ngang gọi là An Nam (Annam) tức Trung Kỳ, theo chế độ nửa bảo hộ; từ
Đèo Ngang ra Bắc gọi là Tôngcanh (Tonkin) tức Bắc Kỳ, theo chế độ bảo hộ
của Pháp. [147, tr. 71]
Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ là những tên gọi ra đời sau. Nhìn chung,
ranh giới giữa Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ tương đồng với ranh giới giữa Bắc
Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Dưới chế độ Sài Gòn, Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ
được gọi là Bắc phần, Trung phần, Nam phần. [119, tr. 1307].
Còn có các từ “miền Bắc”, “miền Trung”, “miền Nam” được dùng với
ý nghĩa tương đương với Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ.
(1)
1.1.3. Phân vùng văn học dân gian và phân vùng ca dao (1) Sau hiệp định Giơnevơ (1954), đất nước ta bị chia cắt làm hai miền, đến tháng 4 năm 1975 mới
thống nhất. Ranh giới hai miền là sông Bến Hải (Quảng Trị); hai từ “miền Bắc”, “miền Nam” này
không phải là các từ “miền Bắc”, “miền Trung”, “miền Nam” được nhắc đến trong luận án. Ngay
trong thời gian đất nước bị chia cắt như trên, người miền Bắc xã hội chủ nghĩa cũng vẫn dùng từ ba
miền: miền Bắc (mà Hà Nội là tiêu biểu), miền Trung (mà Huế là tiêu biểu), miền Nam (mà Sài
Gòn là tiêu biểu).
22
Nguyễn Trãi trong Dƣ địa chí, Dương Văn An trong Ô châu cận lục,
Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến
chƣơng loại chí, Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí, đều có
những nhận xét về tính cách con người, thổ sản ở một số vùng đất. Tuy nhiên
đây chưa phải là những công trình chuyên sâu về từng vùng văn hoá.
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, ở nước ta việc phân vùng và nghiên
cứu văn hoá vùng mới được quan tâm với nghĩa đây là những vấn đề khoa
học đòi hỏi phải trả lời bằng các nghiên cứu khoa học. Cho đến nay, chúng ta
đã có các kết quả phân vùng của Ngô Đức Thịnh, Đinh Gia Khánh và Cù Huy
Cận, Trần Quốc Vượng, Chu Xuân Diên, Hoàng Vinh. Cách phân vùng của
mặt đời sống của nhân dân.
Dựa trên các tiêu chí đã nêu, Hoàng Tiến Tựu phân chia các khu vực
văn học dân gian cơ bản của người Kinh thành ba miền:
A. Miền Bắc
Miền văn học dân gian phía Bắc của người Kinh từ huyện Tĩnh Gia,
Thanh Hoá trở ra. Toàn miền Bắc có thể chia ra ba khu vực chính.
24
Khu vực I: Là khu vực trung du Bắc Bộ bao gồm các làng ở vùng trung
du Bắc Bộ (Vĩnh Phú, một phần Hà Sơn Bình, Bắc Thái, Hà Bắc )
(1)
Khu vực II: Là khu vực sông Hồng (hay đồng bằng Bắc Bộ) thuộc các
tỉnh và vùng ngoại vi các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hải Hưng, Thái
Bình, Hà Nam Ninh, một phần các tỉnh Hà Sơn Bình, Hà Bắc.
(2)
Khu vực III: Là khu vực sông Mã gồm các làng người Kinh thuộc tỉnh
Thanh Hoá và Ninh Bình.
B. Miền Trung
Khu vực I: Là khu vực sông Lam (khu vực Nghệ Tĩnh từ khe Nước
Lạnh đến Bình Trị Thiên).
(3)
Khu vực II: Là khu vực sông Gianh - sông Hương hay khu vực Bình
Trị Thiên.
C. Miền Nam
Từ phía Nam đèo Hải Vân (Đà Nẵng) trở vào văn học dân gian được
chia làm ba khu vực: