Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................
1)Lý do chọn đề tài..............................................................................................
2)Mục đích chọn đề tài........................................................................................
3) Ý nghĩa ...........................................................................................................
4) Đối tượng nghiên cứu......................................................................................
5)Phương pháp nghiên cứu .................................................................................
PHẦN NỘI DUNG............................................................................................
Chương I: Một số vấn đề lý luận về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh...................................................................................................4
1.1)Khái niệm về trạng thái tinh thần bị kích động mạnh....................................
1.1.1) Khái niệm.................................................................................................:4
1.2) Các dấu hiệu pháp lý thuộc bốn yếu tố cấu thành tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh..............................................................10
1.2.1) Khách thể của tội phạm:.........................................................................10
1.2.2) Mặt khách quan của tội phạm:...............................................................10
1.2.3) Chủ thể của tội phạm:.............................................................................12
1.2.4) Mặt chủ quan của tội phạm:...................................................................12
Chương II: Thực tiễn áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
và một số vấn đề liên quan................................................................................13
2.1) Thực tiễn áp dụng:
.................................................................13
2.2) Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng:................................20
2.3)Nguyên nhân, điều kiện của tình hình phạm tội:........................................21
2.4) Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và khắc phục những tồn tại, vướng
hiệu, phân biệt các tội giết người quy định ở chương này còn gặp nhiều
vướng mắc và khó xác định. Trong đó tội giết người trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh (ở điều 95) cũng không phải là một ngoại lệ để phân
biệt với tội giết người khác.
Vì vậy, cũng cần thiết phải xây dựng một cơ sở lý luận hoàn chỉnh hơn
để tạo điều kiện dễ dàng trong việc xác định về tội “giết người trong trạng
thái tinh thần bị kích động mạnh”.
Và để làm rõ hơn những vấn đề trên thì tôi đã lựa chọn đề tài: “ Tội giết
người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.
3)Mục đích chọn đề tài
Trước hết nhằm tìm hiểu những của pháp luật về tội “ giết người trong
trang thái tinh thần bị kích động mạnh”.
Đồng thời xuất phát từ tình hình thực tiễn và lý luận cần thiết phải xây
dựng một cơ sở lý luận hoàn chỉnh hơn về trách nhiệm hình sự của tội giết
SVTH: Hoàng Công Hoàn
2
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và vận dụng điều 95 vào
thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm.
3) Ý nghĩa
Góp phần hoàn thiện hơn pháp luật hình sự việt nam nói chung và
những quy định của bộ luật hình sự về tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh nói riêng.
Góp phần đảm bảo việc trừng trị, xét xử đúng người đúng tội, đảm bảo
an ninh xã hội.
4) Đối tượng nghiên cứu
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng thái mà tâm lý bị ức chế ở
mức độ cao dẫn đến nhận thức bị hạn chế làm giảm đáng kể khả năng điều
khiển hành vi, nhưng vẫn còn khả năng điều khiển hành vi của mình.
Quan điểm thứ ba lại coi trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng
thái của một người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc
bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức. Lúc đó, họ mất khả
năng tự chủ và không thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi của mình; trạng thái tinh thần của họ gần như người điên
(người mất trí). Đây là cơ sở để phân biệt với trường hợp phạm tội do tinh
thần bị kích động. Theo quan điểm này, người trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh dù chưa mất hoàn toàn khả năng nhận thức, nhưng đã mất
khả năng tự chủ - khả năng kiềm chế và điều khiển hành vi của mình.
