Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                        BỘ TÀI CHÍNH
   HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
   

TÔ MINH THU

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIẤY
VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ


    
 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                       BỘ TÀI CHÍNH
   HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
   

TÔ MINH THU

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIẤY 
VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MàSỐ: 9.34.03.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:
                                                                   1. PGS,TS. Đinh Thị Mai

CÁC

 

CHỮ

 

VIẾT 

TẮT…………………………………………………..vi
DANH MỤC BẢNG………………………………...………………………………….vii
DANH

 

MỤC

 



 

ĐỒ,

 

ĐỒ 



Bảo hiểm y tế

BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp

CCDC

Công cụ dụng cụ

CGMA

Chartered Global Management Accountant

CIMA

Chartered Institute of Management Accountants

CMCN 

Cách mạng công nghiệp 

CPSX

Chi phí sản xuất

CTCP

Công ty cổ phần


Phiếu xuất kho

QLDN

Quản lý doanh nghiệp

SWOT

Strengths/Weaknesses/Opportunities/Threats

SXKD

Sản xuất kinh doanh

TK

Tài khoản

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ

Tài sản cố định

DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC........................................................................................................................ ii
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cùng với tác động của cuộc cách mạng  

Kiểm tra các hệ số hồi quy trên mô hình cho thấy tất cả lớn hơn 0,75 (khá tốt). Kết quả mô hình
Model FIT cho thấy: CFI = 0,908; TLI=0,916 là tốt; RMSEA = 0,072 (nhỏ hơn 0,08) thỏa mãn
điều kiện mô hình phù hợp (phụ lục 1G.3)...............................................................................154

Kết quả  ước lượng hồi quy giữa các biến quan sát trong từng biến tiềm ẩn tại 
bảng 2.9 cho thấy, đối với các quan sát được giữ  lại thì các biến này đều đạt 
được mức ý nghĩa rất cao, tương ứng với P_value

vii


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cùng với tác động của cuộc cách mạng  
công nghiệp 4.0, có nhiều vấn đề  các ngành kinh tế  cũng như  các doanh nghiệp sản  
xuất phải quan tâm để chọn được mục tiêu và chiến lược kinh doanh đúng đắn. Hiện  
nay, ngành công nghiệp sản xuất giấy là một trong những ngành được Chính phủ hết 
sức quan tâm. Tuy nhiên, ngành công nghiệp sản xuất giấy  đang phải đối mặt với  
một loạt các thách thức để  duy trì tính cạnh tranh trong một lĩnh vực mà chi phí  
nguyên liệu và năng lượng chiếm một phần rất lớn trong chi phí sản xuất. Thách  
thức lớn nhất hiện nay đó là giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả hoạt động cùng  
với các phương pháp xanh hơn để  sản xuất giấy với chất lượng tốt, đồng thời  
tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về môi trường.  Mặt khác, ngành công nghiệp sản 
xuất giấy nước ta đang có nguy cơ  thua ngay trên sân nhà khi Việt Nam tham gia hội  
nhập kinh tế  ngày càng sâu và rộng với khu vực và thế  giới bởi giấy của các nước  
trong khu vực như Thái Lan, Indonexia, Malaixia và các nước khác trên thế giới sẽ tràn 
vào Việt Nam, đe dọa sự  sống còn của các doanh nghiệp sản xuất giấy nội địa. Để 
đứng vững và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam phải có  
những biện pháp mang tính tổng lực nhằm tận dụng thời cơ và sức mạnh, đồng thời  
khắc phục khó khăn và thách thức.
Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sản xuất giấy Việt Nam  đến năm 
2025 với quan điểm chủ đạo phát triển ngành công nghiệp sản xuất giấy theo hướng  
hiện đại, bền vững gắn với nhiệm vụ  bảo vệ  môi trường. Theo đó, đẩy mạnh áp  
dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất để  nâng cao năng suất lao động, chất lượng  
sản phẩm; giảm tiêu hao nguyên nhiên vật liệu, tiết kiệm năng lượng; tập trung xây 
dựng thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; huy động mọi  

