ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ VIỆT DŨNG
Téi giÕt ng-êi
trong tr¹ng th¸i tinh thÇn bÞ kÝch ®éng m¹nh
theo LuËt h×nh sù ViÖt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ VIỆT DŨNG
Téi giÕt ng-êi
trong tr¹ng th¸i tinh thÇn bÞ kÝch ®éng m¹nh
theo LuËt h×nh sù ViÖt Nam
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. LÊ TRUNG KIÊN
HÀ NỘI - 2020
1.1.2. Đặc điểm của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh ................................................................................... 10
1.2.
Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh với một số tội khác ................................................... 18
1.2.1. Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh với tội giết người ................................................................. 18
1.2.2. Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng .... 24
1.2.3. Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh .......... 26
1.3.
Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh theo Luật hình sự một số nước trên thế giới ..................... 27
1.3.1. Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
theo Luật hình sự Liên bang Nga ................................................... 27
1.3.2. Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
theo Luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức ................................... 29
1.3.3. Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
theo Luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung hoa ............................ 30
1.3.4. Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
theo Luật hình sự Thụy Điển ......................................................... 30
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ
KÍCH ĐỘNG MẠNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ................... 32
2.1.
Quy định của luật hình sự Việt Nam về tội giết người trong
BLHS :
Bộ luật hình sự
CTTP:
Cấu thành tội phạm
TAND:
Tòa án nhân dân
TANDTC: Toàn án nhân dân tối cao
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Thống kê tình hình tội phạm nước ta từ 01/2015 –
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Biểu đồ 2.1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người là vốn quý của xã hội, là đối tượng hàng đầu được luật hình
sự nói riêng cũng như pháp luật nói chung bảo vệ. Bảo vệ con người trước hết
là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, bảo vệ nhân phẩm, danh dự và tự do của họ, vì
đó là điều có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với con người.
Trong các khách thể nói trên tính mạng của con người là một trong
những khách thể quan trọng nhất, vì lẽ đó không chỉ pháp luật của các quốc
gia mà pháp luật quốc tế đều coi quyền sống con người là thiêng liêng
không ai được xâm phạm. Luật hình sự Việt Nam từ trước đến nay đều xác
định hành vi xâm phạm tính mạng con người là hành vi có tính nguy hiểm
rất cao và quy định những khung hình phạt rất nghiêm khắc. Pháp luật hình
sự Việt Nam qua cả hai lần pháp điển hóa đều ghi nhận việc thực hiện tội
phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Tại Bộ luật hình sự
1999 tội phạm thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được
ghi nhận tại Điều 95 và Điều 105 còn ở Bộ luật hình sự năm 2015 được
quy định tại điều 125 và điều 134. Bộ luật hình sự 2015 so với Bộ luật hình
sự 1999 có một số thay đổi nhưng bản chất của các tội phạm này liên quan
đến việc thực hiện việc phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh vẫn giữ nguyên. Tuy nhiên ở cả hai bộ luật tại phần chung vẫn chưa
dấu hiệu pháp lý, phát hiện, đồng thời đề xuất các kiến nghị giải quyết những
vướng mắc trong thực tiễn có liên quan đến tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh luôn luôn là vấn đề cần thiết và có nhiều ý nghĩa.
Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài: “Tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh theo Luật hình sự Việt Nam” làm đề tài cho luận
văn thạc sĩ của mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vừa là
dấu hiệu định tội vừa là hình thức hoạt động thể hiện sự đánh giá về mặt pháp
lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội. Do đó, ở trong và ngoài nước đã có
nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những khía
cạnh, những phương diện khác nhau về vấn đề này. Ở cấp độ luận văn thạc sỹ
có các đề tài của các tác giả Đoàn Văn Lâm “Các tội xâm phạm tính mạng con
người trong luật hình sự Việt Nam (cơ sở đào tạo Hà Nội, 2013). Ở cấp độ luận
án tiến sĩ có các đề tài của các nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hồng Hà “Tội giết
người trong Bộ luật hình sự Việt Nam” (luận án tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội,
năm 2007. Tiến sĩ Trần Văn Luyện (2000) “Các tội xâm phạm tính mạng con
người trong luật hình sự Việt Nam” Nxb chính trị quốc gia. Bên cạnh đó, về
giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau: Lê Cảm (chủ
biên 2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, (tái bản lần thứ nhất – 2003);
Ngoài ra, nghiên cứu về tội phạm này còn được thể hiện trong giáo
trình Luật hình sự Việt Nam của một số cơ sở đào tạo luật như Khoa Luật –
ĐHQGHN, Đại học Luật Hà Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân… và các cuốn
bình luận khoa học Luật hình sự Việt Nam của một số tác giả: Bình luận khoa
học BLHS năm 2015 – GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Bình luận những điểm mới
giới hạn phòng vệ chính đáng; với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
- Khái quát sự phát triển của việc ghi nhận thực hiện tội phạm trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong lịch sử lập pháp của Việt Nam từ
xưa đến nay;
- Nghiên cứu những quy định cụ thể về tội giết người trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh.