Theo tôi, hai quan điểm đầu có vẻ hợp lý hơn. Một người phạm tội trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là người dù chịu sự tác động mạnh mẽ
về mặt tâm lý nhưng khả năng nhận thức vẫn còn, nghĩa là khả năng kiềm
chế và điều khiển hành vi của họ vẫn còn. Còn nếu theo quan điểm thứ ba thì,
SVTH: Hoàng Công Hoàn
4
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
nếu khả năng kiềm chế và điều khiển hành vi của họ mất, có thể coi họ là một
trong những trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự. Điều 13 của
BLHS năm1999 quy định nếu một người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác
(nguyên nhân khách quan) mà dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc mất khả
năng điều khiển hành vi, thì được xem là người không có năng lực trách
nhiệm hình sự. Người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
có nguyên nhân xuất phát từ người bị hại. Như vậy, có thể coi việc họ mất
biệt “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và “trạng thái tinh thần bị kích
động” ở mức độ nhận thức của người phạm tội khi thực hiện hành vi. Khi
thực hiện hành vi, nếu người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là
nguy hiểm cho xã hội, có thể gây ra hậu quả cụ thể nào, bất chấp việc hành vi
của mình có trái pháp luật và mình phải chịu trách nhiệm pháp lý hay không
thì có thể coi đây là trường hợp “trạng thái tinh thần bị kích động”. Làm sáng
tỏ điểm này phải căn cứ vào từng đối tượng cụ thể. Có trường hợp đối với đối
tượng đó là bị kích động mạnh nhưng đối với đối tượng khác thì không. Ví
dụ, khi phát hiện vợ mình ngoại tình với người khác tại nhà mình, có người
vác dao chém đôi tình nhân này. Tuy nhiên, có người bình tĩnh yêu cầu họ
mặc đồ vào để nói chuyện nghiêm túc.
Ngoài ra, còn có thể dựa vào nguyên nhân dẫn đến trạng thái tinh thần bị
kích động để xác định tinh thần có bị kích động mạnh hay không. Nguyên
nhân làm cho “tinh thần bị kích động mạnh” là hành vi trái pháp luật nghiêm
trọng của nạn nhân. Trong khi đó, nguyên nhân làm cho “trạng thái tinh thần
bị kích động” là hành vi trái pháp luật của nạn nhân hoặc của người khác.
Tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân là
một căn cứ để xem tinh thần của người phạm tội có bị kích động mạnh hay
không. Khi xem xét tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp
luật của người bị nạn, cần đánh giá toàn diện về cả cường độ lẫn số lượng của
hành vi. Có trường hợp hành vi có cường độ mạnh nhưng chỉ xảy ra một lần
cũng đủ dẫn đến kích động mạnh. Hoặc có trường hợp, hành vi dù cường độ
thấp nhưng xảy ra nhiều lần cũng có thể dẫn đến tinh thần bị kích động mạnh.
Theo nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ năm 1986, hướng dẫn áp
dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, có quy
định cụ thể:
SVTH: Hoàng Công Hoàn
6
nhục thô bạo và trắng trợn vu khống người em, đến thời điểm nào đó lại lăng
nhục người em nên người anh bị em giết.
SVTH: Hoàng Công Hoàn
7
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Đối với trường hợp người dùng chất say (uống rượu) hoặc chất kích
thích mạnh khác mà bị say, nhân có hành vi trái pháp luật không nghiêm
trọng của nạn nhân mà thực hiện hành vi giết người, thì không coi là trường
hợp phạm tội do bị kích động mạnh. Phải tùy theo hoàn cảnh, tính chất và
mức độ sai trái của hành vi do nạn nhân thực hiện cũng như các tình tiết khác
của vụ án, mà xử lý theo điều 101 về tội giết người.
- Để có thể xác định tinh thần của người phạm tội có bị kích động mạnh
hay không và để phân biệt giữa “kích động” với “kích động mạnh”, cần xem
xét một cách khác quan, toàn diện các mặt: thời gian, hoàn cảnh, địa điểm,
diễn biến, nguyên nhân sâu xa và trực tiếp của sự việc; mối quan hệ giữa nạn
nhân với người phạm tội, trình độ văn hóa, chính trị, tính tình, cá tính của
mỗi bên: mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân, mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân với
tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội”.