Việt Nam hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào thông tin kế toán tài chính phục vụ 
cho việc lập các báo cáo tài chính. Việc cung cấp thông tin kế toán chi phí phục vụ cho  
việc ra các quyết định hay lập các kế hoạch sản xuất kinh doanh vẫn đang là vấn đề 
chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Điều này khiến cho các doanh nghiệp giấy 
ở  Việt Nam khó có thể  đứng vững trong môi trường cạnh tranh khu vực và thế  giới . 
Thêm vào đó, trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt vượt tầm biên giới 
quốc gia, KTQT chi phí ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nhà  
quản trị  ra các quyết định hiệu quả. Tăng cường hệ  thống KTQT chi phí trong các 
DNSX giấy nhằm hỗ trợ thông tin cho các nhà quản trị ra các quyết định là điều kiện  
cần thiết để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh của các  
doanh nghiệp. Do vậy, việc nghiên cứu  ảnh hưởng của các yếu tố  ngẫu nhiên đến  
việc áp dụng KTQT chi phí trong các DNSX giấy để  có các giải pháp tác động phù 
hợp giúp cho hệ thống KTQT chi phí trong các DNSX giấy được hoàn thiện trở thành 
yêu cầu và nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ lý luận và thực 
tiễn đó, tác giả  đã chọn nghiên cứu đề  tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong  
các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam” nhằm đáp  ứng nhu cầu thông tin cho các 
nhà quản lý trong môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt cũng như tăng cường  


3
khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước tác động của cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra  
một cách sâu rộng trên phạm vi toàn cầu.
2. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 
Nhân tố  quan trọng dẫn  đến sự  thành bại của các doanh nghiệp trên thương  
trường chính là thông tin cung cấp cho các nhà quản trị để từ đó đưa ra quyết định tối 
ưu trong SXKD. Nền tảng cơ bản để doanh nghiệp giữ vững và phát triển vị thế của  
mình trên thương trường chính là sử  dụng KTQT chi phí. Các nghiên cứu cơ  bản về 
KTQT chi phí đã được thực hiện từ rất sớm  tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển 
với các phương pháp quản trị  hiện đại, tiên tiến, sau đó được kế  thừa và phát triển 
trên nhiều phương diện tại nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

