Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
-------------
ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀO VIỆC
NGHIÊN CỨU KIỂU NHÂN VẬT TRÀO PHÚNG TRONG
TRUYỆN NGẮN VŨ TRỌNG PHỤNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Diệp Quang Ban
HẢI PHÒNG, NĂM 2017
Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
1
LỜI CAM ĐOAN
Các thầy, cô giảng dạy chuyên ngành Ngôn ngữ học Việt Nam khóa K6
tại trường Đại học Hải Phòng, những người đã dành tâm sức tận tình hướng dẫn
tôi.
Cuối cùng, tôi xin kính chúc sức khỏe tới quí thầy cô, gia đình và
các anh chị học viên.
Hải Phòng, ngày 29 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
3
A. MỞ ĐẦU
1.
Lí do chọn đề tài
1.1 KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀO LĨNH VỰC
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
Từ sau những năm 60 của thế kỉ XX, phân tích diễn ngôn ra đời và trở
thành một bộ phận của ngôn ngữ học ứng dụng. Sự chuyển đổi từ ngữ pháp văn
bản sang phân tích diễn ngôn không chỉ là sự thay thế hệ phương pháp luận từ
nghiên cứu sang phân tích mà còn là sự thay đổi trong nhận thức: cần thiết phải
tiếp cận và lí giải các đơn vị ngôn ngữ bậc trên câu trong hoạt động hành chức
của chúng.
Ngay từ khi mới ra đời, phân tích diễn ngôn đã chứng tỏ sức hấp dẫn của
mình khi trở thành trào lưu khoa học phát triển rầm rộ ở châu Âu. Cho đến tận
ngày nay, phân tích diễn ngôn vẫn thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà
nghiên cứu. Sức hút này xuất phát từ việc phân tích diễn ngôn giúp con người
hội thực dân phong kiến đảo điên, đen tối.
Trước hết, truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng đã phản ánh một cách mạnh
mẽ sâu sắc thế lực vạn năng của đồng tiền. Trong Bộ răng vàng, tác giả miêu tả
khách quan nhưng đượm chất trào phúng, vạch trần cái tâm địa khốn nạn, bất
hiếu của hai thằng con đối với bố. Đồng thời phanh phui bộ mặt đểu cáng, ty
tiện của hai anh em một nhà với nhau. Đọc Vũ Trọng Phụng, ta thấy thế lực
đồng tiền luôn xuất hiện, cái uy lực của đồng tiền đã làm đảo lộn mọi giá trị vật
chất.
Một chủ đề khác cũng rất đậm nét trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng là
sự giễu cợt, mỉa mai với lối sống lãng mạn rởm đời của không ít kẻ tiểu tư sản
bấy giờ. Họ là con đẻ của phong trào Âu hóa vật chất giai đoạn giao thời. Đặc
sắc nhất là chuyện Hồ sê líu, hồ sê sàng. Với ngòi bút trào phúng tài tình, tác
giả vẽ lên sinh động tức cười cảnh một gia đình họa sĩ thành thị. Họa sĩ Khôi
Kỳ suốt ngày cặm cụi làm việc kiệt sức để cho vợ và hai cô con gái có tiền tiêu
5
xài. Họ giỏi moi tiền ông ta, nhưng chẳng bao giờ biết yêu thương chia sẻ với
chồng, với cha những sự nhọc nhằn, khổ cực…
Nhìn chung, truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng gọn gàng súc tích nhưng
đậm chất trào phúng, phản ánh rõ nét bức tranh xã hôi hiện thực đương thời
thông qua những nhân vật trào phúng, chủ yếu là giai cấp tiểu tư sản thành thị.
Qua mảng truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng, người đọc có thể thấy được đầy đủ
nét sáng lấp lánh của chân dung một nhà văn tài năng, độc đáo của trào lưu văn
học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
1.3. NHÂN VẬT TRÀO PHÚNG TRONG TRUYỆN NGẮN VŨ TRỌNG
PHỤNG LÀ MỘT KIỂU NHÂN VẬT ĐỘC ĐÁO, PHẢN ÁNH MẶT TRÁI CỦA XÃ
HỘI ĐƯƠNG THỜI
diễn ngôn vào việc khám phá thêm một số khía cạnh về tài năng của cây bút
hiện thực phê phán xuất sắc Vũ Trọng Phụng, giúp hiểu sâu hơn diện mạo xã
hội Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kí XX.
