ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
TéI GIÕT NG¦êI
TRONG TR¹NG TH¸I TINH THÇN BÞ KÝCH §éNG M¹NH
THEO LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
TéI GIÕT NG¦êI
TRONG TR¹NG TH¸I TINH THÇN BÞ KÝCH §éNG M¹NH
THEO LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. DƢƠNG TUYẾT MIÊN
HÀ NỘI - 2015
động mạnh ........................................................................................... 5
1.2.
Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội giết ngƣời trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ........................................... 8
1.3.
Tội giết ngƣời trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
trong BLHS năm 1999 ....................................................................... 9
1.4.
Dấu hiệu pháp lý của tội giết ngƣời trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh ................................................................... 11
1.4.1. Khách thể của tội phạm ...................................................................... 11
1.4.2. Mặt khách quan của tội phạm ............................................................ 11
1.4.3. Chủ thể của tội phạm .......................................................................... 20
1.4.4. Mặt chủ quan của tội phạm ................................................................ 22
1.5.
Phân biệt tội giết ngƣời trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh với một số tội khác trong Bộ luật hình sự .................. 24
1.5.1. Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh (Điều 95 BLHS) với tội giết người (Điều 93 BLHS) .............. 24
Những sai sót còn tồn tại trong thực tiễn định tội danh đối với
tội giết ngƣời trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ....... 44
2.2.1. Một số sai sót của Cơ quan điều tra ................................................... 46
2.2.2. Một số sai sót của Viện kiểm sát ........................................................ 50
2.2.3. Một số sai sót của Tòa án ................................................................... 54
2.3.
Kiến nghị hoàn thiện ........................................................................ 59
Kết luận Chƣơng 2 ........................................................................................ 62
Chƣơng 3: THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI
TỘI GIẾT NGƢỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN
BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH ................................................................. 64
3.1.
Những sai sót còn tồn tại trong thực tiễn quyết định hình
phạt đối với ngƣời phạm tội giết ngƣời trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh ................................................................... 65
3.1.1. Sai sót do chưa vận dụng đúng qui định của Bộ luật hình sự ............ 65
3.1.2. Sai sót do vận dụng chưa đúng căn cứ tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội................................................ 68
3.1.3. Sai sót do vận dụng chưa đúng căn cứ nhân thân người phạm
tội ........................................................................................................ 70
3.1.4. Sai sót do vận dụng chưa đúng căn cứ các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ TNHS .................................................................................. 72
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
VKSND:
Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Bảng thống kê số vụ án, bị can, bị cáo được xét xử
về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh giai đoạn 2008-2014
45
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hành vi giết người, từ trước đến nay, ở bất cứ chế độ nào đều bị coi là
hành vi dã man, tàn ác và nguy hiểm cho xã hội. Ở nước ta, quyền con người
luôn được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Trong đó, các tội xâm phạm
+ Đinh Văn Quế, “Trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm tính
mạng, sức khỏe của con người”, nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội,
năm 1994.
+ Đỗ Đức Hồng Hà, Tội giết người trong Bộ luật hình sự Việt Nam,
Luận án tiến sĩ luật học, Trường ĐH Luật Hà Nội, năm 2000.
+ Trần Văn Luyện, Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm của con người, luận văn thạc sĩ, Trường ĐH Luật Hà Nội, năm 2000.
+ Trần Văn Luyện, Những điểm mới cơ bản về các tội xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật hình sự
năm 1999, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Số 3, năm 2001.
+ Nguyễn Ngọc Hòa, Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự của con người – so sánh giữa Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ
luật hình sự năm 1985, Tạp chí Luật học Số 1, năm 2001.
+ Trần Nhật Linh (2011), Định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm
tính mạng con người theo pháp luật hình sự hiện hành”, Luận văn thạc sĩ luật
học, trường Đại học TP. Hồ Chí Minh, năm 2011.
+
“Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự”, phần các tội phạm của Viện
nghiên cứu khoa học pháp lý, Nhà xuất bản Pháp lý, năm 1992.
Các công trình nghiên cứu trên mới chỉ quan tâm nghiên cứu tội giết
2
người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ở cấp độ có liên quan đến
tội danh này ở mức độ nhất định. Tuy nhiên, chưa có công trình nào ở cấp độ
luận văn thạc sĩ nghiên cứu toàn diện về đề tài về cả lí luận và thực tiễn. Do
vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp thống kê hình sự, phương pháp
phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Góp phần hoàn thiện hơn pháp luật hình sự Việt
Nam nói chung và những quy định của Bộ luật hình sự về tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nói riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét
xử đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì luận
văn gồm 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội giết người trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh theo qui định của luật hình
sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn định tội danh đối với tội giết người trong trạng
thái tinh thần bị kích động mạnh.
Chương 3: Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
4
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GIẾT NGƢỜI
TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm tội giết ngƣời trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh
Để xây dựng khái niệm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
Tội giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng lực
trách nhiệm hình sự cố ý tước bỏ quyền sống của người khác [11, tr.67].
Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác
một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
và đạt độ tuổi luật định thực hiện [6, tr.38].
Quan điểm thứ hai hợp lí hơn cả vì ngoài việc mô tả rõ hành vi giết
người là “cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật”, quan
điểm này còn mô tả rõ chủ thể thực hiện hành vi giết người. Đó là “do người
có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện”.
Đối với khái niệm tinh thần bị kích động mạnh, hiện nay cũng có nhiều
quan điểm khác nhau về vấn đề này:
Quan điểm thứ nhất:
Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng (tâm lý)
không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi của mình [5, tr.193].
Quan điểm thứ hai là:
Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng ý thức bị
hạn chế ở mức độ cao do không chế ngự được tình cảm, dẫn đến sự
hạn chế đáng kể khả năng kiểm soát và điều khiển hành vi [7, tr.247].
6
Quan điểm thứ ba là:
Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng thái của một
người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc
bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức. Lúc đó, họ
mất khả năng tự chủ và không thấy hết được tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình. Người trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh dù chưa mất hoàn toàn khả năng nhận
thức, nhưng đã mất khả năng tự chủ - khả năng kiềm chế và điều
15/03/1976 quy định về tội phạm và hình phạt (sau tháng 12/1976 văn bản
này được áp dụng cho các nước). Tại Điều 5 của Sắc luật này có quy định các
tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Tuy
nhiên Sắc luật này cũng chỉ dừng lại ở việc nêu tội danh chứ chưa phân biệt
cụ thể tội giết người với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh. Để nhận thức Sắc luật được đúng đắn và để việc áp dụng được thống
nhất, ngày 15/04/1976 Bộ tư pháp ban hành Thông tư số 03/BTP-TT hướng
dẫn thi hành Sắc luật số 03-SL/1976 trong đó hướng dẫn cụ thể tội giết người.
Điểm 2 mục B của thông tư này xác định:
...Cố ý giết người là một tội đặc biệt nghiêm trọng do đó
được quy định hình phạt cao hơn các tội phạm cùng loại quy định ở
Điều 5 Sắc luật này:
Cố ý giết người thì bị phạt từ 15-20 năm tù, tù chung thân
hoặc tử hình. Trường hợp ít nghiêm trọng hoặc có những tình tiết
giảm nhẹ thì bị xử dưới 15 năm tù. Trường hợp ít nghiêm trọng
hoặc có những tình tiết giảm nhẹ thì bị xử dưới 15 năm tù. Trường
hợp ít nghiêm trọng hoặc có những tình tiết giảm nhẹ là:
- Giết người trong trường hợp tinh thần bị kích động quá mạnh...
8
Như vậy, ở thời điểm này, trường hợp giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh được coi là phạm tội ít nghiêm trọng và là một tình
tiết giảm nhẹ đặc biệt của tội giết người, có thể bị xử dưới 15 năm tù.
Trong BLHS năm 1985, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh được quy định tại khoản 3 Điều 101 như một trường hợp phạm tội
có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt của tội giết người:“Phạm tội trong tình trạng
tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn
nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó thì
sáu tháng đến ba năm (khoản 3 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 từ sáu
tháng đến năm năm) còn khung tăng nặng với trường hợp giết nhiều người thì
bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm (quy định này mới, nặng hơn khoản 3 Điều
101 Bộ luật hình sự năm 1985).
Thứ ba, khi tách trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh thành một tội danh độc lập tại Điều 95 BLHS năm 1999, các nhà
làm luật đã sử dụng từ ngữ chính xác hơn khi thay đổi thuật ngữ “tình trạng
tinh thần bị kích động mạnh” thành “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.
Theo khái niệm trong Từ điển Tiếng Việt:
Tình trạng là tổng thể nói chung những hiện tượng không
hoặc ít thay đổi, tồn tại trong một thời gian tương đối dài, xét về
mặt bất lợi đối với đời sống hoặc những hoạt động nào đó của con
người [31, tr.979]. Trạng thái là tình trạng của một sự vật hoặc một
con người trong một khoảng thời gian nào đó [9, tr.1876].
Tức là các nhà làm luật đã quy định chặt chẽ và chính xác hơn khoảng
thời gian tồn tại một hiện tượng, sự việc bất lợi nào đó trong hoạt động của
con người. Nó chỉ xảy ra tại một thời điểm nhất định, chốc lát. Sau khoảng
thời gian đó, mọi hoạt động lại trở lại bình thường. Và chỉ những hành vi
10
phạm tội thực hiện trong trạng thái đó, tại thời điểm đó mới được coi là tình
tiết giảm nhẹ đặc biệt, là dấu hiệu về mặt khách quan của tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Việc nhà làm luật tách trường hợp giết
người này ra thành một tội phạm riêng không chỉ bảo đảm đạt được nguyên
tắc cá thể hoá hình phạt ở mức độ cao mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc
áp dụng luật trên thực tế.
