Báo cáo "Tội giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh theo pháp luật hình sự của nư]cs CHDCND Lào " doc - Pdf 12



Xây dựng pháp luật
54 - Tạp chí luật học ThS. Nguyễn Khắc Định *
1. Theo quy định của Luật đầu t nớc
ngoài tại Việt Nam hiện hành,
(1)
các tổ chức,
cá nhân nớc ngoài đợc đầu t vào Việt
Nam dới ba hình thức: Hợp tác kinh doanh
trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh;
thành lập doanh nghiệp liên doanh và thành
lập doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam hiện
hành cũng quy định một số phơng thức tổ
chức đầu t, theo đó, nhà đầu t nớc ngoài
có thể đợc đầu t vào khu chế xuất, khu
công nghiệp, khu công nghệ cao tại Việt
Nam theo 3 hình thức nêu trên và có thể đầu
t xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
thông qua việc kí kết với các cơ quan nhà
nớc có thẩm quyền của Việt Nam để thực
hiện các hợp đồng xây dựng - kinh doanh -
chuyển giao (B.O.T), xây dựng - chuyển giao
- kinh doanh (B.T.O) và xây dựng - chuyển

Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm
2000 phù hợp với thông lệ quốc tế, đợc các
nhà đầu t hoan nghênh là Luật đ cho phép
các bên hợp doanh, trong quá trình kinh
doanh có thể thoả thuận thành lập ban điều
phối với những chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn đợc các bên thoả thuận xác định
để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh;
đồng thời Luật cũng cho phép bên hợp doanh
* Văn phòng Ch
ính phủ
Xây dựng pháp luật
Tạp chí luật học - 55

nớc ngoài đợc thành lập văn phòng điều
hành tại Việt Nam để làm đại diện cho mình
trong việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh
doanh.
Hiện nay, trên thực tế, ở Việt Nam, hình
thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chủ yếu
đợc thực hiện trong lĩnh vực hợp tác thăm
dò khai thác dầu khí; các dự án bu chính
viễn thông, in ấn và phát hành báo chí. Hình
thức đầu t này, trong những năm qua, đ
góp phần hiện đại hoá và phát triển ngành
dầu khí và ngành bu chính viễn thông của
nớc ta. Tính đến hết tháng 12/2000, nớc ta

nghiệp liên doanh vẫn là hình thức đầu t
chủ yếu, chiếm 40% số dự án và 59% số vốn
đầu t.
Trong những năm đầu thực hiện Luật đầu
t nớc ngoài tại Việt nam, đây là hình thức
đầu t đợc khuyến khích và u đi nhất do
quan niệm hình thức này có lợi hơn các hình
thức khác ở chỗ các chủ đầu t trong nớc
đợc cùng góp vốn, cùng quản lí, cùng chia
li và cùng chịu lỗ với các chủ đầu t nớc
ngoài. Qua đó các chủ đầu t trong nớc vừa
thu đợc lợi nhuận trong kinh doanh vừa tiếp
cận đợc với thị trờng mới vừa học tập đợc
kiến thức, phong cách và kinh nghiệm quản
lí của chủ đầu t nớc ngoài; đồng thời cũng
giúp cho Nhà nớc dễ giám sát và quản lí
hoạt động của chủ đầu t nớc ngoài. Ngợc
lại, các chủ đầu t nớc ngoài cũng rất a
thích việc đầu t dới hình thức này, bởi lẽ
họ thờng ít am hiểu các vấn đề về môi
trờng pháp lí và chính trị x hội cũng nh
phong tục, tập quán của nớc ta; qua việc
liên doanh họ sẽ dựa vào đối tác trong nớc
để tiếp cận các vấn đề này. Nhiều công việc,
nhất là về thủ tục đầu t, nếu giao cho các
đối tác trong nớc thực hiện thì sẽ nhanh
chóng hơn.
Tuy nhiên, do khả năng góp vốn của các
đối tác Việt Nam trong liên doanh thờng rất
thấp (bình quân chiếm cha đến 30% vốn

