So sánh đặc điểm kiến trúc và hệ thống bài trí tượng thờ trong các ngôi chùa truyền thống việt nam ở ba miền bắc – trung – nam (có bảng so sánh) - Pdf 45

Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm
Đề tài nghiên cứu: So sánh đặc điểm kiến trúc và hệ thống bài trí tượng
thờ trong các ngôi chùa truyền thống Việt Nam ở ba miền Bắc – Trung – Nam
(có bảng so sánh).
BỐ CỤC
1.1.
1.2.
1.3.

TỔNG QUAN VỀ CHÙA VIỆT NAM
GIỚI THIỆU CHUNG
SỰ PHÁT TRIỂN KIẾN TRÚC NGÔI CHÙA VIỆT QUA CÁC THỜI KỲ
KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM QUY HOẠCH, KIẾN TRÚC CỦA NGÔI

1.4.

CHÙA VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG
BẢNG SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC VÀ HỆ THỐNG BÀI TRÍ

1.

TƯỢNG THỜ TRONG CÁC NGÔI CHÙA TRUYỀN THỐNG VIỆT
2.
2.1.
2.2.
2.3.
3.
3.1.
3.2.
3.3.
4.

giống với mặt bằng kiến trúc chùa.
1


Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo. Tuy nhiên, chùa
Việt Nam ngoài thờ Phật còn thờ thần (chùa Thầy và chùa Láng ở Hà
Nội thờ Từ Đạo Hạnh và Lý Thần Tông), thờ tam giáo (Phật - Lão –
Khổng), thờ Trúc Lâm Tam Tổ (Yên Tử),…
Để chỉ chùa thờ Phật, trong tiếng Việt còn có từ “chiền”. Một số
người cho rằng từ “chiền” có thể có gốc từ từ "cetiya" của tiếng Pali
hay "caitya" trong tiếng Phạn, cả hai được dùng để chỉ điện thờ Phật.
Theo câu tục ngữ Việt Nam “Đất vua, chùa làng”, các ngôi chùa
đa số là thuộc về cộng đồng làng xã. Xây chùa bao giờ cũng là một
việc trọng đại đối với làng quê Việt Nam. Việc chọn đất xây chùa
thường chịu sự chi phối bởi quan niệm phong thủy. “Xây dựng chùa
phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt. Đất tốt là nơi bên trái trống không,
hoặc có sông ngòi, ao hồ ôm bọc. Núi hổ (hay tay hổ) ở bên phải phải
cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa sen, tràng phướn, long
báu, hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà, chầu bái. Đó là đất dương cơ
ái hổ (nền dương có tay hổ) vậy. Nước thì nên chảy quanh sang trái.
Nếu đảo kỵ, thì mạch nước lại vào phía trước. Trước mặt có minh
đường hay không có đều được cả. Phía sau không nên có núi áp kề,
thế là đất tốt…’
Chùa Việt Nam thường được xây dựng bằng các thứ vật liệu quen
thuộc như tre, tranh cho đến gỗ, gạch, ngói…Nhưng người ta thường
dành cho chùa những vật liệu tốt nhất có thể được. Vật liệu cũng như
tiền bạc dùng cho việc xây dựng chùa thường được quyên góp trong
mọi tầng lớp dân cư, gọi là của “công đức”. Người ta tin là sẽ được
hưởng phúc khi đem cúng vật liệu hay tiền bạc cho việc xây dựng
chùa. Trên những cột gỗ lim không bị mối mọt, một số chùa khắc rõ

