BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
TÔ MINH THU
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIẤY
VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
TÔ MINH THU
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GIẤY
VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 9.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS,TS. Đinh Thị Mai
CÁC
CHỮ
VIẾT
TẮT…………………………………………………..vi
DANH MỤC BẢNG………………………………...………………………………….vii
DANH
MỤC
SƠ
ĐỒ,
ĐỒ
Bảo hiểm y tế
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
CCDC
Công cụ dụng cụ
CGMA
Chartered Global Management Accountant
CIMA
Chartered Institute of Management Accountants
CMCN
Cách mạng công nghiệp
CPSX
Chi phí sản xuất
CTCP
Công ty cổ phần
Phiếu xuất kho
QLDN
Quản lý doanh nghiệp
SWOT
Strengths/Weaknesses/Opportunities/Threats
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TK
Tài khoản
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TSCĐ
Tài sản cố định
DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC........................................................................................................................ ii
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cùng với tác động của cuộc cách mạng
Kiểm tra các hệ số hồi quy trên mô hình cho thấy tất cả lớn hơn 0,75 (khá tốt). Kết quả mô hình
Model FIT cho thấy: CFI = 0,908; TLI=0,916 là tốt; RMSEA = 0,072 (nhỏ hơn 0,08) thỏa mãn
điều kiện mô hình phù hợp (phụ lục 1G.3)...............................................................................154
Kết quả ước lượng hồi quy giữa các biến quan sát trong từng biến tiềm ẩn tại
bảng 2.9 cho thấy, đối với các quan sát được giữ lại thì các biến này đều đạt
được mức ý nghĩa rất cao, tương ứng với P_value
vii
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cùng với tác động của cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0, có nhiều vấn đề các ngành kinh tế cũng như các doanh nghiệp sản
xuất phải quan tâm để chọn được mục tiêu và chiến lược kinh doanh đúng đắn. Hiện
nay, ngành công nghiệp sản xuất giấy là một trong những ngành được Chính phủ hết
sức quan tâm. Tuy nhiên, ngành công nghiệp sản xuất giấy đang phải đối mặt với
một loạt các thách thức để duy trì tính cạnh tranh trong một lĩnh vực mà chi phí
nguyên liệu và năng lượng chiếm một phần rất lớn trong chi phí sản xuất. Thách
thức lớn nhất hiện nay đó là giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả hoạt động cùng
với các phương pháp xanh hơn để sản xuất giấy với chất lượng tốt, đồng thời
tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về môi trường. Mặt khác, ngành công nghiệp sản
xuất giấy nước ta đang có nguy cơ thua ngay trên sân nhà khi Việt Nam tham gia hội
nhập kinh tế ngày càng sâu và rộng với khu vực và thế giới bởi giấy của các nước
trong khu vực như Thái Lan, Indonexia, Malaixia và các nước khác trên thế giới sẽ tràn
vào Việt Nam, đe dọa sự sống còn của các doanh nghiệp sản xuất giấy nội địa. Để
đứng vững và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam phải có
những biện pháp mang tính tổng lực nhằm tận dụng thời cơ và sức mạnh, đồng thời
khắc phục khó khăn và thách thức.
Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sản xuất giấy Việt Nam đến năm
2025 với quan điểm chủ đạo phát triển ngành công nghiệp sản xuất giấy theo hướng
hiện đại, bền vững gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Theo đó, đẩy mạnh áp
dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất để nâng cao năng suất lao động, chất lượng
sản phẩm; giảm tiêu hao nguyên nhiên vật liệu, tiết kiệm năng lượng; tập trung xây
dựng thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; huy động mọi
Việt Nam hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào thông tin kế toán tài chính phục vụ
cho việc lập các báo cáo tài chính. Việc cung cấp thông tin kế toán chi phí phục vụ cho
việc ra các quyết định hay lập các kế hoạch sản xuất kinh doanh vẫn đang là vấn đề
chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Điều này khiến cho các doanh nghiệp giấy
ở Việt Nam khó có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh khu vực và thế giới .