qua việc đầu t dới hình thức này nhà đầu
t nớc ngoài hoàn toàn có quyền chủ động
lựa chọn địa điểm thực hiện dự án, điều hành
sản xuất kinh doanh, tự chủ quyết định mọi
vấn đề về tổ chức quản lí và sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp trong khuôn khổ
pháp luật mà không phải chịu sự chi phối của
bất kì đối tác nào ở trong nớc. Chính vì vậy,
tính năng động, sáng tạo của chủ đầu t luôn
đợc phát huy.
Tính đến hết năm 2000, với 1.459 dự án
còn hiệu lực, tổng vốn đăng kí là 10,7 tỉ
USD, hình thức doanh nghiệp 100% vốn
nớc ngoài tuy chiếm 55,5% tổng số dự án
nhng vốn đăng kí chỉ chiếm 29,4%. Trong
mấy năm gần đây, khi mà các doanh nghiệp
liên doanh bị đổ vỡ nhiều thì hình thức đầu
t 100% vốn có chiều hớng gia tăng, một
phần do Nhà nớc ta cho phép doanh nghiệp
100% vốn nớc ngoài đợc hởng u đi nh
doanh nghiệp liên doanh, một phần cơ chế
quản lí của doanh nghiệp này lại có nhiều
thuận lợi hơn cho các nhà đầu t nớc ngoài
(nếu so với doanh nghiệp liên doanh). Hình
thức đầu t 100% vốn nớc ngoài đ chiếm
85% số dự án đợc cấp phép đầu t vào các
khu công nghiệp). Nhiều doanh nghiệp
100% vốn nớc ngoài thực chất là các công
ti con trong mạng lới toàn cầu của các công
ti xuyên quốc gia nên có nhiều thuận lợi

các quy định có liên quan đến các hình thức
đầu t mà Luật đ quy định.
2.1. Bổ sung quy định về hình thức thành
lập mới doanh nghiệp cổ phần có vốn đầu t
nớc ngoài
Đối với đầu t trong nớc, từ lâu, pháp
luật đ cho phép thành lập theo hình thức
công ti cổ phần (Luật công ti năm 1990)
nhng cho đến nay, các doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài mới chỉ đợc phép tổ chức
dới hình thức công ti trách nhiệm hữu hạn,
cha đợc thành lập công ti cổ phần, phát
hành cổ phiếu, trái phiếu huy động vốn tại
Việt Nam. Trên thế giới, mô hình công ti cổ
phần có vốn đầu t nớc ngoài cũng đ trở
thành hình thức phổ biến, có mặt ở nhiều
nớc khu vực nh Trung Quốc, Nhật Bản,
Inđônêxia Từ năm 1995, Trung Quốc đ
ban hành Quy định tạm thời về hình thức
công ti cổ phần có vốn đầu t nớc ngoài.
Luật doanh nghiệp và Luật khuyến khích
đầu t trong nớc (sửa đổi bổ sung năm
1998) cha cho phép nhà đầu t nớc ngoài
thành lập doanh nghiệp cổ phần. Luật doanh
nghiệp và Quyết định số 145/1999/QĐ-TTg
ngày 28/6/1999 của Thủ tớng Chính phủ chỉ
cho phép nhà đầu t nớc ngoài đợc mua cổ
phần với mức không quá 30% vốn điều lệ
của các doanh nghiệp Việt Nam có phát
hành cổ phiếu.

cổ phần có vốn đầu t nớc ngoài có thể đợc
thành lập mới do các sáng lập viên hoặc đợc
chuyển đổi từ các doanh nghiệp liên doanh
hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc
ngoài.
ở nớc ta hiện nay, việc cho phép cổ phần
hoá các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài là giải pháp cần thiết, nhằm tạo thêm
kênh huy động vốn từ các nhà đầu t, cả ở
ngoài nớc và trong nớc; tạo điều kiện cho Xây dựng pháp luật
58 - Tạp chí luật học

các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài,
các nhà đầu t nớc ngoài tái cơ cấu tài chính,
giảm tỉ lệ vốn vay ngân hàng; tăng tỉ trọng vốn
của Việt Nam trong doanh nghiệp liên doanh
góp phần tích cực vào việc phát triển thị trờng
chứng khoán ở Việt Nam.
Tuy nhiên, đây là vấn đề khó và nhạy cảm,
vì vậy, việc cho phép cổ phần hoá có thể tiến
hành từng bớc theo hớng thí điểm trớc khi
cho triển khai trên diện rộng. Chúng ta có thể
vận dụng một số bài học kinh nghiệm từ việc
thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
để ban hành các quy định cho phép thí điểm cổ
phần hoá các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài, có cân nhắc những đặc thù của loại hình