Tuy nhiên có một số ngoại lệ, tiêu biểu là chùa Một Cột ở Hà Nội có
hình dáng một bông sen nở trên mặt nước, hay ngôi chùa mới được
xây cất như chùa Vĩnh Nghiêm có hai tầng ở TP.Hồ Chí Minh mang
trong mình cả nhũng nét truyền thống Phật giáo và cả những thành tựu
của kiến trúc. Nhưng những ngoại lệ như vậy không nhiều. Ngoài ra,
3


trong chùa còn có những ngôi nhà khác như nhà tổ, là nơi thờ các vị
sư từng trụ trì ở chùa nay đã tịch, hoặc nhà tăng, nơi ở của các nhà sư
và một số kiến trúc khác như gác chuông, tháp và tam quan. Kiến trúc
chùa Việt Nam được xây dựng và phát triển khá đa dạng qua các thời
kỳ lịch sử khác nhau, không gian khác nhau, và còn bị chi phối bởi
phong cách kiến trúc địa phương. Ở miền Nam, chùa kiểu chữ Tam
phổ biến hơn ở miền Bắc. Người Mường làm chùa bằng tre đơn giản,
chùa của người Khmer chịu ảnh hưởng của chùa Cămpuchia và Thái
Lan, chùa của người Hoa cũng có sắc thái kiển trúc riêng…
Tam quan là bộ phận không thể thiếu trong thành phần chùa Việt
Nam. Là cổng vào chùa, thường là một ngôi nhà với ba cửa vào. Có
nhiều chùa có hai tam quan, một tam quan nội và một tam quan ngoại.
Tầng trên của Tam quan có thể dùng làm gác chuông. Qua tam quan là
đến sân chùa. Sân của nhiều chùa thường được bày đặt các chậu cảnh ,
hòn non bộ với mục đích làm tăng thêm cảnh sắc thiên nhiên cho ngôi
chùa. Diện tích của sân phụ thuộc vào những điều kiện và đặc điểm
riêng của từng chùa. Trong sân chùa, đôi khi có những ngọn tháp được
xây dựng ở đây như chùa Dâu, chùa Thiên Mụ. Từ dưới sân chùa, lớp
kiến trúc đầu tiên của ngôi chùa là nhà bái đường (hay còn gọi tiền
đuờng, nhà thiêu hương). Để đi được đến đây thường phải đi lên một
số bậc thềm. Ở nhà bái đường có để đặt một số tượng, bia đá ghi sự
tích ngôi chùa, có thể đặt cả chuông, khánh nếu như ngoài cửa Tam

luật đó, nghệ thuật trang trí, tạo hình nâng cao, phong cách kiến trúc
từng thời kỳ có nhiều biến đổi, mỗi thời kỳ lại mang dáng dấp và thể
hiện một cách rõ ràng dấu ấn của xã hội đương thời.
Có hai loại kiến trúc Phật giáo quan trọng, đầu tiên là công trình
thờ cúng gồm tháp hoặc ngôi chùa, thứ đến là các công trình phụ trợ
phục vụ cho con người. Chùa từ xưa được định nghĩa là nơi thờ Phật,
nơi cầu kinh lễ Phật của tín đồ một làng hay một vùng nhưng nay thì
chức năng của chùa ngày càng phát triển với các nhu cầu khác nhau
của người tu hành và Phật tử cũng như của các địa phương.

5


-Từ đầu Công nguyên - thế kỷ IV : Giai đoạn đầu, Phật giáo chỉ
là những am miếu thờ Phật, tương đối gần gũi với những điện thờ tổ
tiên theo tín ngưỡng nguyên thuỷ mà người Việt rất mực coi trọng. Hệ
thống các ngôi chùa Tứ Pháp hiện nay là những ngôi chùa khởi thuỷ
cho việc Phật giáo từ ấn Ðộ, trực tiếp du nhập vào Việt Nam.
- Thế kỷ V - IX : Cho đến thế kỷ V - VI, thư tịch cho biết trên đất
Giao Châu có đến 20 chùa tháp. Ðến cuối thế kỷ VI, cho đến hết thời
kỳ Bắc thuộc, ngững ngôi chùa không để lại dấu vết gì ngoài ghi chép
vắn tắt của thư tịch.
- Thế kỷ X : Dưới những thời kỳ tự chủ của nhà Tiền Lý, nhà
Ngô, nhà Ðinh, Tiền Lê, tuy Phật giáo thịnh nhưng do thời gian tồn tại
của các triều đại không dài nên không dựng chùa xây tháp nhiều.
-Thời Lý : Dựa vào thực địa và thư tịch có thể chia chùa thời Lý
làm 4 loại khác nhau, loại thứ nhất là kiểu chùa dựng trên 1 cây cột
(chùa Một Cột). Chùa loại 2 là chùa có quy mô lớn kiêm hành cung để
vua nghỉ ngơi khi du ngoạn. Loại chùa thứ ba không có tháp, không có
hành cung nhưng cũng rất lớn, phát triển theo chiều sâu theo trục thần