Thêm vào đó, trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt vượt tầm biên giới
quốc gia, KTQT chi phí ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nhà
quản trị ra các quyết định hiệu quả. Tăng cường hệ thống KTQT chi phí trong các
DNSX giấy nhằm hỗ trợ thông tin cho các nhà quản trị ra các quyết định là điều kiện
cần thiết để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh của các
doanh nghiệp. Do vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên đến
việc áp dụng KTQT chi phí trong các DNSX giấy để có các giải pháp tác động phù
hợp giúp cho hệ thống KTQT chi phí trong các DNSX giấy được hoàn thiện trở thành
yêu cầu và nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ lý luận và thực
tiễn đó, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong
các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam” nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho các
nhà quản lý trong môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt cũng như tăng cường
3
khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước tác động của cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra
một cách sâu rộng trên phạm vi toàn cầu.
2. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Nhân tố quan trọng dẫn đến sự thành bại của các doanh nghiệp trên thương
trường chính là thông tin cung cấp cho các nhà quản trị để từ đó đưa ra quyết định tối
ưu trong SXKD. Nền tảng cơ bản để doanh nghiệp giữ vững và phát triển vị thế của
mình trên thương trường chính là sử dụng KTQT chi phí. Các nghiên cứu cơ bản về
KTQT chi phí đã được thực hiện từ rất sớm tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển
với các phương pháp quản trị hiện đại, tiên tiến, sau đó được kế thừa và phát triển
trên nhiều phương diện tại nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.
các phương án và phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát. Qua kết quả khảo sát tại
các doanh nghiệp, các tác giả nhận định 100% các doanh nghiệp chỉ phân loại chi phí
theo yếu tố chi phí và theo khoản mục chi phí trong giá thành nhằm phục vụ cho việc
hạch toán chi phí, tính giá thành sản phẩm và lập báo cáo tài chính. Cách phân loại này
chưa thực sự giúp cho việc quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Từ đó các tác giả đề
xuất việc phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động để làm cơ sở cho
việc thực hiện các chức năng lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định quản lý. Bên
cạnh đó, các tác giả cũng đề xuất các doanh nghiệp trong ngành nghiên cứu vận dụng
việc phân loại chi phí theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu phí để giúp nhà quản
trị có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của từng đối tượng, từ đó đưa ra được các
quyết định phù hợp [22], [44].
2.1.2. Nghiên cứu về xây dựng định mức và lập dự toán chi phí
Song song với tầm quan trọng ngày càng tăng của các hoạt động KTQT trong
việc đạt được mục tiêu tổ chức, các nghiên cứu tiến hành trong lĩnh vực KTQT chi phí
đã tăng lên trong những năm 2000 ở các thị trường mới nổi tiếp nối các nghiên cứu
tiến hành tại các thị trường đã phát triển. Các công trình này bao gồm phân loại chi phí,
phân bổ chi phí, phương pháp tính giá thành sản phẩm (xác định chi phí theo công việc,
xác định chi phí theo quá trình sản xuất, xác định chi phí dựa trên hoạt động), chi phí
tiêu chuẩn, lập kế hoạch ngân sách, phân tích điểm hòa vốn và các chủ đề khác trong
KTQT chi phí. Nghiên cứu so sánh do Joshi (2001) tiến hành cho thấy rằng các công ty
sản xuất Ấn Độ dựa rất nhiều vào kỹ thuật KTQT truyền thống như biến phí, ngân
sách cho hoạt động hàng ngày, công cụ lập ngân sách vốn, đánh giá hiệu suất lợi
nhuận trên vốn đầu tư và đánh giá hiệu suất. Tuy nhiên, tỷ lệ áp dụng các kỹ thuật
phát triển gần đây như phân tích giá trị cổ phiếu, đánh giá hiệu suất (các biện pháp
định tính), xác định chi phí theo chu kỳ sống của sản phẩm, lập ngân sách theo hoạt
động, phân tích chuỗi giá trị, đo điểm chuẩn và thẻ điểm cân bằng khá thấp và chậm
[75].