2. Lịch sử vấn đề
Thuật ngữ phân tích diễn ngôn đã xuất hiện từ năm 1952, do Z. Harris
đưa ra. Tuy nhiên, F. Mitchell (1957) mới là người đặt nền móng cho phân tích
diễn ngôn. Đến phần mình, T. van Dijk (1972) đã kế thừa và triển khai phân
tích diễn ngôn cùng tên gọi của nó đến toàn thế giới. Đến nay, phân tích diễn
ngôn đã đi được một chặng đường khá dài, tới hơn nửa thế kỉ. Vẫn còn có
những quan điểm và xu hướng khác nhau, nhưng phân tích diễn ngôn vẫn đã và
đang ngày một phát triển mạnh mẽ, được ứng dụng nhiều vào nghiên cứu ngôn
ngữ trên nhiều lĩnh vực sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là trong nghiên cứu văn
học. Có thể khái quát quá trình hình thành và phát triển của phân tích diễn ngôn
thành hai giai đoạn như sau:
Giai đoạn đầu: là giai đoạn của “các ngữ pháp văn bản” (theo cách gọi
của Robert de Beaugrande) kéo dài từ giữa thập niên 60 tới thập niên 70 của thế
kỉ XX. Tiêu biểu nhất cho giai đoạn này là các công trình bàn về Liên kết của
K.Halliday và Hasan (1976). Các công trình này đến nay vẫn còn giá trị.
7
Giai đoạn thứ hai: là giai đoạn thoát khỏi “ngữ pháp văn bản” (khoảng
năm 1979 trở đi). Cùng với sự quan tâm ngày càng lớn tới vấn đề mạch lạc và
cấu trúc văn bản, ngôn ngữ học văn bản lại tiếp tục trải qua một quá trình khó
khăn để thống nhất tên gọi. Cuối cùng, tên gọi được nhiều nhà nghiên cứu dùng
cho đường hướng mới là Phân tích diễn ngôn.
Tuy nhiên, cần thấy rằng, giai đoạn thứ hai không phải mới bắt đầu khi
giai đoạn thứ nhất kết thúc, mà nó đã được triển khai trong lòng giai đoạn trước.
Theo đó, các hiện tượng được xem là đối tượng nghiên cứu có thể nằm trong
- Đỗ Thu Phương với Ứng dụng phân tích diễn ngôn vào việc nghiên cứu
nhân vật Tú Bà và Mã Giám Sinh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Luận văn
thạc sĩ Ngôn ngữ (2015), Đại học Sư phạm Hà Nội đã dùng phân tích diễn ngôn
để tìm hiểu hình tượng nhân vật phản diện Tú Bà và Mã Giám Sinh trong
Truyện Kiều
- Lê Thị Thùy Dương với Ứng dụng phân tích diễn ngôn vào việc nghiên
cứu nhân vật Thúc Sinh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Luận văn thạc sĩ
Ngôn ngữ (2015), Đại học Sư phạm Hà Nội đã vận dụng phân tích diễn ngôn
vào tìm hiểu nhân vật Thúc Sinh và thực tế xã hội thời đại nhân vật sống.
Các công trình này đều được định hướng vững chắc từ Diệp Quang Ban.
Từ góc độ nghiên cứu văn học, các nhân vật trào phúng trong truyện
ngắn Vũ Trọng Phụng cũng đã được nghiên cứu khá nhiều. Chẳng hạn, các bài
viết của nhiều tác giả được tổng hợp trong cuốn Vũ Trọng Phụng về tác gia và
tác phẩm, Nxb Giáo dục (2003) đã tìm hiểu đầy đủ về các hình tượng nhân vật
từ tiểu thuyết tới truyện ngắn Vũ Trọng Phụng dưới nhiều phương pháp nghiên
cứu văn học khác nhau, từ lịch sử văn học, lí luận văn học tới phê bình văn học.
Hay Vũ Hoành Khung với phần viết về Vũ Trọng Phụng trong cuốn Văn học
Việt Nam 1900 – 1945, Nxb Giáo dục đã chỉ ra kiểu nhân vật điển hình trong
hoàn cảnh điển hình mà tác giả xây dựng.