Mặt khác, trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cũng được quy định cụ
thể ở Bộ luật hình sự 1985 tại khoản 3 điều 101 về tội giết người: “3- Phạm
tội trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật
nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân
thích của người đó thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.Và sau này được
xây dựng thành một điều luật cụ thể của Bộ luật hình sự 1999, đó là điều 95:
Theo quy định tại Điều luật vừa viện dẫn, người phạm tội trong trường hợp
này có thể bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm tù.
Như vậy, người bị kích động mạnh về tinh thần được hiểu là người
không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng
chưa mất hẳn khả năng nhận thức, lúc đó họ mất khả năng tự chủ và không
thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình,
trạng thái của họ lúc bấy giờ gần như người mất trí. Trạng thái này chỉ xảy ra
trong chốc lát, sau đó tinh thần của họ trở lại bình thường như trước.
Việc xác định một người có bị kích động mạnh về tinh thần hay không
là một vấn đề phức tạp, bởi vì trạng thái tâm lý của mỗi người là khác nhau.
Vì vậy để xác định người đó có bị đẩy đến tình trạng bị kích động mạnh hay
chưa mạnh về tinh thần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, xem xét một
cách toàn diện các tình tiết cụ thể về vụ án, nhân thân của người phạm tội,
quá trình diễn biến của sự việc, trình độ văn hóa, bệnh tật, hoàn cảnh gia
SVTH: Hoàng Công Hoàn
9
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
đình,… từ đó mới có thể xác định mức độ bị kích động về tinh thần có mạnh
hay không, mạnh đến mức nào.
Còn đối với người bị giết phải là người có hành vi trái pháp luật nghiêm
trọng, xâm phạm đến lợi ích của người phạm tội và hành vi trái pháp luật
nghiêm trọng của nạn nhân phải là nguyên nhân dẫn đến người phạm tội bị
kích động mạnh về tinh thần. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp
luật với hành vi bị kích động mạnh là mối quan hệ tất yếu.
1.2) Các dấu hiệu pháp lý thuộc bốn yếu tố cấu thành tội giết người
−Về hành vi khách quan của tội phạm:
Hành vi khách quan của tội giết người trong trang thái tinh thần bị kích
động mạnh chính là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người
khác, hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống
của họ.
Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người có thể là hành động
như: hành động bắn, đâm, chém... của người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh đối với nạn nhân.
−Về hậu quả khách quan của tội phạm:
Hậu quả mà do hành vi khách quan nói trên gây ra là hậu quả chết
người. Đây là một dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội giết người
trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Như vậy, tội này chỉ được coi là
tội phạm hoàn thành khi có dấu hiệu hậu quả chết người.
− Về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người :
Về nguyên tắc, người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm về hậu quả
nguy hiểm cho xã hội do chính hành vi của mình gây ra. Nguyên tắc này đòi
hỏi phải xác định hậu quả chết người có quan hệ nhân quả với hành vi khách
quan của người bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người trong
trường hợp này (hoàn thành)- tức là xác định chính hành vi khách quan đó đã
dẫn đến hậu quả chết người. Người có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính
mạng của người khác chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết
người đã xảy ra, nếu hành vi của họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả
chết người đó.
−Ngoài ra mặt khách quan của tội phạm còn có những biểu hiện khác
như: thời gian, địa điểm, phương tiện, hoàn cảnh... phạm tội và tùy thuộc vào
từng trường hợp cụ thể mà chúng ta xét những yếu tố này.
SVTH: Hoàng Công Hoàn
11
12
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Chương II: Thực tiễn áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh và một số vấn đề liên quan.