các phương án và phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát. Qua kết quả khảo sát tại  
các doanh nghiệp, các tác giả  nhận định 100% các doanh nghiệp chỉ phân loại chi phí 
theo yếu tố chi phí và theo khoản mục chi phí trong giá thành nhằm phục vụ cho việc 
hạch toán chi phí, tính giá thành sản phẩm và lập báo cáo tài chính. Cách phân loại này  
chưa thực sự giúp cho việc quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Từ  đó các tác giả đề 
xuất việc phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động để làm cơ sở cho  
việc thực hiện các chức năng lập kế  hoạch, kiểm soát và ra quyết định quản lý. Bên 
cạnh đó, các tác giả cũng đề xuất các doanh nghiệp trong ngành nghiên cứu vận dụng 
việc phân loại chi phí theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu phí để giúp nhà quản 
trị  có thể  đánh giá hiệu quả  hoạt động của từng đối tượng, từ  đó đưa ra được các 
quyết định phù hợp [22], [44]. 
2.1.2. Nghiên cứu về xây dựng định mức và lập dự toán chi phí
Song song với tầm quan trọng ngày càng tăng của các hoạt động KTQT trong  
việc đạt được mục tiêu tổ chức, các nghiên cứu tiến hành trong lĩnh vực KTQT chi phí 
đã tăng lên trong những năm 2000  ở  các thị  trường mới nổi tiếp nối các nghiên cứu 
tiến hành tại các thị trường đã phát triển. Các công trình này bao gồm phân loại chi phí, 
phân bổ chi phí, phương pháp tính giá thành sản phẩm (xác định chi phí theo công việc,  
xác định chi phí theo quá trình sản xuất, xác định chi phí dựa trên hoạt động), chi phí 
tiêu chuẩn, lập kế hoạch ngân sách, phân tích điểm hòa vốn và các chủ đề  khác trong  
KTQT chi phí. Nghiên cứu so sánh do Joshi (2001) tiến hành cho thấy rằng các công ty 
sản xuất  Ấn Độ  dựa rất nhiều vào kỹ  thuật KTQT truyền thống như  biến phí, ngân  
sách cho hoạt động hàng ngày, công cụ  lập ngân sách vốn, đánh giá hiệu suất lợi  
nhuận trên vốn đầu tư  và đánh giá hiệu suất. Tuy nhiên, tỷ  lệ  áp dụng các kỹ  thuật  
phát triển gần đây như  phân tích giá trị  cổ  phiếu, đánh giá hiệu suất (các biện pháp  
định tính), xác định chi phí theo chu kỳ  sống của sản phẩm, lập ngân sách theo hoạt 
động, phân tích chuỗi giá trị, đo điểm chuẩn và thẻ điểm cân bằng khá thấp và chậm  
[75]. 
Phạm Thị Thủy (2007) nghiên cứu về KTQT chi phí gắn với ngành sản xuất, đó 
là ngành sản xuất dược phẩm. Vấn đề  xây dựng định mức chi phí chưa được tác giả 
đề  cập trong hệ thống hóa về  mặt lý luận. Vấn đề  lập dự  toán chi phí được tác giả 

định mức thành định mức lý tưởng và định mức thực tế. Về  xây dựng định mức chi  
phí, tác giả  giới thiệu hai phương pháp là thống kê kinh nghiệm và kinh tế  kỹ  thuật.  
Doanh nghiệp có thể kết hợp cả hai phương pháp để đem lại hiệu quả cao hơn trong  
việc xây dựng hệ  thống định mức chi phí. Về  dự  toán chi phí, tác giả  trình bày hai  
phương pháp lập dự toán chi phí là lập từ trên xuống và lập từ dưới lên. Kết quả khảo 
sát tại các DNSX xi măng cho thấy các doanh nghiệp đã xây dựng định mức chi phí căn 
cứ  vào định mức kinh tế  kỹ  thuật của ngành và điều kiện sản xuất riêng của  doanh 
nghiệp. Hệ thống dự toán được lập dưới dạng dự toán tĩnh. Theo tác giả, để đảm bảo  
tính linh hoạt, chủ động trong kinh doanh, các DNSX xi măng cần lập cả dự toán linh  
hoạt bên cạnh việc lập dự toán tĩnh [28].


6
2.1.3. Nghiên cứu về phương pháp xác định chi phí
Đến thập kỉ 80 của thể kỷ XIX, các nghiên cứu về KTQT chi phí bắt đầu phát 
triển. Tuy nhiên,  ở  thời điểm đó thì vấn đề  đặt ra cho KTQT chi phí chủ  yếu chỉ  là 
tính toán, xác định được chi phí phát sinh để có biện pháp tiết kiệm chi phí. KTQT chi 
phí có những bước phát triển mới và bắt đầu được chuẩn hoá với sự ra đời của cuốn 
sách   “The   Cost   of   Manufactures   and   the   Administration   of   Workshops,   Public   and 
Private” của Henry Metcalfe năm 1885, đưa ra một phương pháp mới để kiểm soát sản 
xuất và một hệ thống kế toán mới dựa trên nguyên tắc trực tiếp phân bổ chi phí NVL  
và chi phí lao động theo công việc [66].
Đến thập niên 60 của thế kỷ XX, với sự phát triển mạnh mẽ của các nền kinh 
tế châu Âu – châu Á, đặc biệt là nền kinh tế Nhật Bản, cạnh tranh giữa các nền kinh 
tế  ngày càng gay gắt dẫn đến nhu cầu cần có một hệ  thống KTQT chi phí hiệu quả 
hơn, hiện đại hơn. KTQT chi phí không chỉ  cần thiết  ở  các đơn vị  sản xuất mà còn  
cần thiết trong các  doanh nghiệp  kinh doanh dịch vụ. Có nhiều phương pháp KTQT 
chi phí mới ra đời nhằm xác định chính xác hơn chi phí cho các đối tượng chịu chi phí  
như: Phương pháp chi phí mục tiêu, phương pháp chi phí tiêu chuẩn. Tác giả Monden,  
Y. và Hamada, K. (1991), Tanaka, T. (1993) cho thấy các phương pháp KTQT chi phí 