Phạm Thị Thủy (2007) nghiên cứu về KTQT chi phí gắn với ngành sản xuất, đó
là ngành sản xuất dược phẩm. Vấn đề xây dựng định mức chi phí chưa được tác giả
đề cập trong hệ thống hóa về mặt lý luận. Vấn đề lập dự toán chi phí được tác giả
định mức thành định mức lý tưởng và định mức thực tế. Về xây dựng định mức chi
phí, tác giả giới thiệu hai phương pháp là thống kê kinh nghiệm và kinh tế kỹ thuật.
Doanh nghiệp có thể kết hợp cả hai phương pháp để đem lại hiệu quả cao hơn trong
việc xây dựng hệ thống định mức chi phí. Về dự toán chi phí, tác giả trình bày hai
phương pháp lập dự toán chi phí là lập từ trên xuống và lập từ dưới lên. Kết quả khảo
sát tại các DNSX xi măng cho thấy các doanh nghiệp đã xây dựng định mức chi phí căn
cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật của ngành và điều kiện sản xuất riêng của doanh
nghiệp. Hệ thống dự toán được lập dưới dạng dự toán tĩnh. Theo tác giả, để đảm bảo
tính linh hoạt, chủ động trong kinh doanh, các DNSX xi măng cần lập cả dự toán linh
hoạt bên cạnh việc lập dự toán tĩnh [28].
6
2.1.3. Nghiên cứu về phương pháp xác định chi phí
Đến thập kỉ 80 của thể kỷ XIX, các nghiên cứu về KTQT chi phí bắt đầu phát
triển. Tuy nhiên, ở thời điểm đó thì vấn đề đặt ra cho KTQT chi phí chủ yếu chỉ là
tính toán, xác định được chi phí phát sinh để có biện pháp tiết kiệm chi phí. KTQT chi
phí có những bước phát triển mới và bắt đầu được chuẩn hoá với sự ra đời của cuốn
sách “The Cost of Manufactures and the Administration of Workshops, Public and
Private” của Henry Metcalfe năm 1885, đưa ra một phương pháp mới để kiểm soát sản
xuất và một hệ thống kế toán mới dựa trên nguyên tắc trực tiếp phân bổ chi phí NVL
và chi phí lao động theo công việc [66].
Đến thập niên 60 của thế kỷ XX, với sự phát triển mạnh mẽ của các nền kinh
tế châu Âu – châu Á, đặc biệt là nền kinh tế Nhật Bản, cạnh tranh giữa các nền kinh
tế ngày càng gay gắt dẫn đến nhu cầu cần có một hệ thống KTQT chi phí hiệu quả
hơn, hiện đại hơn. KTQT chi phí không chỉ cần thiết ở các đơn vị sản xuất mà còn
cần thiết trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ. Có nhiều phương pháp KTQT
chi phí mới ra đời nhằm xác định chính xác hơn chi phí cho các đối tượng chịu chi phí
như: Phương pháp chi phí mục tiêu, phương pháp chi phí tiêu chuẩn. Tác giả Monden,
Y. và Hamada, K. (1991), Tanaka, T. (1993) cho thấy các phương pháp KTQT chi phí
cho rằng phương pháp xác định chi phí hợp lý nhất là phương pháp chi phí mục tiêu. Ở
giai đoạn triển khai, tăng trưởng, doanh nghiệp phải liên tục cải thiện chi phí thực tế
sản xuất sản phẩm nên phương pháp hợp lý là phương pháp chi phí Kaizen. Cuối
cùng, ở giai đoạn bão hòa và suy thoái, phương pháp chi phí thích hợp là phương pháp
chi phí tiêu chuẩn [39]. Nguyễn Thị Mai Anh (2014) chỉ rõ mục tiêu của phương pháp
xác định chi phí theo chu kỳ sản phẩm là xây dựng giá bán sản phẩm có khả năng bù
đắp tất cả các chi phí phát sinh trong chuỗi giá trị của sản phẩm đó [11]. Kết quả
khảo sát tại các doanh nghiệp thuộc các đề tài nghiên cứu của các tác giả về việc áp