9
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa từng có công trình nào nghiên cứu về văn
chương của Vũ Trọng Phụng nói chung và hình tượng nhân vật trào phúng
trong các truyện ngắn nói riêng từ giác độ phân tích diễn ngôn. Trên cơ sở này,
chúng tôi thực hiện đề tài Ứng dụng phân tích diễn ngôn vào việc nghiên cứu
kiểu nhân vật trào phúng trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng.
3.
Mạnh chủ biên sưu tầm.
10
Đối tượng nghiên cứu là các nhân vật trào phúng trong ba truyện ngắn Bộ
răng vàng, Hồ sê líu, hồ sê sàng và Người có quyền của Vũ Trọng Phụng.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích diễn ngôn (đã trình bày trong chương 1: Cơ sở
của phân tích diễn ngôn)
- Phương pháp nghiên cứu:
Miêu tả chung về nhân vật.
Tìm hiểu nhân vật trong phạm vi truyện kể trong quan hệ với các nhân
vật khác và sự việc liên quan.
Nhận xét khái quát về nhân vật trong cách xử lí của nhà văn.
- Các thủ pháp nghiên cứu khoa học nói chung: thống kê, phân loại, tổng
hợp…
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần chính văn gồm
ba chương:
Chương 1: Cơ sở của phân tích diễn ngôn
Chương 2: Tìm hiểu nhân vật trào phúng được khảo sát từ phương pháp
phân tích diễn ngôn
Chương 3: Giải thích mối quan hệ của thực tế văn hóa – xã hội đối với
các nhân vật trào phúng trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng
11
B. NỘI DUNG
12
bên ngoài ngữ cảnh và diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là
trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” [7, tr.199]. Theo đó, cùng một sự
kiện nói (bằng chữ viết hoặc phát âm), nếu chỉ xét ở mặt từ ngữ trong nội tại thì
là phân tích nó như một văn bản, còn xét trong quan hệ với ngữ cảnh lại là phân
tích nó với tư cách diễn ngôn. Từ định nghĩa này, chúng tôi hiểu, để coi một sản
phẩm ngôn ngữ là diễn ngôn hay văn bản phụ thuộc vào cách đánh giá, hệ quy
chiếu của người nghiên cứu. Nếu tách khỏi ngữ cảnh thì nó là văn bản, còn nhìn
nhận dưới quan hệ không tách rời ngữ cảnh thì là diễn ngôn. Quan điểm này
được sử dụng nhiều trong phân tích diễn ngôn ngày nay, kể cả phân tích diễn
ngôn phê bình.
Nói cách khác, trong một tài liệu ngôn ngữ, các từ ngữ dù bằng âm thanh
hay bằng chữ viết, được coi như bề mặt từ ngữ của tài liệu ngôn ngữ đó, nếu
không xét đến mối quan hệ với các tình huống bên ngoài thì chính là văn bản.
Còn những hiện tượng thuộc về nghĩa – logic (xét trong quan hệ với tình huống
bên ngoài – ngữ cảnh) và chức năng (ý định hay mục đích của người phát) có
quan hệ đến tài liệu đó thì thuộc về diễn ngôn. Cùng với cách nhìn nhận đó,
việc phân tích bề mặt từ ngữ với các ý nghĩa vốn có sẵn trong bề mặt ấy, kể cả
ngữ cảnh bằng từ ngữ của các phương tiện ngôn ngữ có trong diễn ngôn được
gọi là phân tích văn bản. Ngược lại, nếu giải thích các từ ngữ bằng mối quan hệ
giữa chúng với tình huống xã hội bên ngoài văn bản, việc tìm hiểu ý định của
người phát thuộc về diễn ngôn và được thực hiện như một phần trong phân tích
diễn ngôn.
Cũng theo G. Cook, diễn ngôn và văn bản được phân biệt bởi sự đối lập
giữa chức năng và hình thức. Trong đó, văn bản thể hiện mặt hình thức, còn
diễn ngôn thể hiện tính chức năng của ngôn ngữ.
Brown & Yule (1983) đã đánh giá rất sâu sắc, phù hợp với đặc trưng
phân tích diễn ngôn phê bình khi quan niệm: văn bản là sản phẩm (tĩnh) - diễn
14
- Giai đoạn thứ ba: diễn ngôn được dùng và hiểu như văn bản ở giai đoạn
đầu, tức là chỉ chung cả sự kiện nói bằng miệng (ngữ âm) lẫn sự kiện nói bằng
chữ viết có liên kết, mạch lạc.