cho rằng phương pháp xác định chi phí hợp lý nhất là phương pháp chi phí mục tiêu. Ở 
giai đoạn triển khai, tăng trưởng, doanh nghiệp phải liên tục cải thiện chi phí thực tế 
sản xuất sản phẩm nên phương pháp hợp lý là phương pháp chi phí Kaizen. Cuối 
cùng, ở giai đoạn bão hòa và suy thoái, phương pháp chi phí thích hợp là phương pháp  
chi phí tiêu chuẩn [39]. Nguyễn Thị Mai Anh (2014) chỉ rõ mục tiêu của phương pháp 
xác định chi phí theo chu kỳ sản phẩm là xây dựng giá bán sản phẩm có khả  năng bù  
đắp tất cả  các chi phí phát sinh trong chuỗi giá trị  của sản phẩm đó [11]. Kết quả 
khảo sát tại các doanh nghiệp thuộc các đề  tài nghiên cứu của các tác giả  về  việc áp 
dụng phương pháp xác định chi phí cho thấy phương pháp hiện đại hầu như  chưa  
được áp dụng mà chỉ tập trung vào một số phương pháp truyền thống. Các tác giả đều 
đề xuất bên cạnh việc sử dụng phương pháp truyền thống, các doanh nghiệp cần căn 
cứ  vào đặc điểm tổ  chức bộ  máy quản lý và quy trình sản xuất mà kết hợp áp dụng 
phương pháp xác định chi phí hiện đại phù hợp để  nâng cao chất lượng thông tin chi 
phí cung cấp cho nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị   doanh nghiệp. Tác giả 
Lê Thị  Minh Huệ  (2016) đề  xuất các DNSX mía đường Thanh Hóa với đặc thù sản  
xuất theo quy trình khép kín, trải qua nhiều công đoạn nên cần tập hợp chi phí theo 
quá trình sản xuất kết hợp với phương pháp chi phí thực tế và định mức, từng bước áp 
dụng phương pháp chi phí Kaizen [27]. Đào Thúy Hà (2015) lại căn cứ vào đặc điểm  
về  tổ  chức quản lý và quy trình sản xuất của các DNSX thép để  đề  xuất áp dụng 
phương pháp xác định chi phí phù hợp, cụ thể: Đối với các doanh nghiệp có cơ cấu tổ 
chức bộ phận đơn giản và bộ phận chức năng tham gia 1 hoặc 2 giai đoạn trong chuỗi 
chế biến sẽ áp dụng phương pháp chi phí tiêu chuẩn; đối với các doanh nghiệp có cơ 
cấu tổ chức bộ phận chiến lược tham gia 2 giai đoạn trong chuỗi chế biến sẽ áp dụng  
phương pháp chi phí Kaizen; đối với các  doanh nghiệp  có cơ  cấu tổ  chức bộ  phận 
chiến lược tham gia 3­4 giai đoạn trong chuỗi chế  biến hoặc cơ  cấu bộ  phận chức  
năng – 3 giai đoạn sẽ  áp dụng thí điểm phương pháp ABC tại giai đoạn luyện thép,  