1.4. Dấu hiệu pháp lý của tội giết ngƣời trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh
buộc trong mặt khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh nhưng việc xác định nó có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá
tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
* Hành vi khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh
Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của con người gây ra hoặc
đe doạ gây ra cho xã hội, hành vi phạm tội chỉ có thể được biểu hiện qua
hai hình thức đó là hành động hoặc không hành động. Theo quy định của
BLHS 1999, hành vi khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một
cách trái pháp luật.
- Hành vi khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh là hành vi tước đoạt tính mạng người khác trái pháp luật
được người phạm tội thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
Đây là dấu hiệu đặc trưng, dấu hiệu bắt buộc của tội này, là đặc điểm cho
phép chúng ta phân biệt tội này với các tội khác
Hành vi tước đoạt tính mạng người khác là hành vi gây ra cái chết cho
12
người khác trái pháp luật, là hành vi xâm phạm quyền được sống, quyền được
bảo vệ và tôn trọng về tính mạng con người.
Hành vi tước đoạt tính mạng người khác của người phạm tội phải được
thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Tức là hành vi gây ra
cái chết cho một người trái pháp luật của người phạm tội phải được thực hiện
trong tình trạng ý thức của họ bị hạn chế ở mức độ cao do không chế ngự
được tình cảm (bị xúc động mãnh liệt) tại một thời điểm nhất định.
Theo hướng dẫn của Nghị quyết 04/HĐTP, ngày 29/11/1986 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì người bị kích động mạnh về tinh
tiết của vụ án như nhân thân người phạm tội, khí chất của người phạm tội,
điều kiện sống, quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội,…
Sự kích động đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng
của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Nghĩa là giữa
hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân và trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh của người phạm tội gần như không có khoảng cách về mặt
thời gian, khoảng thời gian tồn tại trạng thái kích động này chỉ xảy ra trong
chốc lát, tức thì. Nếu giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân
và trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội có khoảng cách
về thời gian thì đó không được coi là dấu hiệu về mặt khách quan của tội giết
người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Ví dụ: “Ngô Văn Tình và
Phạm Thị Lê là vợ chồng. Lê có quan hệ tình cảm ngoài luồng với Nguyễn
Văn Thành. Ngày 13/2/2008, Tình có việc về nhà đột xuất, thấy cửa khóa trái,
Tình đã trèo cửa sau vào nhà, Tình đã vô cùng tức giận khi phát hiện có tiếng
vợ và tiếng người đàn ông lạ trong nhà. Khi nhìn thấy vợ và Thành đã cởi đồ
đi vào phòng vệ sinh thì Tình lao ra, tay cầm dao nhọn đâm nhiều nhát vào
người Thành làm nạn nhân chết tại chỗ” (xem bản án HSST số 31 ngày
14
4/7/2008 của TAND tỉnh Quảng Bình). Trong vụ án này, Ngô Văn Tình
phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, chứng kiến cảnh
Thành và vợ ngoại tình (có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng với mình),
Tình đã không kiềm chế, tự chủ được và có hành vi tước đoạt tính mạng của
tình địch. Trường hợp này, chúng ta thấy giữa hành vi trái pháp luật nghiêm
trọng của nạn nhân và hành vi tước đoạt tính mạng người khác của người
phạm tội hầu như không có khoảng cách về mặt thời gian. Do vậy, Toà án
xét xử tên Tình về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh là hoàn toàn đúng đắn.
quá giới hạn phòng vệ chính đáng (theo Điều 96), tuỳ từng trường hợp cụ thể.
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 thì:
Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người
phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm
tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do
hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản
ứng dẫn đến hành vi giết người. Nhưng cá biệt có trường hợp do
hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức
tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỉ kéo dài,
đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp
diễn làm cho người bị kích động không tự kìm chế được, nếu tách
riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng
nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh
hoặc rất mạnh [27].
Việc xác định một hành vi trái pháp luật của nạn nhân đã tới mức
nghiêm trọng hay chưa phải đánh giá một cách toàn diện. Có hành vi chỉ xảy
ra một lần đã là nghiêm trọng, nhưng cũng có hành vi nếu chỉ xảy ra một lần
thì chưa nghiêm trọng, nhưng nó được lặp đi lặp lại nhiều lần, có tính chất “đè
16
nén, áp bức tương đối nặng nề” thì lại thành nghiêm trọng. Tức là, hành vi trái
pháp luật của nạn nhân có thể chỉ là một hành vi cụ thể và tức thì dẫn đến tình
trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội. Ví dụ vụ án xảy ra tại
tỉnh Bắc Giang: “Cao Văn Oanh (SN 1964) và Nguyễn Văn Thái (SN 1973)
cùng ngồi ăn giỗ thì xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Bất ngờ, Thái dùng một
chiếc gậy tre khô dài 67cm vụt liên tiếp nhiều nhát vào đầu, mặt và người
Oanh. Bị đánh đau, Oanh bỏ chạy ra đường bê tông liên thôn. Thái đi xe máy
đuổi theo, Oanh van xin tha nhưng Thái không nghe, vừa chửi, vừa đe dọa