Có thể thấy, trải qua ba giai đoạn khác nhau trong tiến trình ngôn ngữ
học, việc phân biệt giữa văn bản và diễn ngôn đã dần trở nên rõ ràng. Tuy
nhiên, tại Việt Nam hiện nay, thuật ngữ diễn ngôn và cách hiểu về nó vẫn chưa
phổ biến như văn bản. Để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi dựa
theo hệ thống lý thuyết của Diệp Quang Ban khi tác giả đưa ra 4 đặc trưng của
diễn ngôn/văn bản về mặt thực tế như sau:
- Thứ nhất - về mặt mục đích sử dụng: mục đích này có quan hệ với đề
tài – chủ đề, lĩnh vực xã hội của việc sử dụng văn bản, phương tiện truyền tải
văn bản (nói hay viết) và nó chi phối cách cấu tạo văn bản. Hệ quả là nó được
phản ánh trong cấu trúc của văn bản.
- Thứ hai - về mặt yếu tố nội dung: diễn ngôn luôn có đề tài (hoặc chủ
đề) thống nhất và thường có thể xác định được. Yếu tố này giúp phân biệt văn
bản với chuỗi câu nối tiếp tình cờ đứng ra cạnh nhau, tạo ra chuỗi bất thường về
nghĩa, hoặc cái gọi là phi văn bản.
- Thứ ba - về mặt cấu trúc diễn ngôn: cấu trúc là sự tổ chức các yếu tố nội
dung theo các cách thức hoặc trật tự nhất định phù hợp với các quy định của
phong cách chức năng hoặc với các thể loại văn chương – nghệ thuật. Cấu trúc
có vai trò lớn trong việc tạo nên mạch lạc.
- Thứ tư - về mặt yếu tố mạch lạc và liên kết: mạch lạc là vấn đề cốt yếu
của phân tích diễn ngôn, là yếu tố quyết định việc tạo thành một diễn ngôn hay
văn bản. Trong đó, nói rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài (chủ đề) của
văn bản. Liên kết chỉ là một trong những phương thức tạo mạch lạc hoặc hiện
thực hóa mạch lạc. Mạch lạc có thể không cần dùng đến phương tiện liên kết,
16
chương tạo nên một kiểu loại ngôn ngữ chứ không phải một phong cách” [40,
tr.68].
Halliday khi phân loại diễn ngôn theo trường diễn ngôn, không khí chung
của diễn ngôn, cách thức diễn ngôn đã quan niệm rằng, tác phẩm văn chương
cũng là một thứ diễn ngôn bên cạnh các diễn ngôn khác. Khi bàn về ngôn vực,
ông cũng nhận thấy, ngôn vực văn chương gồm các kiểu ngôn vực như văn
xuôi, thơ, văn học dân gian và các thể loại cụ thể như: truyện ngắn, tiểu thuyết
văn học, tiểu thuyết lịch sử, thơ ca, kịch…
Diễn ngôn văn chương cũng mang những đặc trưng, tính chất của diễn
ngôn nói chung, nhưng ngoài ra còn có một số nét riêng khác như: tính hình
tượng, tính cá thể hóa, tính biểu cảm… Về cấu trúc của tác phẩm văn học, khác
với các kiểu loại diễn ngôn khác, theo Trần Đình Sử, diễn ngôn văn chương bao
giờ cũng có 3 tầng: tầng ngôn từ, tầng ý nghĩa và tầng hình tượng.
Khác với các ngôn vực khác, diễn ngôn văn chương coi trọng tính nghệ
thuật của ngôn ngữ hơn việc sử dụng ngôn ngữ thông thường. Các yếu tố nghệ
thuật được thể hiện trước hết qua việc sử dụng ngôn ngữ, từ sắc độ của âm
thanh ngôn ngữ đến từ ngữ, hay việc dùng các kiểu câu, cấu tạo lớn hơn câu…
Văn bản văn chương nghệ thuật có cấu tạo riêng và ở thể loại khác nhau
thì có cấu tạo văn bản khác nhau. Chẳng hạn, cấu tạo của thơ khác với văn xuôi,
tiểu thuyết khác với truyện ngắn, thơ lục bát khác với thơ tự do…
Một trong những lưu ý quan trọng khi coi tác phẩm văn học như một diễn
ngôn là phải đặt nó vào mô hình giao tiếp, coi hoạt động văn học như một hoạt
động giao tiếp giữa nhà văn và bạn đọc, với thông điệp chính là tác phẩm văn
học, chịu sự bao trùm và chi phối của ngữ cảnh (rộng và hẹp). Người đọc tiếp
nhận tác phẩm và có quyền suy diễn, luận giải và đồng sáng tạo với tác giả.