dựng dưới sự chỉ đạo của hoàng cung. Thờ Phật được thờ trong một
điện thờ riêng, cây tháp không còn chức năng thờ Phật nữa mà trở lại
tính chất là mộ chí của các nhà tu hành đạo Phật. Và khác với thời Lý
ở một điểm nữa, tháp thời Trần được bố trí trước điện thờ Phật, với
chức năng là biểu tượng của nhà Phật. Thời Trần cũng như thời Lý,
chùa tháp thường được lựa chọn những địa thế trên đồi lớn, núi cao để
xây dựng. Vị trí những ngôi chùa xây dựng thời kỳ đó chẳng những xa
lánh cuộc sống trần tục mà còn gợi nên không khí trầm mặc, thanh
tịnh và u nhã phù hợp với sự thiêng liêng của Thần Phật mà nhu cầu
tôn giáo đòi hỏi. Nói chung, theo thư tịch cũ, phần lớn các ngôi chùa
Bắc Bộ được khởi dựng từ thời Lý, Trần. Sau đó được xây dựng lại,
mở rộng quy mô, trùng tu lớn thời Mạc, Hậu Lê.
Từ thời Trần, kiến trúc gỗ đã có những bằng chứng khảo cổ tồn
tại. Một số Phật điện và tháp thời Trần còn khá nguyên vẹn cho đến
7


thời nay. Nền điện thờ Phật cao và hình vuông (phát triển từ tháp thờ
Phật thời trước). Tháp không đóng vai trò trung tâm như thời Lý nữa
mà trở thành yếu tố phụ thêm. Ví dụ chùa tháp Phổ Minh (Nam Ðịnh),
tháp Bình Sơn chùa Then (Vĩnh Phúc), tháp Trần Nhân Tông chùa Hoa
Yên... thường được xây trước ngôi chùa. Ðến cuối Trần, chùa làng
phát triển mạnh. Chùa gồm điện thờ Phật, sư Tổ, các phòng tăng, các
tháp mộ ở hai bên và phía sau điện thờ.
Ðiện thờ Phật thời Trần thường là kiến trúc gỗ có nền là hình
vuông và thời Trần còn xuất hiện kiến trúc kiểu chuôi vồ. Kết cấu kiến
trúc hình vuông có 4 cột to ở giữa, tạo thành bộ vì theo kiểu giá
chiêng gồm 1 câu đầu tỳ lực lên hai đầu cột cái. Bên trên câu đầu là
hai trụ trốn thấp đỡ một rường bụng, hai trụ giá chiêng phía trên cùng
có thể ôm một ván bưng chạm trổ hình lá đề với những phù điêu rồng,

Phần lớn chùa ở Ðàng Ngoài được xây dựng thời gian này với quy
mô lớn dưới sự bảo trợ cùa chúa Trịnh hay các vương phi trong phủ
chúa. Kỹ thuật kiến trúc gỗ đã phát triển tạo nên các cụm nhà chữ
công, chữ khẩu, ngôi chùa nội công ngoại quốc là dạng chùa phổ biến
nhất. Kiến trúc chùa kiểu này có thể thấy ở những ngôi chùa thời đó
gồm chùa Bút Tháp, chùa Keo, chùa Mía... Nói chung, thời kỳ nay
kiến trúc chùa đã phát triển đến mức cao nhất với quy mô bề thế nhất
mà hiện còn đến ngày nay.
Trong khi đó, chùa Miền Trung bắt đầu được xây dựng dưới sự
ủng hộ của chúa Nguyễn như chùa Sùng Hoá ở Phú Vang, Bảo Châu ở
Trà Kiệu, Kính Thiên ở Quảng Bình... Chùa Thiên Mụ được chúa
Nguyễn Hoàng cho khởi dựng năm 1601 đến đời chúa Nguyễn Phúc
Chu mới hoàn thành (1691). Do ảnh hưởng quan niệm của Bà La Môn
giáo với đất vuông ở giữa, xung quanh là biển, 4 góc có 4 vị thiên
vương chống đỡ nên chùa thường bố trí theo dạng chữ khẩu gồm 4 toà
nhà bao quanh một sân ở giữa. Ví dụ như chùa Thập Tháp Bình Ðịnh