dụng phương pháp xác định chi phí cho thấy phương pháp hiện đại hầu như chưa
được áp dụng mà chỉ tập trung vào một số phương pháp truyền thống. Các tác giả đều
đề xuất bên cạnh việc sử dụng phương pháp truyền thống, các doanh nghiệp cần căn
cứ vào đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và quy trình sản xuất mà kết hợp áp dụng
phương pháp xác định chi phí hiện đại phù hợp để nâng cao chất lượng thông tin chi
phí cung cấp cho nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp. Tác giả
Lê Thị Minh Huệ (2016) đề xuất các DNSX mía đường Thanh Hóa với đặc thù sản
xuất theo quy trình khép kín, trải qua nhiều công đoạn nên cần tập hợp chi phí theo
quá trình sản xuất kết hợp với phương pháp chi phí thực tế và định mức, từng bước áp
dụng phương pháp chi phí Kaizen [27]. Đào Thúy Hà (2015) lại căn cứ vào đặc điểm
về tổ chức quản lý và quy trình sản xuất của các DNSX thép để đề xuất áp dụng
phương pháp xác định chi phí phù hợp, cụ thể: Đối với các doanh nghiệp có cơ cấu tổ
chức bộ phận đơn giản và bộ phận chức năng tham gia 1 hoặc 2 giai đoạn trong chuỗi
chế biến sẽ áp dụng phương pháp chi phí tiêu chuẩn; đối với các doanh nghiệp có cơ
cấu tổ chức bộ phận chiến lược tham gia 2 giai đoạn trong chuỗi chế biến sẽ áp dụng
phương pháp chi phí Kaizen; đối với các doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức bộ phận
chiến lược tham gia 34 giai đoạn trong chuỗi chế biến hoặc cơ cấu bộ phận chức
năng – 3 giai đoạn sẽ áp dụng thí điểm phương pháp ABC tại giai đoạn luyện thép,
8
các giai đoạn khác vẫn áp dụng phương pháp chi phí Kaizen. Khi việc áp dụng phương
bán thành phẩm [11]…Hầu hết các nội dung phân tích trên cũng được tác giả Đào
Thúy Hà (2015) tập trung xem xét trong nghiên cứu về Hoàn thiện KTQT chi phí trong
các DNSX thép ở Việt Nam [21]. Nguyễn Phương Ngọc (2016) với quan điểm coi các
trung tâm trách nhiệm chi phí là đối tượng quản trị chi phí cho rằng việc phân tích
9
thông tin chi phí thể hiện qua hai nội dung: (1) Đánh giá hiệu quả hoạt động của các
trung tâm trách nhiệm chi phí và (2) Phân tích thông tin chi phí cho việc ra quyết định
tương lai. Tuy nhiên, kết quả khảo sát thực tế công tác phân tích chi phí tại các doanh
nghiệp kinh doanh nước sạch lại phản ánh công tác này chưa được coi trọng và còn
khá đơn giản, chủ yếu dưới dạng so sánh các chỉ tiêu kinh tế giữa thực tế với kế
hoạch. Tác giả đề xuất áp dụng lập báo cáo theo các nhóm định hướng hoạt động, so
sánh kết quả hoạt động và cung cấp thông tin chi phí cho việc ra quyết định để đáp
ứng yêu cầu cung cấp thông tin chi phí cho quản trị doanh nghiệp [33].
2.1.5. Nghiên cứu về báo cáo kế toán quản trị chi phí
Tác giả Alfred D. Chandler Jr. (1977) trong nghiên cứu của mình cho thấy trong
ngành luyện kim, KTQT chi phí được áp dụng từ rất sớm. Andrew Carnegie – Một
doanh nhân lớn của thế kỉ XIX đã áp dụng KTQT để QLDN của mình từ năm 1872.
Dựa trên ý tưởng sử dụng chi phí như nhau thì phải tạo ra được lợi nhuận bằng nhau,
ông đã chia doanh nghiệp của mình ra thành nhiều bộ phận để theo dõi và hạch toán.