Tóm lại, diễn ngôn là một thể ngôn ngữ vận động được tạo ra trong quá
trình giao tiếp giữa người phát và người nhận, dưới sự bao trùm và chi phối của
Yule (1983), nó đã được thừa nhận một cách rộng rãi như tên gọi chính thức
tiếp theo giai đoạn “ngữ pháp văn bản”. Tuy nhiên, cách hiểu về phân tích diễn
ngôn vẫn chưa thực sự thống nhất, có nhiều quan điểm khác nhau như:
M. Stubs (1983) cho rằng phân tích diễn ngôn thực sự là một môn học
riêng trong ngôn ngữ học: “Thuật ngữ phân tích diễn ngôn rất mơ hồ. Tôi sẽ sử
dụng nó trong sách này chủ yếu để chỉ sự phân tích ngôn ngữ học đối với diễn
ngôn nói hoặc viết có nối kết, xuất hiện tự nhiên” (Dẫn theo Diệp Quang Ban
[7, tr.160]). Theo ông, phân tích diễn ngôn bao quát được những vấn đề chung
cho cả ngôn ngữ quy thức lẫn ngôn ngữ không quy thức, cả ngôn ngữ viết lẫn
ngôn ngữ nói.
D. Schiffrin (1994) cũng quan niệm: “phân tích diễn ngôn vẫn còn là một
tiểu lĩnh vực rộng mênh mông và ít nhiều còn mơ hồ của ngôn ngữ học” [40,
tr.17].
Có thể thấy, các định nghĩa về phân tích diễn ngôn vẫn còn khá mơ hồ.
Tuy nhiên, có thể hiểu ngắn gọn theo đánh giá của Brown & Yule: “phân tích
diễn ngôn một mặt bao gồm việc nghiên cứu các hình thức ngôn ngữ, tần suất
xuất hiện của chúng; mặt khác tính đến nguyên lí nhận thức nói chung mà nhờ
đó người ta hiểu được điều người ta đọc và nghe” [9, tr.11], và “phân tích diễn
18
ngôn nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức. Như vậy, không thể giới
hạn nó trong việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ tách biệt với các mục đích
hay chức năng mà các hình thức này được sinh ra để đảm nhận trong xã hội
loài người” [39, tr.97]. Nói cách khác, “nhà phân tích diễn ngôn xử lí dữ liệu
của anh ta như là dữ kiện (văn bản) của một quá trình động. Trong đó, ngôn
ngữ được sử dụng như một công cụ giao tiếp trong ngữ cảnh mà qua đó, người
nói/người viết thể hiện nghĩa đạt được ý định (diễn ngôn). Từ dữ kiện này, nhà
phân tích diễn ngôn mô tả các quy tắc trong ngôn ngữ được mọi người sử dụng
theo mô hình giao tiếp. Nói cách khác, chặng đường đầu tiên của phân tích diễn
ngôn là phân tích văn bản. Sau khi phân tích văn bản phải phân tích tiếp ngữ
cảnh, mục đích giao tiếp, hành động ngôn ngữ…
Để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi xin đi theo quan điểm
và định nghĩa về phân tích diễn ngôn của Diệp Quang Ban:
“Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói hoặc
viết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm
các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong
khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm
các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân,
cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa dân tộc)” [7, tr.158].
Với định nghĩa này, tác giả đã chỉ ra ba nhân tố quan trọng trong phân
tích diễn ngôn:
1. Đối tượng khảo sát của phân tích diễn ngôn: là các tài liệu ngôn ngữ
nói và viết bậc trên câu.
2. Đối tượng nghiên cứu của phân tích diễn ngôn: là tính đa diện hiện
thực của tài liệu ngôn ngữ đó, gồm:
- Mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, được hiểu qua hai bình diện:
20
Ý nghĩa của các từ ngữ trong văn bản/diễn ngôn xét trong quan hệ giữa
chúng với nhau (ngữ cảnh văn bản – đồng văn bản) và ngữ cảnh bên ngoài (ngữ
cảnh tình huống, ngữ cảnh văn hóa).