8
các giai đoạn khác vẫn áp dụng phương pháp chi phí Kaizen. Khi việc áp dụng phương  

bán thành phẩm  [11]…Hầu hết các nội dung phân tích trên cũng được tác giả  Đào 
Thúy Hà (2015) tập trung xem xét trong nghiên cứu về  Hoàn thiện KTQT chi phí trong 
các DNSX thép ở Việt Nam [21]. Nguyễn Phương Ngọc (2016) với quan điểm coi các 
trung tâm trách nhiệm chi phí là đối tượng quản trị  chi phí cho rằng việc phân tích 


9
thông tin chi phí thể hiện qua hai nội dung: (1) Đánh giá hiệu quả  hoạt động của các 
trung tâm trách nhiệm chi phí và (2) Phân tích thông tin chi phí cho việc ra quyết định 
tương lai. Tuy nhiên, kết quả khảo sát thực tế công tác phân tích chi phí tại các  doanh 
nghiệp kinh doanh nước sạch lại phản ánh công tác này chưa được coi trọng và còn 
khá đơn giản, chủ  yếu dưới dạng so sánh các chỉ  tiêu kinh tế  giữa thực tế  với kế 
hoạch. Tác giả đề xuất áp dụng lập báo cáo theo các nhóm định hướng hoạt động, so 
sánh kết quả  hoạt động và cung cấp thông tin chi phí cho việc ra quyết định để  đáp 
ứng yêu cầu cung cấp thông tin chi phí cho quản trị doanh nghiệp [33].
2.1.5. Nghiên cứu về báo cáo kế toán quản trị chi phí
Tác giả  Alfred D. Chandler Jr. (1977) trong nghiên cứu của mình cho thấy trong 
ngành luyện kim, KTQT chi phí được áp dụng từ  rất sớm. Andrew Carnegie – Một  
doanh nhân lớn của thế  kỉ  XIX đã áp dụng KTQT để  QLDN của mình từ  năm 1872. 
Dựa trên ý tưởng sử dụng chi phí như nhau thì phải tạo ra được lợi nhuận bằng nhau, 
ông đã chia doanh nghiệp của mình ra thành nhiều bộ  phận để  theo dõi và hạch toán.  
Carnegie sử  dụng báo cáo hàng tháng về chi phí vật tư  và nhân công sử  dụng  ở  từng  
bộ phận để kiểm soát và đánh giá hoạt động của chúng. Việc kiểm soát chất lượng và 
cơ cấu vật liệu cũng được thực hiện trong quá trình sản xuất. Bằng cách này Carnegie 
đã giảm được chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, phát huy hết các khả năng sản 
xuất và đưa ra được giá bán hợp lý. Không chỉ  trong ngành đường sắt, luyện kim, 
KTQT chi phí trong giai đoạn này còn được áp dụng cả  trong các ngành dầu khí, hoá 
chất và cơ khí chế tạo. Tuy nhiên, trong giai đoạn này các nhà quản trị  mới chỉ kiểm  
soát được các CPSX trực tiếp và các thông tin chi phí chủ  yếu tập trung vào làm thế 
nào để có lợi ích hơn đối với quản lý nội bộ [49]. 