9


được lập bởi Thiền sư Nguyên Thiều ( người Trung Hoa) năm 1665
gồm 4 toà: chính điện, phương trượng, tây đường, đông đường.
- Thời Tây Sơn: Sang thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam
tiến sâu vào khủng hoảng trầm trọng. Cuối thế kỷ XVIII, Quang Trung
đã đập tan các tập đoàn phong kiến Nguyễn và Trịnh, Lê, tiêu diệt
Xiêm, Thanh, giữ vững nền độc lập của tổ quốc. Hai ngôi chùa theo
lối chữ tam tiêu biểu cho kiến trúc Phật giáo thời kỳ này được xây
dựng lại trên nền cũ, đó là chùa Kim Liên năm 1792, chùa Tây
Phương năm 1794 với đặc điểm nổi bật là sự dung hoà giữa hai tư
tưởng Phật và Nho. Khu tam bảo ba nếp chữ tam thông thoáng, đến

coi trọng. Thành phần kiến trúc trở nên thanh mảnh hơn, thân nhà
được nâng cao so với tầng mái. Trang trí thường thấy ở dạng bào trơn,
soi gờ chạy chỉ và chạm trổ ít với các đề tài chủ yếu là tứ linh, tứ
quý....
Song song với các dạng cung điện, lăng mộ, chùa miền Trung
nhất là Huế được xây dựng rầm rộ. Chùa Miền Nam bắt đầu được khởi
dựng nhiều trong thời kỳ vua Nguyễn và đến những năm gần đây liên
tiếp diễn ra những cuộc trùng tu lớn hoặc xây mới hoàn toàn.
- Thời kỳ 1945 - nay: Thời kỳ 1945-1975, chùa ngoài Bắc hầu
như không được xây dựng mà nhiều chùa còn sử dụng vào mục đích
khác như trường học, kho, uỷ ban... Trong khi đó, ở trong Nam hàng
loạt chùa mọc lên với kiến trúc nhiều tầng, diện tích chiếm đất nhỏ,
khác biệt với truyền thống từ trước đến nay.
Sau năm 1975, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đời sống
người dân vất vả, kiến trúc Phật giáo cũng bị lãng quên. Sau năm
1986, khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, công tác nghiên cứu
được thực hiện có hiệu quả. Kiến trúc Phật giáo trở thành các di sản
văn hoá của dân tộc, nhiều chùa được sửa sang, trùng tu và xây mới
trên khắp đất nước.
1.3.

KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM QUY HOẠCH, KIẾN TRÚC CỦA NGÔI
CHÙA VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG
11


Nhìn chung, chùa Việt Nam hầu như không còn ngôi chùa nào giữ được
dáng dấp từ buổi đầu xây dựng. Hầu hết đều bị biến đổi theo các đợt trùng tu.
Tuy nhiên, kiến trúc truyền thống Việt Nam dù thuộc thời kỳ nào hay vùng
miền nào cũng đều mang những đặc trưng như hoà hợp với môi trường, hoàn