tại Luật doanh nghiệp và điều lệ của công ti;
có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của
Luật doanh nghiệp, Luật đầu t nớc ngoài tại
Việt Nam và Luật khuyến khích đầu t trong
nớc
Qua tìm hiểu thực tế, tuy cha có số liệu
đầy đủ nhng đ thu đợc một số thông tin
phản ánh việc nhiều nhà đầu t nớc ngoài đ
hởng ứng việc mua cổ phần của các doanh
nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai phía, các
nhà đầu t nớc ngoài và doanh nghiệp Việt
Nam đều còn băn khoăn về mức khống chế
30% số cổ phiếu đợc mua, bán. Trong khi
quy định về doanh nghiệp liên doanh đòi hỏi
vốn của nhà đầu t nớc ngoài phải không ít
hơn 30% vốn pháp định của liên doanh (giới
hạn mức tối thiểu) thì quy định trong Quy chế
ban hành kèm theo Quyết định số 145 nêu trên
đợc xem là không khuyến khích các nhà đầu
t nớc ngoài mua nhiều cổ phần của các
doanh nghiệp Việt Nam. Có trờng hợp nhà
đầu t nớc ngoài có nguyện vọng mua trên
30% cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam và
cam kết đầu t công nghệ cao vào doanh
nghiệp, nếu doanh nghiệp Việt Nam chấp nhận
đề nghị này thì đây là kiểu đầu t chiến lợc,
rất có lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp
Việt Nam. Tuy nhiên, việc này không thể thực
hiện đợc do vớng quy định của Quy chế nêu
trên.

nghiệp phù hợp, góp phần nâng cao chất
lợng một số loại dịch vụ quan trọng do các
tổ chức và cá nhân nớc ngoài cung cấp có
liên quan tới lợi ích của ngời tiêu dùng, đề
nghị bổ sung vào Luật hình thức công ti hợp
danh, phù hợp với quy định của Luật doanh
nghiệp với những đặc thù chủ yếu là công ti
hợp danh có vốn đầu t nớc ngoài phải có ít
nhất một thành viên hợp danh là cá nhân
nớc ngoài; các thành viên hợp danh phải
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình (trách nhiệm vô hạn) về các nghĩa vụ
của công ti; công ti hợp danh đợc hởng các
u đi theo quy định của Luật đầu t nớc
ngoài tại Việt Nam.
2.5. Thành lập chi nhánh công ti nớc
ngoài tại Việt Nam
Việc thành lập chi nhánh để tiến hành
hoạt động đầu t trực tiếp hoặc xúc tiến các
hoạt động thơng mại, đầu t là nhu cầu rất
cần thiết của các công ti xuyên quốc gia.
Trên thực tế, các nớc nh Trung Quốc,
Malayxia, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc
đều quy định chi nhánh của công ti nớc
ngoài là một trong những hình thức đầu t
nớc ngoài.
Hình thức chi nhánh (branch) khác với
hình thức công ti con (subsidiary - thực chất
là doanh nghiệp 100% vốn) ở chỗ chi nhánh
thờng không đợc coi là pháp nhân độc lập

thơng mại cũng nh Luật đầu t nớc ngoài
tại Việt Nam cha cho phép các chi nhánh
doanh nghiệp nớc ngoài đợc tiến hành
hoạt động đầu t tại Việt Nam với t cách là
hình thức đầu t trực tiếp.
Để mở rộng hình thức thu hút đầu t
nớc ngoài, nhất là tranh thủ tiềm lực của
các công ti xuyên quốc gia, đề nghị vận dụng
kinh nghiệm của các nớc, bổ sung vào Luật,
cho phép nhà đầu t nớc ngoài thành lập chi
nhánh để tiến hành hoạt động đầu t tại Việt
Nam.
2.6. Thành lập công ti quản lí vốn
Việc thành lập công ti quản lí vốn
(holding company) hoạt động đa mục tiêu
đợc áp dụng phổ biến ở nhiều nớc trên thế
giới và cũng là nhu cầu của một số tập đoàn
có nhiều dự án đầu t tại Việt Nam. Hình
thức công ti này tạo điều kiện cho nhà đầu t
nớc ngoài điều phối và hỗ trợ hoạt động cho
các dự án đầu t khác nhau của họ tại Việt
Nam; hình thức này cũng giúp nhà đầu t
nớc ngoài tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu
quả đầu t.
Do vậy, đề nghị bổ sung vào Luật quy
định cho phép nhà đầu t nớc ngoài có
nhiều dự án đầu t tại Việt Nam đợc thành
lập công ti quản lí vốn để quản lí các dự án
đầu t của mình.
2.7. Tiếp tục hoàn chỉnh các quy định có