thể hiện được mục đích và mong muốn của nhà quản trị trong việc theo dõi, phân tích, 
đánh giá các hoạt động SXKD của doanh nghiệp, đáp  ứng được các yêu cầu về  tính 
thích hợp, tính kịp thời và tính hiệu quả. Kết quả khảo sát tại các DNSX mía đường  
Thanh Hóa cho thấy báo cáo KTQT chi phí trong các  doanh nghiệp còn mang tính tự 
phát, chưa hệ thống và đồng bộ  và điều này làm ảnh hưởng đến thông tin KTQT chi  
phí cung cấp. Tác giả đề xuất các DNSX mía đường cần lập hệ thống báo cáo KTQT  
chi phí theo các nhóm: Báo cáo định hướng hoạt động kinh doanh, báo cáo quản trị 
phục vụ cho kiểm soát chi phí và báo cáo quản trị phục vụ cho việc ra quyết định [27].
Các nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu  
và trình bày các phương pháp và các mô hình KTQT hiện đại nhằm phục vụ thông tin 
cho quản trị  chi phí. Những nghiên cứu về  DNSX chủ  yếu liên quan đến hệ  thống 
quản lý chi phí và quản lý kiểm soát như  phương pháp Activity – Based Cost (ABC)  
với các nghiên cứu cụ thể như nghiên cứu của tác giả   Henry Quesada­Pineda (2010) ­ 
The ABCs of Cost Allocation in the Wood Products Industry [67], Ali Uyar (2010) ­ Cost 
and Management  Accounting  Practices: A  Survey of  Manufacturing Companies  [48], 
Nitin Kumar, Dalgobind Mahto (2013) ­ Current Trends of Application of Activity Based 
Costing (ABC) [85],…Như vậy, KTQT chi phí đã được các tác giả trên thế giới nghiên 
cứu từ rất sớm với nhiều góc độ khác nhau. 
Vấn đề   KTQT  chi phí  gắn với từng  ngành  được   nhiều tác   giả   trong  nước 
nghiên cứu như ngành Dược phẩm của các tác giả Phạm Thị Thủy (2007) – Xây dựng  


11
mô hình KTQT chi phí trong các DNSX dược phẩm Việt Nam  và  Nguyễn Thị  Bình 
(2018), Hoàn thiện kế toán quản trị  chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh dược  
phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, ngành Giống cây trồng của tác giả  Nguyễn Quốc  
Thắng (2011) – Tổ chức KTQT chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc  
ngành giống cây trồng Việt Nam; ngành Bánh kẹo của tác giả Nguyễn Hoản (2012) –  
Tổ chức KTQT chi phí trong các DNSX bánh kẹo của Việt Nam ; ngành May của các tác 
giả Hồ Mỹ Hạnh (2014) – Tổ chức hệ thống thông tin KTQT chi phí trong các doanh  

12
nhà quản trị, đó là lập dự toán SXKD, quản trị chi phí – giá thành, đánh giá thành quả 
hoạt động, hỗ trợ việc ra quyết định và hỗ trợ quản trị chiến lược. Để đạt được mục  
tiêu nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát 8 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực 
sản xuất giấy thành phẩm là Tổng công ty giấy Việt Nam và 7 doanh nghiệp liên kết 
phân bố ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Trên cơ sở khảo sát thực nghiệm, luận án đã 
đánh giá mức độ áp dụng KTQT tại các DNSX giấy thuộc phạm vi nghiên cứu, đồng  
thời xem xét vai trò của KTQT với tư  cách là công cụ  hỗ  trợ  cho quá trình quản lý  
trong  doanh nghiệp. Kết quả  nghiên cứu cho thấy mặc dù chủ  yếu dựa vào các kỹ 
thuật truyền thống, nhưng các kỹ  thuật hiện đại của KTQT cũng được các DNSX  
giấy bước đầu áp dụng  ở  mức độ  nhất định trên cả  5 nội dung cơ  bản của tổ  chức  
KTQT, gồm: KTQT chi phí, dự  toán SXKD, đánh giá thành quả, hỗ  trợ  ra quyết định  
và hỗ trợ quản trị chiến lược. Về kế toán quản trị chi phí, các đối tượng được hỏi đã  
sử dụng các kỹ thuật khác nhau của KTQT chi phí: Về phương pháp xác định chi phí 
sử dụng phổ biến là phương pháp xác định chi phí theo quá trình. Về phương pháp tính  
giá thành sản phẩm chủ yếu các doanh nghiệp áp dụng phương pháp toàn bộ. Về  hệ 
thống dự  toán SXKD, nhìn chung hệ  thống dự  toán SXKD đã được tổ  chức áp dụng 
tại các DNSX giấy, đáng chú ý có dự toán về sản phẩm sản xuất và dự toán CPSX sử 
dụng khá phổ biến. Tiếp theo là dự toán bán và dự toán mua. Dự toán báo cáo tài chính  
và dự toán lưu chuyển tiền tệ áp dụng khá hạn chế. Các loại dự toán được các  doanh 
nghiệp  lập chủ  yếu thực hiện theo phương pháp truyền thống dựa vào dữ  liệu quá  
khứ  là căn cứ để  lập, tiếp đó là dự  toán tĩnh. Phương pháp lập dự  toán hiện đại như 
dự toán linh hoạt chưa được quan tâm sử dụng. Nghiên cứu cũng chỉ  ra việc đánh giá 
cao vai trò của KTQT trong doanh nghiệp chính là nhân tố  quan trọng để  thúc đẩy áp 
dụng các kỹ  thuật KTQT hiện đại trong thời gian tới tại các DNSX giấy Việt Nam,  
phù hợp yêu cầu quản lý doanh nghiệp với lộ trình phát triển của ngành cũng như hội  
nhập quốc tế [16]. 
Watchaneeporn Setthasakko (2010) nghiên cứu về rào cản phát triển kế toán quản 
trị môi trường thông qua nghiên cứu thăm dò trong các công ty giấy và bột giấy ở Thái 
Lan. Mục đích của nghiên cứu này là cố gắng đạt được sự hiểu biết về nguyên nhân 