trưng chính yếu của chùa Việt truyền thống, ngôi chùa thường yên ả, xinh đẹp
và hoà mình với thiên nhiên.
- Hướng công trình chính thường như sau:
+ Hướng Tây là hướng về đất Phật (Thiên Trúc) và hướng về nơi tịch diệt.
Là hướng ổn định nhất hợp với quy luật vận hành của âm dương. Ðây là hướng
chính của các ngôi chùa cổ ở Bắc Ninh như Dâu Keo, Mãn Xá, Phật Tích, Pháp
Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Ðiện. Chùa Hoè Nhai, chùa Chân Tiên ( Hà
Nội) là những ngôi chùa hướng chính Tây.
+ Ða phần các chùa được làm theo hướng Nam (hướng Ðông Nam đến
Tây Nam), vì đó là hướng mát mẻ về mùa hè, tránh rét về mùa đông. Còn theo
Phật giáo thì hướng Nam trong sáng, đồng nhất với trí tuệ, mà Phật giáo lấy trí
tuệ đó để diệt trừ " Vô minh". Còn theo văn hoá Trung Hoa thì hướng Nam là
hướng các vị Bồ tát, thần linh thường quay về để nghe rõ các nỗi đau khổ của
con người để mà cứu giúp. (Chùa Phước Tường ở thành phố Hồ Chí Minh).
Một số hướng khác như Tây Nam ( chùa Bà Tề - Hà Tây, chùa Nam Dư
Thương - Thanh Trì), hướng Ðông Nam như chùa Huỳnh Cung (Thanh Trì),
chùa Tình Quang (Gia Lâm).\
+ Một số chùa quay hướng Ðông (nhất là các chùa Tiểu thừa Khơme Nam
Bộ) vì cho rằng hướng này là hướng của thần tới. Ví dụ chùa quay hướng Ðông
có chùa Nguyên Xá (Từ Liêm). Ngoài ra hướng Bắc là hướng không tốt về mặt
khí hậu và theo Phật giáo, nó tượng trưng cho sự đen tối. Một số chùa quay
hướng Bắc do có thể chứa đựng một sự tích riêng.
1.3.2.

Bố cục khuôn viên và không gian các dạng chùa điển hình.
- Ðối với các dạng chùa xây dựng tại những khu vực tương đối bằng
phẳng, mặt bằng chùa thường dàn trải theo một trục dọc hoặc hướng vào một
tâm điểm. Nguyên tắc bố cục chung là cân bằng, quy củ hoặc tự do một cách có
hệ thống dễ tạo được sự trang nghiêm cho công trình. Trục thần đạo và tổ hợp
công trình đăng đối thể hiện được ba chiều cảnh quan, gợi nên sự cân bằng và

phương Ðông từ nội dung đến hình thức. Về không gian, kiến trúc chùa nói
chung đều gần gũi với người dân. Không gian kiến trúc các công trình trong
sáng đơn giản và phong phú đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của công năng sử
14


dụng mang tính chất công cộng. Không gian được tổ chức linh hoạt, cơ động,
thích ứng với tính chất sử dụng đa năng và kết hợp của nhiều loại hoạt động đa
dạng đòi hỏi sự tập trung người đông đảo.
1.3.3.

Kết cấu Phật điện
a. Kết cấu chịu lực:
Các thành phần trong kết cấu chịu lực chính là:
- Cột: Kết cấu cột gia công từ một cây gỗ nguyên, khác với công trình
Trung Quốc là ghép nối. Cột có dáng " Ðầu cán cân, chân quân cờ" trong các
kiến trúc cổ bằng gỗ cổ truyền. Tỷ lệ thức cột đã được các nhà nghiên cứu đi
trước cho rằng nếu cột được chia làm 10 phần thì đường kính cột nở ra ở 1/4
chiều cao cột tính từ dưới lên. Ðường kính trên đỉnh bằng 6/10, đường kính
dưới chân cột bằng 8/10 đường kính chỗ to nhất. Tuy nhiên thức cột này
thường gặp nhất trong cột đình, chùa thời Lê ở đồng bằng Bắc Bộ lúc đỉnh cao
về nghệ thuật gỗ phát triển.
- Bộ vì: Cấu trúc bộ vì truyền thống Việt Nam biến đổi theo thời gian và
không gian bao gồm vì nóc, vì nách. Vì nóc là khoảng liên kết giữa hai cột cái
và vì nách là liên kết giữa hai cột cái và quân.
- Xà: liên kết các cột theo chiều dọc để giằng cố định như xà thượng, xà
hạ.
- Bẩy, kẻ đỡ mái: Bẩy hoàn toàn nằm ngang: gặp ở chùa Tây Phương: cả
ba toà thượng, trung và hạ điện đều chồng diêm hai tầng. Sức nặng của kiến
trúc trong trường hợp này dồn từ mái xuống cột hiên mái trên sau đó tất cả lực