Nam năm 2000, lại một lần nữa thu hẹp
phạm vi áp dụng nguyên tắc nhất trí xuống
còn 2 vấn đề là bổ nhiệm, miễn nhiệm tổng
giám đốc, phó tổng giám đốc thứ nhất; sửa
đổi bổ sung điều lệ doanh nghiệp. Đây là
việc sửa đổi đợc các nhà đầu t nớc ngoài
rất hoan nghênh.
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của nhiều
doanh nghiệp liên doanh thời gian qua cho
thấy, trong điều kiện vốn góp của bên Việt
Nam hạn chế, chủ yếu bằng quyền sử dụng
đất, năng lực cán bộ Việt Nam còn rất yếu
thì việc quy định nguyên tắc nhất trí nhiều
khi chỉ có tính hình thức, không phải là biện Xây dựng pháp luật
Tạp chí luật học - 61

pháp duy nhất để bảo vệ quyền lợi của bên
Việt Nam trong liên doanh mà vấn đề quyết
định vẫn là năng lực của cán bộ Việt Nam.
Để tiến tới áp dụng hình thức tổ chức quản lí
thống nhất cho doanh nghiệp trong nớc và
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, phù
hợp với thông lệ quốc tế, đề nghị bỏ nguyên
tắc nhất trí và quy định về tổ chức quản lí
doanh nghiệp liên doanh, phù hợp với Luật
doanh nghiệp. Theo đó, thành viên hội đồng
quản trị đại diện cho phần vốn góp của mỗi

doanh nghiệp là thực tế rất phổ biến trong
hoạt động đầu t ở các nớc trên thế giới.
Trong thời gian qua, ở nớc ta, các cơ quan
có thẩm quyền đ xử lí rất linh hoạt việc lựa
chọn cũng nh chuyển đổi hình thức đầu t
nhng việc xử lí này vẫn dựa trên cơ sở xem
xét trong từng trờng hợp cụ thể, cha đủ cơ
sở pháp lí để điều chỉnh vì Luật đầu t nớc
ngoài tại Việt nam năm 1996 cha có quy
định, còn Luật đầu t nớc ngoài tại Việt
Nam năm 2000 tuy đ có quy định bổ sung
là "cho phép doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài đợc chuyển đổi hình thức đầu
t, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách phù hợp
với các điều kiện do Chính phủ quy định"
(3)

nhng đến nay vẫn cha có quy định hớng
dẫn thực hiện của Chính phủ.
Việc các doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài xin chuyển hình thức đầu t ở
nớc ta, trong thời gian qua phần lớn là xin
chuyển từ hình thức liên doanh sang hình
thức đầu t 100% vốn đầu t nớc ngoài,
việc này diễn ra chủ yếu từ năm 1997; ngoài
ra cũng có một số liên doanh chuyển sang
100% vốn Việt Nam và chuyển sang hình
thức hợp doanh. Nhìn chung, sau khi đợc
chuyển hình thức đầu t, các doanh nghiệp
100% vốn nớc ngoài đ nhanh chóng tổ

tiếp phổ biến do các công ti xuyên quốc gia
thực hiện và đây sẽ là hình thức đầu t trực
tiếp phổ biến của những năm đầu thế kỉ
XXI.
(4)
Việt Nam cần nắm bắt xu thế này,
sớm thể hiện thành các quy định pháp lí về
hợp nhất, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
theo hớng ngoài việc cho phép các doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc hợp
nhất, sáp nhập nh quy định của Luật đầu
t, cần có thêm các quy định cho phép nhà
đầu t nớc ngoài đợc mua lại các doanh
nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, không
phân biệt các thành phần kinh tế. Thực tế cho
thấy, năm 1999, Thuỵ Điển trở thành nớc
tiếp nhận đầu t lớn thứ 2 trong EU, Nhật
Bản thu hút đầu t gấp 4 lần năm 1998, Hàn
Quốc, Mĩ trong mấy năm gần đây, thu hút
đầu t nớc ngoài tăng vọt, chủ yếu đợc
thực hiện thông qua hình thức này.
Hoàn thiện các hình thức đầu t nớc
ngoài là công việc rất quan trọng nhng
không thể tiến hành ngay trong thời gian
ngắn. Trong những năm qua, Nhà nớc ta đ
ban hành, sửa đổi, bổ sung nhiều quy định
pháp lí để từng bớc hoàn thiện các hình
thức đầu t nớc ngoài, phi tập trung hoá các
hình thức đầu t trong một đạo luật. Công
việc tiếp theo của việc hoàn thiện các quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status