học tập trung xem xét các nhân tố  ảnh hưởng tới việc áp dụng KTQT nói chung. Tác 
giả cho rằng, KTQT chi phí là một bộ phận của hệ thống KTQT doanh nghiệp nên các 
nhân tố   ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT cũng sẽ  tác động đến việc áp dụng 
KTQT chi phí. Đồng thời, bằng phương pháp định tính và định lượng, các nghiên cứu 
đã xem xét và đánh giá các nhân tố   ảnh hưởng tới việc áp dụng KTQT nói chung và  
KTQT chi phí nói riêng ở nhiều khía cạnh khác nhau. 
Chenhall, R.H. & Langfield­Smith, K. (1998) trong một nghiên cứu về  vận dụng 
và lợi ích của thực hành KTQT tại các công ty sản xuất ở Australia đã giải thích lý do  
các công ty sản xuất lớn có tỷ lệ vận dụng KTQT hiện đại cao hơn, đó là sự tăng lên  
về quy mô tổ chức sẽ dẫn đến sự phức tạp của cơ chế quản lý nên đòi hỏi các doanh 
nghiệp lớn vận dụng các kỹ thuật KTQT phức tạp hơn. Các doanh nghiệp quy mô lớn 
thường có nhu cầu thông tin quản trị nhiều hơn cũng như có tiềm lực tài chính để tăng  
cường sử dụng các phương pháp KTQT phức tạp hơn [56].


14
Wu, Junjie and Boateng, Agyenim (2010) nghiên cứu các yếu tố   ảnh hưởng đến 
sự thay đổi trong thực tiễn KTQT Trung Quốc. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu 
sắc về  các yếu tố   ảnh hưởng đến sự  thay đổi trong thực tiễn  KTQT  Trung Quốc. 
Phân tích đa biến cho thấy quy mô của công ty, đối tác nước ngoài và trình độ  hiểu 
biết của các nhà quản lý và nhân viên kế toán có ảnh hưởng tích cực đến những thay  
đổi  trong  thực   tiễn  KTQT   của   các   liên  doanh  đối  tác   nước   ngoài.   Quy  mô   doanh 
nghiệp và mức độ kiến thức của các nhà quản lý cấp cao dường như ảnh hưởng đến  
những thay đổi trong thực tiễn KTQT. Tuy nhiên, không có sự hỗ trợ nào được đưa ra  
cho giả thuyết rằng Chính phủ Trung Quốc có ảnh hưởng đáng kể đến những thay đổi 
trong thực tiễn KTQT của các liên doanh và doanh nghiệp Nhà nước [106].
Ahmad, K. (2012) nghiên cứu về  việc thực hành KTQT trong các   doanh nghiệp 
vừa và nhỏ ở Malaysia. Nghiên cứu chỉ ra rằng cạnh tranh ngày càng tăng dẫn đến các 
doanh nghiệp phải sử dụng nguồn lực và ra quyết định hiệu quả  hơn, từ đó làm phát 
sinh nhu cầu thông tin phục  vụ  quản trị  doanh nghiệp. Do vậy, các phương pháp 