vẩy hến, ngói di, ngói liệt là dạng mái nhiều lớp, dưới cùng là lớp ngói lót, trên
là các lớp ngói chính được xen chồng lên nhau để che mưa nắng. Tường tại các
công trình hiện nay thường là tường gạch nung, gạch hỗn hợp vôi đất, đá ong.
Gạch bát được sử dụng để lát nền sân, hiên... Gạch trang trí phủ ngoài mặt
tường, tháp, gạch nung sành để làm tháp mộ, gạch xây cột vuông...
- Ðối với kết cấu bê tông bắt đầu thấy xuất hiện từ cuối Nguyễn thời kỳ
thuộc Pháp, điển hình là cụm di tích Hưng Ký và trang trí trên mặt đứng hay
trên kết cấu đều được làm bằng sứ, gỗ và ghép liền với mặt bê tông của kết cấu.
1.3.5. Kỹ thuật xây dựng.

16


- Ðộ bền vững là một đặc trưng chính của các công trình kiến trúc chùa
cổ. Bí quyết làm cho các kiến trúc gỗ bền vững, bên cạnh việc chọn vật liệu (gỗ
to, gỗ tốt, đá cứng hay gạch nung già) mà đó là cả sự tính toán hợp lý của người
xưa về cả hình học, vật lý, cả về mỹ thuật và kỹ thuật thi công xây dựng. Ðó là
giá trị về tính toán cho kiến trúc luôn nằm trong thế cân bằng và ổn định.
- Trong kiến trúc gỗ nước ta, nhân tố cơ bản chống đỡ kiến trúc là các bộ
vì. Bộ vì được hình thành bởi các cây cột, hệ thống liên kết cột và là sự kết hợp
hài hoà hai yếu tố là lòng nhà và độ chảy của mái nhà. Sau đó, người ta nối các
vì với nhau bằng hệ thống xà ăn mộng qua các cột. Lực ép và sức nặng của
toàn bộ mái nhà dồn xuống các đầu cột. Các câu đầu, xà nách, kẻ, bẩy, các đầu
dư, đầu nghé hợp lý cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ cân bằng và
gánh đỡ kiến trúc của bộ vì.
1.3.6. Màu sắc trong kiến trúc Phật Giáo
- Màu sắc của chùa có màu tự nhiên của vật liệu xây dựng, màu nâu đỏ
của mái ngói, màu nâu của kết cấu bộ vì, vách gỗ, màu xám nhạt của chân tảng,
của bậc thềm đá... Màu vôi trắng của tường đầu hồi hoặc màu tự nhiên của các
hàng gạch xây tường miết mạch không trát. Các hoạ tiết đôi lúc được trang trí

Là nguyên tắc quan trọng nhất trong bố cục tạo hình, nêu lên hai mặt đối
lập trong hình thức nghệ thuật. Tính thống nhất được thể hiện qua hệ thống kết
cấu, các bộ phận cột, xà, kẻ, bẩy, vì đều liên kết với nhau tạo thành một thể
hoàn chỉnh và cùng được chế tác từ vật liệu gỗ. Còn tính biến hoá được thể
hiện qua việc sử dụng vật liệu xây dựng trong một công trình phong phú, đa
dạng. Trong kiến trúc chùa truyền thống, ta có thể bắt gặp các biểu hiện cụ thể
của tính thống nhất và biến hoá trong một số điểm sau:
+ Tương phản và dị biến: có thể nhận thấy tương phản rõ rệt giữa cái đặc
với cái rỗng, sáng tối, kín hở, phương hướng, cái thanh thoát nhẹ nhàng với cái
nặng nề gây ấn tượng, về màu sắc chất liệu...
+ Vần luật và nhịp điệu: thể hiện qua nhiều hình thái khác nhau ví dụ như
nhịp điệu lặp lại của từng gian trong kết cấu hoặc ta có thể gặp những sự lặp lại
liên tục của một thành phần giống nhau (vần luật liên tục) trong trang trí hoa
văn. Vần luật và nhịp điệu thay đổi theo quy luật ta có thể gặp ở các dạng tháp
với các tầng nhỏ dần lên trên đỉnh.