2.1) Thực tiễn áp dụng:
Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo vệ quyền sống của con người, bằng
việc quy định những hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền được sống, được
tồn tại của con người là tội phạm và quy định các loại hình phạt tương ứng
với hành vi đó. Trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong những
năm qua, trên cả nước tình hình phạm tội giết người trong trường hợp này
cũng khá nhiều và có xu hướng gia tăng, cụ thể:
Theo báo cáo công tác của ngành Tòa án thống kê từ năm 2007 đến năm
2009:
Năm 2007
Năm2008
Năm2009
Số vụ Tỷ lệ
Số vụ Tỷ lệ
Số vụ
Tỷ lệ
(%)
100
189
6.5
464
6.1
vụ
giết
người
khác
Số vụ 118
giết
người
trong
ttttbkđ
m
Qua bảng số liệu trên ta thấy:
So với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người khác thì tội giết
người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vẫn đang chiếm tỷ lệ thấp
SVTH: Hoàng Công Hoàn
13
hiều hậu, trách nhiệm.
SVTH: Hoàng Công Hoàn
14
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Cha Mẫn - ông Phan Thế Tuyên là tài xế xe tải chở hàng nhưng “nát”
rượu nên các mối làm ăn dần thưa thớt. Và trong mỗi cơn say, ông Tuyên lại
đánh đập, chửi bới rồi đuổi vợ con ra khỏi nhà. Do thường xuyên hứng chịu
những trận đòn vô cớ từ lúc còn nhỏ cho đến lớn nên Mẫn luôn uất hận cha
mình.
Khoảng 18 giờ ngày 9/11/2009, Mẫn từ lớp học về nhà thấy cha nằm
ngủ dưới nền nhà trong phòng khách, người nồng nặc mùi rượu. Nghĩ đến
cảnh cha đánh đập mẹ tàn nhẫn vào 2 hôm trước, Mẫn nảy sinh ý định giết
cha để trả thù.
Ngay lập tức, Mẫn ra tiệm tạp hóa mua một sợi dài 4m và một phích
cắm. Sau đó, Mẫn kéo dây cắm vào bảng điện trong phòng của mình rồi dùng
đầu dây kia đã tuốt lõi đồng chích vào người cha mình. Ông Tuyên co giật rồi
nằm bất động trên sàn nhà.
Lúc này, Mẫn định đem xác cha mình đi phi tang thì cũng là lúc mẹ và
em gái vừa về đến nhà. Phát hiện sự việc, mẹ Mẫn nhờ đưa chồng đi cấp cứu
nhưng ông đã chết trước khi đến bệnh viện.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà nội và mẹ Mẫn đều khai rằng, Mẫn là đứa
cháu ngoan, hiền trong gia đình. Do lòng căm phẫn bị dồn nén, suy nghĩ nông
cạn nên Mẫn mới hành động giết cha mình. Tuy nhiên, xét thấy hành vi của
Mẫn là quá dã man, nguy hiểm cho xã hội cần phải cách ly bị cáo nên HĐXX
đã tuyên Mẫn mức án tử hình với tội danh giết người quy định tại điều 93 Bộ
luật Hình sự 1999.
Mẫn đáng lẽ ra phải có lựa chọn khác (câu đáng lẽ ra phải có lựa chọn khác
mà Kiểm sát viên và Hội đồng xét xử thường nói tại phiên tòa) như khuyên
bảo cha, bỏ nhà ra đi, tố cáo tội của cha đẻ cho chính quyền hoặc đánh trả lại
cha... Nhưng ở vị trí của Mẫn, chúng ta nên đánh giá một cách khách quan,
toàn diện hơn. Mẫn giết người, hơn nữa lại giết chính cha đẻ của mình là tội
đáng trừng trị. Thử ở vào vị trí của Mẫn để lựa chọn phương án để giải quyết
thì nên lựa chọn phương án nào?. Giải thích cho cha ư? Những người nát
rượu như vậy thì chỉ có những người con thông minh, có đủ sức kiên nhẫn
mới có thể làm cho cha bỏ rượu, hoặc chỉ cố nhịn để đến khi có đủ cơ hội
thoát khỏi người cha như vậy mà thôi.
Tố cáo tội cha đẻ cho chính quyền? Làm như vậy thì liệu ông Tuyên có
bỏ được bệnh nát rượu hay không? Liệu mâu thuẫn giữa ông Tuyên với vợ
SVTH: Hoàng Công Hoàn
16
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
con có phát sinh thêm không? Chính quyền hiện nay đã can thiệp như thế nào
trong các vụ nát rượu như thế này?