4
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về thực hiện tội
giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Đồng thời làm rõ
những hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân của nó;
- Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về
tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong BLHS Việt
Nam hiện hành và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài này tập chung vào các vấn đề lý luận,
quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định về tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào nghiên cứu và giải
quyết những vấn đề xung quanh tội giết người trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh (có phân tích, so sánh với một số tội phạm có liên quan đến
tội giết người trọng trạng thái tinh thần bị kích động mạnh). Nghiên cứu thực
tiễn trên phạm vi toàn quốc từ tháng 1- 2015 đến tháng 6- 2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng và nhà nước về cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn
thần bị kích động mạnh đưa ra nhận xét đánh giá khách quan chính xác và đề
ra những giải pháp thiết thực được tích lũy từ thực tiễn để giảm thiểu số lượng
của tội phạm này.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, giảng dạy
và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam, đặc biệt với
chuyên ngành tư pháp hình sự.
6
Dựa trên cơ sở phân tích lý luận và tìm hiểu thực tiễn về tình hình tội
giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, đưa ra những luận
giải, những căn cứ khoa học, để từ đó đưa ra kết luận kiến nghị có ý nghĩa lý
luận thực tiễn trong công tác phòng, chống tội phạm.
Về thực tiễn: kết quả nghiên cứu đề tài có thể tham khảo để xây dựng
đường lối, chính sách, quản lý xã hội, nhằm ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi tội
giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thức tỉnh đạo đức,
lương tâm người phạm tội. Đề tài có thể được dùng làm tư liệu trong nghiên
cứu giảng dạy và học tập.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì khóa
gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh
Chương 2: Quy định của luật hình sự Việt Nam về tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về
tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và bảo đảm áp
dụng trong thực tiễn thi hành.
thực hiện”[7, tr. 38]. Còn theo Giáo trình Khoa Luật- Đại học Quốc gia
8
Hà Nội lại định nghĩa là “hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính
mạng người khác”.
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” được quy
định tại Điều 125, BLHS năm 2015 như sau:
1. Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối
với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt
tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm
đến 07 năm [28, tr.75].
Từ quy định tại Điều 125 BLHS cho thấy “tội giết người trong trạng
thái tinh thần bị kích động mạnh” đòi hỏi người phạm tội khi thực hiện hành
bi phạm tội phải ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng ý thức bị hạn chế tức thời ở mức
độ cao do không chế ngự được tình cảm dẫn đến sự hạn chế đáng kể khả
năng kiểm soát và điều khiển hành vi. Tại BLHS 1985 quy định tình trạng
tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp định khung hình phạt giảm nhẹ
của “tội giết người” và “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác”. Trong BLHS năm 2015 các trường hợp này được tách
ra thành các tội danh riêng, đó là “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh” và “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” [9, tr. 248].
Theo từ điển pháp luật hình sự thì “Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh
là tình trạng ý thức bị hạn chế tức thời ở mức độ cao do không chế ngự được
tình cảm dẫn đến sự hạn chế đáng kể khả năng kiểm soát và điều khiển hành
vi” [9, tr. 247]. Do vậy tình tiết này có thể được quy định là tình tiết định
10
Khách thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh là xâm phạm tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Điều
20 Hiến Pháp 2013 khẳng định quyền được sống, quyền bảo vệ tính mạng là
quyền cơ bản của công dân Việt Nam. Bất kỳ ai cũng được tôn trọng và bảo
vệ tính mạng. Không ai có quyền tước đi mạng sống của người khác trong bất
kỳ hình thức nào. Sự sống của con người “bắt đầu từ khi đứa trẻ được sinh ra
khỏi cơ thể người mẹ và tồn tại độc lập trong thế giới khách quan, với tư cách
là một thực thể tự nhiên và xã hội” [6, tr. 17].
Trong số các quyền nhân thân, quyền sống, quyền được tôn trọng và
bảo hộ về tính mạng của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quý
nhất, không một quyền nào có thể so sánh được. Bởi lẽ, con người vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Khi quyền sống, quyền được tôn trọng
và bảo vệ tính mạng của con người bị xâm phạm thì mục tiêu phấn đấu của
loài người sẽ trở nên vô nghĩa; động lực phát triển của xã hội sẽ bị triệt tiêu.