Các hiện tượng thuộc liên kết và mạch lạc.
- Các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực. Trong đó, ngôn
vực được hiểu rộng hơn phong cách học; nó được thể hiện trong tất cả các dấu
vết của âm thanh, từ ngữ, chữ viết, những dấu vết có khả năng mang nghĩa hoặc
một giá trị nào đó có thể biện luận được, được gọi chung là các “dấu nghĩa tiềm
Đường hướng phân tích diễn ngôn này có đối tượng khá rộng. Đối tượng
của nó là ý nghĩa, ngữ cảnh và giao tiếp. Có hai xu hướng chính của đường
hướng này là lí thuyết hành động ngôn ngữ của Austin (1962) & Searle (1969)
và dụng học theo nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice (1967).
Về lí thuyết hành động ngôn ngữ, có thể tóm lược đơn giản như sau:
Hành động ngôn ngữ là hành động thực hiện khi tạo ra một phát ngôn
(diễn ngôn) trong một cuộc giao tiếp. Hành động ngôn ngữ đòi hỏi phải đó điều
kiện, thao tác, cách thức tổ chức thao tác và quan trọng nhất là đích như mọi
hành động khác của con người có ý thức. Trong một cuộc giao tiếp, hành động
ngôn ngữ gồm 3 loại:
- Hành động tạo lời: là hành động vận động các cơ quan phát âm (hoặc
cử động tay để tạo ra các nét chữ), vận dụng các từ và kết hợp từ theo các quan
hệ cú pháp thích hợp thành các câu, rồi tổ chức các câu thành diễn ngôn (văn
bản). Nhờ hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức có nghĩa.
- Hành động ở lời: là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo
nên phát ngôn được nói ra, viết ra. Chính cái đích này phân biệt các hành động
ở lời với nhau.
22
- Hành động mượn lời: là hành động nhằm gây ra những biến đổi trong
nhận thức, trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được, gây ra một
tác động nào đấy đối với ngữ cảnh.
Trong hành động ngôn ngữ thường có hành động trực tiếp và hành động
gián tiếp.
Nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice được trình bày như sau:
1. Phương châm về lượng:
Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi của
đích cuộc hội thoại.
trúc của các cuộc hội thoại, tức là phân tích cách tổ chức hội thoại với đối tượng
là các phát ngôn cụ thể trong giao tiếp.
1.2.1.5. Đường hướng dân tộc học giao tiếp (Ethnography of
Communication – EC)
Mục tiêu chính của đường hướng này là nghiên cứu năng lực giao tiếp
(kiến thức về xã hội, tâm lí, văn hóa, lịch sử và ngôn ngữ) thể hiện qua mô hình
giao tiếp hay cấu trúc giao tiếp.
1.2.1.6. Phân tích diễn ngôn trong tâm lí học xã hội (Discourse
Analysis in Social Psychology – DASP)
Đây là đường hướng phát sinh từ lĩnh vực tâm lí học xã hội, nhằm ứng
dụng những ý tưởng của phân tích diễn ngôn trong nghiên cứu tâm lí xã hội, tìm
hiểu xem ngôn ngữ đã được sử dụng như thế nào để thực hiện những ý định của
người giao tiếp trong lĩnh vực tâm lí, xã hội.
1.2.1.7. Phân tích diễn ngôn phê bình (Critical Discourse
Analysis – CDA)
Đường hướng này sẽ được chúng tôi trình bày trong 1.2.2. Sơ lược về
phân tích diễn ngôn phê bình (Critical Discourse Analysis).
1.2.1.8. Đường hướng giao tiếp liên văn hóa (Inter Cultural
Communication – IC)
24
Nhiệm vụ của đường hướng này là nghiên cứu tác động của văn hóa đối
với giao tiếp liên văn hóa. Đối tượng là có đối tượng là diễn ngôn của những
con người đến từ các nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau.
1.2.1.9. Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp (Integrated)
Đường hướng này được đề xuất bởi Nguyễn Hòa trong cuốn Phân tích
diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp (Nxb Đại học Quốc Gia Hà
Nội, 2008). Nó phân tích toàn bộ một chỉnh thể diễn ngôn dựa trên mạch lạc,