18


+ Chủ yếu, thứ yếu và trọng điểm: Phần kiến trúc chính bao giờ cũng rộng
nhất và thường cao nhất với tập trung mọi tinh hoa kiến trúc và nghệ thuật của
đội thợ xây dựng công trình.
+ Liên hệ và phân cách: Sự liên hệ và phân cách thể hiện qua các bộ phận,
các thành phần kiến trúc khác nhau và rõ nhất là yếu tố hình khối thiên nhiên
và kiến trúc công trình tương đối độc lập nhưng nhờ không gian mở của hàng
hiên, của các dãy nhà hành lang, làm yếu tố chuyển tiếp đã khiến không gian
vườn như ăn sâu vào công trình.
b.

Cân bằng và ổn định:

quan. Trong kiến trúc truyền thống không có các công trình kiến trúc đồ sộ.
Các công trình có kích thước tương đối lớn cũng gắn bó hoà hợp với thiên
nhiên và con người, không có tác động thống trị và áp đặt lên thiên nhiên và
con người.
- Tỷ lệ về tương quan giữa độ dài, độ rộng và độ cao của bản thân cấu
kiện, một bộ phận hoặc tổng thể kiến trúc:
Tương quan tỷ lệ giữa các thành phần kiến trúc trong cùng một công trình
không quy chuẩn thật chặt chẽ bằng thước tầm do đó không có một mẫu mực
thống nhất. Từng địa phương, từng hiệp thợ mang đến những nét khác nhau và
riêng biệt cho từng ngôi chùa.
Về mặt bằng, hầu hết các ngôi nhà đều tổ hợp từ hình chữ nhật với các
gian lẻ. Các tỷ lệ giữa thành phần kết cấu nhà với nhau bao giờ cũng có một sự
tương quan kích thước nhất định mang đến sự hài hoà. Về không gian mà chủ
yếu được quyết định bởi các bộ vì. Bộ vì được hình thành bởi 6 cây cột (2 cột
cái, 2 cột quân và 2 cột hiên) hoặc 4 cây cột ( 2 cột cái và 2 cột quân). Vì kèo
có tỷ lệ đứng / ngang = 2/3 tạo thành độ dốc i = 66,6 %.
- Tương quan tỷ lệ giữa bộ phận và tổng thể, giữa bộ phận này với bộ
phận khác, giữa các công trình với nhau. Tỷ lệ giữa các bộ phận công trình hài
hoà, thống nhất. Thông thường, trong kiến trúc chùa Việt Nam, khu tam bảo
bao giờ cũng lớn nhất và cao nhất để nhấn mạnh tính trọng tâm và thứ yếu của
bố cục.
- Tương quan giữa kích thước cấu kiện, bộ phận và công trình kiến trúc
với con người và thiên nhiên Việt Nam. Yêu cầu về nhân chủng học và nhu cầu
hoạt động của con người kết hợp với đặc tính của gỗ, quy mô không gian do

20


kết cấu gỗ tạo nên... đã đạt được tính tỷ lệ về con người và kiến trúc. Tỷ lệ
không gian gần gũi và gắn bó với hoạt động của con người.

Hoa vốn có từ thời kỳ mỹ thuật trước đó. Thời Nguyễn, nghệ thuật dân gian bị
hạn chế, các mô típ chủ yếu được sử dụng là bộ " Tứ linh" và " tứ quý" tạo
thành một khuôn mẫu không thay đổi. Thời kỳ này song song với việc chạm
khắc vẫn trên các kết cấu gỗ thô mộc thì xuất hiện một số công trình sơn son
thếp vàng, vẽ lên trên cấu kiện gỗ (mang ảnh hưởng của Trung Hoa).
1.4.