Thêm vào đó, con người còn là chủ thể của quan hệ xã hội. Nếu quyền sống,
quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người bị xâm phạm thì các
quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ. Chính vì những lý do trên mà mục tiêu bảo vệ
quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người luôn
được đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời kỳ và mọi
chế độ. Cũng vì ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quyền sống, quyền được tôn
trọng và bảo hộ về tính mạng của con người mà trong các BLHS từ năm 1985
đến nay, ngay sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia, nhà làm luật đều đã
quy định. Điều này càng khẳng định, quyền sống, quyền được tôn trọng và
bảo vệ tính mạng của con người thật sự thiêng liêng, cao quý, cần được bảo
vệ một cách tuyệt đối. Bất cứ ai xâm phạm quyền sống, quyền được tôn trọng
và bảo vệ tính mạng của con người đều phải bị trừng trị nghiêm khắc. Hiện
đe doạ gây ra cho xã hội, hành vi phạm tội chỉ có thể được biểu hiện qua hai
hình thức đó là hành động hoặc không hành động. Hành động phạm tội giết
người là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình
12
thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của
tội phạm - quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con
người, qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm. Không hành động
phạm tội giết người là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình
trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho
khách thể của tội phạm - quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính
mạng của con người, qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu
cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm.
Hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác được hiểu là
hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của con
người. Hành vi đó có thể được thực hiện bằng những cách thức khác nhau
như bắn, đâm, chém...
Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác được coi là hành vi khách
quan của “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” khi
người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh. Đặc điểm này vừa phản ánh tính nguy hiểm của hành vi phạm tội
đồng thời cũng là đặc điểm cho phép chúng ta phân biệt tội này với các tội
khác mà trước hết là tội giết người.
Hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP của tội giết
người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, đó là hậu quả chết người,
cụ thể là nạn nhân phải chết thì người thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng
của nạn nhân mới bị coi là phạm tội này. Theo đó, tội giết người trong trạng
thái tinh thần bị kích động mạnh chỉ được coi là hoàn thành khi có hậu quả
Chủ thể của tội phạm là con người có đủ điều kiện để có lỗi khi thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Người có đủ điều kiện để có lỗi, để trở
thành chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển
hành vi theo đòi hỏi tất yếu của xã hội. Để có được năng lực này con người
14
phải đạt độ tuổi nhất định. Do vậy, độ tuổi cũng là điều kiện của chủ thể của
tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là tình trạng của
người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm
thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi của mình. Một người được coi là trong tình trạng không có năng lực
trách nhiệm hình sự khi thoả mãn hai dấu hiệu: Dấu hiệu y học, mắc bệnh tâm
thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động thần kinh và dấu hiệu tâm lý, mất
năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi. Người mắc bệnh trong
trường hợp này: 1) Hoặc không còn năng lực hiểu biết những đòi hỏi của xã
hội, không còn năng lực đánh giá hành vi đã thực hiện đúng hay sai, được làm
hay không được làm... Vì vậy, họ cũng không còn năng lực kiềm chế việc
thực hiện hành vi nguy hiểm để thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của
xã hội; 2) hoặc tuy có năng lực nhận thức và năng lực đánh giá tính chất xã
hội của hành vi nguy hiểm, nhưng do các xung động bệnh lý khiến họ không
thể kiềm chế được hành vi của mình. Quy định trên cho thấy, người nào tuy
mắc bệnh tâm thần, nhưng không mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi thì không được coi là trong tình trạng không có năng lực trách
nhiệm hình sự.
1.1.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Là biểu hiện của trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi gây nguy
hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra [9, tr. 582]. Trong dấu hiệu
phạm. Lỗi cố ý gián tiếp của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là
nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra tuy không
mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra.
Đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì
người phạm tội thực hiện tội phạm khi có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm
16
trọng của nạn nhân đối với họ hoặc người thân thích của họ làm tinh thần
của họ bị kích động mạnh dẫn tới hành vi phạm tội. Người phạm tội không
hề có sự chuẩn bị trước về tinh thần cũng như công cụ, phương tiện phạm
tội. Do vậy, lỗi của người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh dù là lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp đều có đặc điểm chung là lỗi cố ý
đột xuất. Cố ý đột xuất là trường hợp người phạm tội vừa có ý định phạm tội
đã thực hiện ngay ý định đó, chưa có sự cân nhắc kỹ. Thực tiễn xét xử đã
xác nhận “nếu can phạm đã có ý nghĩ và có kế hoạch giết người từ trước,
nhưng lúc hành động vì một duyên cớ nào đó có bị kích động hơn lúc bình
thường và hành động một cách quyết liệt hơn thì đó cũng không phải là giết
người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” [31, tr. 346]. Ở nước ta
hiện nay chưa có quy định cụ thể về trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
việc phân biệt với trường hợp tinh thần bị kích động là điều khó khăn, đây
cũng là điểm mấu chốt để lấy căn cứ định tội danh một chính xác tránh án
oan sai, tác giả có đưa ra ý kiến đóng góp đề suất hoàn thiện để góp phần
giúp mọi người có cái nhìn khách quan, chính xác về trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh.
Khi thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp thì lý trí của người phạm
tội biểu hiện như sau: người phạm tội thấy rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội
của hành vi của mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó. Người phạm tội
và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của
tội phạm.
1.2. Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh với một số tội khác
1.2.1. Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh với tội giết người
“Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và “Tội
giết người” đều là tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng con người,
18