Nếu Mẫn đánh trả lại cha thì đó cũng là hành vi bất hiếu. Do Mẫn không
biết kiềm chế mình đã xâm phạm tính mạng của người khác và người đó lại
chính là cha đẻ của mình, cho nên phải chịu hình phạt là thỏa đáng. Nhưng
buộc Mẫn vào tội nào mới là vấn đề đáng phải bàn. Hành vi của ông Tuyên
như vậy có đủ cấu thành tình tiết trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
của Mẫn hay không?
Tại thời điểm Mẫn giết người, cha của bị cáo không có hành vi vi phạm
pháp luật đối với mẹ hay bản thân Mẫn nhưng hành vi trái pháp luật nghiêm
bị xử quá nặng như vậy. Bởi vì dù phải sống trong một gia đình thường
xuyên bị ám ảnh một cảnh tượng bạo hành bi đát như vậy mà còn cố gắng
học tập và rèn luyện được, đó là trường hợp rất ít, điều đó đã chứng tỏ Mẫn
cũng là một người con ngoan, có chí và chắc chắn sẽ rất có ích cho xã hội
trong tương lai nếu có cơ hội để phát triển.
Tôi đồng ý quan điểm đã giết người thì dù đó là ai và đó là đối tượng
nào cũng đã phạm một trọng tội, nhưng ta cũng cần phải xem xét việc giết
người đó đã xảy ra trong trường hợp nào, có bị kích động đến tột cùng mà
không kiểm soát được lý trí?
Vậy liệu có cần phải loại bỏ cậu thanh niên có bản chất lương thiện ra
khỏi xã hội hay không?.
Qua các tình tiết về hành vi phạm tội của Mẫn , tôi cho rằng Mẫn phải bị
truy tố ở điều 95 Bộ luật hình sự “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị
kích động mạnh’’ mới đúng. Điều 95 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào
giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp
luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân
thích của người đó thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.
Ở trường hợp của Mẫn, cha của Mẫn thường xuyên nhậu say đập phá đồ
đạc và đánh đập, hành hạ mẹ của Mẫn; từ đó nỗi uất ức, oán hận chất chứa
trong lòng Mẫn từ năm này qua năm khác và nó bộc phát lên chính là hành vi
phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
Hành vi của ba Mẫn rõ ràng là vi phạm vào Luật hình sự. Mẫn lại có các
tình tiết giảm nhẹ hình phạt như: nhân thân tốt, không tiền án, ăn năn hối cải,
thành khẩn khai báo, được thân nhân của nạn nhân xin giảm tội...
SVTH: Hoàng Công Hoàn
18
SVTH: Hoàng Công Hoàn
19
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
2.2) Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng:
- Pháp luật chưa có những quy định cụ thể về giới hạn khi nào con
người ta rơi vào trạng thái tâm lý bị kích động mạnh mà chỉ những quy định
mang tính chung chung, đặc biệt là trường hợp con người ta phạm tội trong
trạng thái tâm lý có chất kích thích- là trạng thái dễ bị kích động thì cũng
chưa có quy định cụ thể trường hợp nào nên áp dụng hay không. Mà trong
quá trình xét xử còn phụ thuộc nhiều vào ý kiến chủ quan của người tiến
hành tố tụng trong từng trường hợp cụ thể. Vì vậy, chúng ta cũng gặp nhiều
khó khăn trong việc phân biệt tội này với các loại tội giết người thông thường
khác quy định trong Bộ luật hình sự.