BẢNG SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC VÀ HỆ THỐNG BÀI TRÍ
TƯỢNG THỜ TRONG CÁC NGÔI CHÙA TRUYỀN THỐNG VIỆT
NAM Ở BA MIỀN BẮC – TRUNG – NAM.
NỘI
NGÔI
DUNG SO
CHÙA MIỀN
SÁNH
BẮC
Quá
Phật
giáo
trình ra đời truyền vào Việt
và phát triển Nam khoảng thế
của Phật giáo kỷ I sau Công
nguyên
bằng
đường biển nối
Giao Châu với
Thiên Trúc do các
vị sư ấn Ðộ truyền
vào. Phật giáo
Trung Hoa và

xây lại như chùa
Thiên Mụ (1601),
chùa Sùng Hoá
(1602), chùa Thuận
An (1688)...
Trong khoảng thời
kỳ này, hình thức
thảo am ( tiền đề
cho những ngôi
22

NGÔI CHÙA
MIỀN NAM
Phật giáo thâm
nhập vào bằng 3
hướng chính:
- Hướng từ miền
Thuận Quảng, những
nhà sư người Việt,
người Hoa theo cả
đường thuỷ và đường
bộ vào Sài Gòn.
- Hướng từ
Trung Quốc, những
nhà sư theo đường
biển từ Trung Quốc
vào Sài Gòn.
- Hướng từ
Campuchia,
những

Nam Bộ quay về
hướng Nam.
Kiến trúc chùa cổ
thường gặp với nhiều
toà nhà song song nối
lại với nhau và phát
triển theo chiều sâu.
Dạng vì kèo nhà xiên
trính (theo cách gọi
Nam Bộ) 1 gian 2
chái ở dạng chữ nhất ,
hoặc nhà xếp đọi
(theo cách gọi nhà
nông thôn Nam Bộ).
Dạng chữ nhị có sân
thiên tỉnh ở giữa,
hoặc dạng nhà chữ
tam và có sân thiên
tỉnh).
Chùa luôn có sân
thiên tỉnh và không
gian chuyển tiếp với
bên ngoài là hành
lang bao quanh các
mặt chùa tạo điều
kiện cho ánh sáng đi
gián tiếp vào sâu bên
trong công trình. Ðôi
khi mặt bằng chùa
cũng có dạng chữ

xác định dựa trên
số hàng cột trong
một gian vì kèo.
Hệ khung gỗ dễ
tháo
lắp,
vận
chuyển, vững chãi
nhờ các mối liên
kết bằng mộng., kẻ
truyền, kẻ hiên...

Kết cấu gỗ ở
miền Trung thể hiện
qua những bộ vì cao
thoáng, kết cấu theo
lối biến thể của vì
kèo chồng rường.
Hệ con sơn nằm
ngang kiểu đấu
củng Trung Quốc
đã được cải biên ra
đời thay cho hệ
thống bẩy phát triển
ngoài miền Bắc.
Thường gặp nhất là
chùa một gian hai
chái, kiểu tứ vị tam
gian, cột kèo xuyên
trếnh (chùa Ðông

kẻ chuyền, bẩy
góc, do đó không
xoè rộng như mái
các nước làm theo
phương
pháp
"chồng đấu tiếp
dui".

24

Bồ Tát ngoài sân
dạng đài hoặc có mái
che và thường được
đặt trước chánh điện..
Những
ngôi
chùa này đẹp ở kết
cấu gỗ, về sự lắp
ghép cột, xà, kèo,
kẻ... Kết cấu tứ trụ ở
giữa, qua hệ thống xà
lòng tạo cho các mặt
phẳng kiến trúc đạt
ổn định về cả 4 phía,
tạo thành bộ khung tứ
tượng trên mái phản
ánh vũ trụ quan và
nhân sinh quan Ðông
Dương. Kèo xuyên

màu nâu đỏ, ngói
liệt.
Một số chùa có mái
kiểu "bánh ít" với
kết cấu xuyên trếnh
với 4 mái như chùa
Ðông
Thuyền,
Quảng Tế, Thiên
Hưng (Huế), Thập
Tháp di đà (Bình
Ðịnh…

25

tốt hơn và phù hợp
với khí hậu hai mùa
mưa nắng của Nam
Bộ..



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status