quản trị có ảnh hưởng quan trọng đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp. 
Ngoài nhu cầu thông tin, sự  ủng hộ của nhà quản trị trong việc tiếp cận các kỹ  thuật 
KTQT mới và vận dụng vào doanh nghiệp cũng là nhân tố tích cực ảnh hưởng đến sự 
vận dụng KTQT trong doanh nghiệp [78]. 
Anh, D. N. P. (2016) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng và 
hiệu quả của thực hành KTQT trong nền kinh tế chuyển đổi đã chỉ ra nhân tố cơ bản 
ảnh hưởng đến mức độ áp dụng KTQT của các doanh nghiệp Việt Nam, đó là mức độ 
cạnh tranh. Thông qua dữ liệu khảo sát từ 220 doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa 
và lớn, kết quả  nghiên cứu cho thấy có sự   ảnh hưởng tích cực của nhân tố  mức độ 
cạnh tranh đến việc sử dụng các công cụ KTQT hiện đại trong các doanh nghiệp [51]. 
Lê Thị  Hồng (2016) trong công trình nghiên cứu  Hoàn thiện hệ  thống thông tin  
KTQT chi phí trong các  doanh nghiệp  khai thác chế  biến đá  ốp lát  ở  Việt Nam   cho 
rằng để hệ thống thông tin KTQT chi phí thực sự hiệu quả đối với hoạt động SXKD 
của đơn vị, đáp ứng tối đa yêu cầu quản lý, khi xây dựng hệ thống thông tin KTQT chi 
phí cần tính đến các nhân tố   ảnh hưởng đến xây dựng hệ  thống thông tin KTQT chi  
phí để xây dựng một cách phù hợp nhất. Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu liên quan, 
luận án  đã đưa ra nhận định “Hệ  thống thông tin KTQT chi phí trong  doanh nghiệp 
chịu tác động bởi các nhân tố  chủ  quan và khách quan, trong đó hệ  thống thông tin  
KTQT chi phí chủ  yếu phục vụ  cho mục đích quản trị  trong đơn vị  nên nhân tố  chủ 
quan đóng vai trò quan trọng và có tính quyết định đến xây dựng cũng như  phát triển 
hệ thống thông tin KTQT chi phí trong doanh nghiệp”. Theo đó, tác giả tổng kết nhóm 
nhân tố chủ quan bao gồm: (1) Đặc điểm ngành nghề SXKD và tổ chức SXKD, (2) Cơ 
cấu, phân cấp quản lý trong đơn vị, (3) Nhận thức của nhà quản trị  về vai trò của hệ 
thống thông tin KTQT chi phí và (4) Trình độ trang bị máy móc thiết bị và trình độ đội  
ngũ nhân viên kế toán. Về nhóm nhân tố khách quan, tác giả đã tổng hợp kết quả của  
các công trình nghiên cứu với các nhân tố  cơ  bản sau: (1) Cơ  chế  chính sách và văn 
bản nhà nước quy định về công tác KTQT trong doanh nghiệp và (2) Điều kiện và môi 
trường kinh doanh. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng, tác 



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status