Đặc biệt, theo quy định của Bộ luật hình sự chúng ta thấy có hai tội đều
có chung tình tiết “phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” đó
là ở điều 95 và điều 105, theo sự mô tả của Điều 95 và Điều 105 trong BLHS
năm1999, chúng ta gặp khó khăn trong việc phân biệt chúng. Vấn đề này xảy
ra khi nghiên cứu CTTP cơ bản của Tội giết người trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh (Khoản 1, Điều 95) và CTTP tăng nặng của Tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 2, Điều 105) vì cả hai CTTP đều chứa
đựng hậu quả chết người. Như đã phân tích, khi thực hiện hành vi phạm tội,
người phạm tội trong cả hai trường hợp đều không nhận thức rõ hành vi của
mình có thể gây ra hậu quả cụ thể nào (chết người hay thương tích /tổn hại
sức khoẻ) vì khi đó khả năng nhận thức của họ đã giảm đi đáng kể. Do đó,
việc xác định trường hợp nào là cố ý đối với hậu quả chết người (giết người
luật không ngừng gia tăng trong đó có cả loại tội này.
+ Thứ hai, nguyên nhân thường xuyên:
Một nguyên nhân khiến cho con người ta phạm tội này cũng là do xuất
phát từ chính những mâu thuẫn cá nhân thường ngày dù những mâu thuẫn đó
là lớn hay là nhỏ đã gây nên tình trạng bị kích động mạnh dẫn đến việc người
phạm tội thực hiện hành vi- nguyên nhân của tình trạng tinh thần bị kích
động mạnh của người phạm tội là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của
chính nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của
người phạm tội.
Mặt khác, việc con người có những hành vi biểu hiện và suy nghĩ mang
tính chất côn đồ cũng đã gây nên trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dẫn
đến việc phạm tội.
SVTH: Hoàng Công Hoàn
21
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
2.4) Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về tội giết người
trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và khắc phục những tồn
tại, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng:
- Về phương diện lập pháp: cần có những quy định, định nghĩa cụ thể để
làm rõ và xác định giới hạn của trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Và
cũng cần xây dựng nhiều văn bản hướng dẫn về loại tội này để dễ dàng hơn
trong việc phân biệt với các loại tội giết người khác, đặc biệt là với tội quy
định ở điều 105, và để giải quyết vấn đề này, theo tôi, nhà làm luật nên
nghiên cứu bỏ dấu hiệu hậu quả “chết người” trong CTTP tăng nặng của Tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (điểm b, Khoản 2, Điều 105 của
cũng đủ dẫn đến kích động mạnh. Hoặc có trường hợp, hành vi dù cường độ
thấp nhưng xảy ra nhiều lần cũng có thể dẫn đến tinh thần bị kích động mạnh.
Đồng thời trong quá trình áp dụng pháp luật luôn luôn quán triệt về tinh
thần, nội dung của điều 95 Bộ luật Hình sự 1999 và các văn bản hướng dẫn
khác.
SVTH: Hoàng Công Hoàn
23
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
PHẦN KẾT LUẬN
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một
trường hợp đặc biệt của tội giết người. Việc tìm hiểu về loại tội này đã phần
nào giúp chúng ta hiểu hơn về những quy định của pháp luật hình sự về tội
giết người. Và đây là một loại tội phạm thể hiện nội dung nhân đạo trong
pháp luật hình sự nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung đối với con
người mà cụ thể ở đây là đối với người phạm tội. Song việc quy định loại tội
này cũng đã góp phần tích cực trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm,
không bỏ lọt tội phạm.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng điều luật, việc xác định giới hạn giữa
tội này với tội giết người quy định ở điều 93 Bộ luật Hình sự 1999 là rất khó
khăn bởi đây là loại tội liên quan đến tâm lý con người mà chúng ta chưa có
một giới hạn quy định cụ thể về tình trạng tinh thần bị kích động mạnh, vì thế
trong quá trình xét xử còn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người tiến hành
tố tụng, nên việc xác định tội còn gặp nhiều vướng mắc đòi hỏi phải không
ngừng hoàn thiện về mặt pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng, đòi hỏi chúng
ta cần phải xây dựng nhiều hơn nữa các văn bản hướng dẫn về loại tội này và
25