Carnegie sử dụng báo cáo hàng tháng về chi phí vật tư và nhân công sử dụng ở từng
bộ phận để kiểm soát và đánh giá hoạt động của chúng. Việc kiểm soát chất lượng và
cơ cấu vật liệu cũng được thực hiện trong quá trình sản xuất. Bằng cách này Carnegie
đã giảm được chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, phát huy hết các khả năng sản
xuất và đưa ra được giá bán hợp lý. Không chỉ trong ngành đường sắt, luyện kim,
KTQT chi phí trong giai đoạn này còn được áp dụng cả trong các ngành dầu khí, hoá
chất và cơ khí chế tạo. Tuy nhiên, trong giai đoạn này các nhà quản trị mới chỉ kiểm
soát được các CPSX trực tiếp và các thông tin chi phí chủ yếu tập trung vào làm thế
nào để có lợi ích hơn đối với quản lý nội bộ [49].
thể hiện được mục đích và mong muốn của nhà quản trị trong việc theo dõi, phân tích,
đánh giá các hoạt động SXKD của doanh nghiệp, đáp ứng được các yêu cầu về tính
thích hợp, tính kịp thời và tính hiệu quả. Kết quả khảo sát tại các DNSX mía đường
Thanh Hóa cho thấy báo cáo KTQT chi phí trong các doanh nghiệp còn mang tính tự
phát, chưa hệ thống và đồng bộ và điều này làm ảnh hưởng đến thông tin KTQT chi
phí cung cấp. Tác giả đề xuất các DNSX mía đường cần lập hệ thống báo cáo KTQT
chi phí theo các nhóm: Báo cáo định hướng hoạt động kinh doanh, báo cáo quản trị
phục vụ cho kiểm soát chi phí và báo cáo quản trị phục vụ cho việc ra quyết định [27].
Các nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu
và trình bày các phương pháp và các mô hình KTQT hiện đại nhằm phục vụ thông tin
cho quản trị chi phí. Những nghiên cứu về DNSX chủ yếu liên quan đến hệ thống
quản lý chi phí và quản lý kiểm soát như phương pháp Activity – Based Cost (ABC)
với các nghiên cứu cụ thể như nghiên cứu của tác giả Henry QuesadaPineda (2010)
The ABCs of Cost Allocation in the Wood Products Industry [67], Ali Uyar (2010) Cost
and Management Accounting Practices: A Survey of Manufacturing Companies [48],
Nitin Kumar, Dalgobind Mahto (2013) Current Trends of Application of Activity Based
Costing (ABC) [85],…Như vậy, KTQT chi phí đã được các tác giả trên thế giới nghiên
cứu từ rất sớm với nhiều góc độ khác nhau.
Vấn đề KTQT chi phí gắn với từng ngành được nhiều tác giả trong nước
nghiên cứu như ngành Dược phẩm của các tác giả Phạm Thị Thủy (2007) – Xây dựng
11
mô hình KTQT chi phí trong các DNSX dược phẩm Việt Nam và Nguyễn Thị Bình
(2018), Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh dược
phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, ngành Giống cây trồng của tác giả Nguyễn Quốc
Thắng (2011) – Tổ chức KTQT chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc
ngành giống cây trồng Việt Nam; ngành Bánh kẹo của tác giả Nguyễn Hoản (2012) –
Tổ chức KTQT chi phí trong các DNSX bánh kẹo của Việt Nam ; ngành May của các tác
giả Hồ Mỹ Hạnh (2014) – Tổ chức hệ thống thông tin KTQT chi phí trong các doanh
12
nhà quản trị, đó là lập dự toán SXKD, quản trị chi phí – giá thành, đánh giá thành quả
hoạt động, hỗ trợ việc ra quyết định và hỗ trợ quản trị chiến lược. Để đạt được mục
tiêu nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát 8 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
sản xuất giấy thành phẩm là Tổng công ty giấy Việt Nam và 7 doanh nghiệp liên kết
phân bố ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Trên cơ sở khảo sát thực nghiệm, luận án đã
đánh giá mức độ áp dụng KTQT tại các DNSX giấy thuộc phạm vi nghiên cứu, đồng
thời xem xét vai trò của KTQT với tư cách là công cụ hỗ trợ cho quá trình quản lý
trong doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù chủ yếu dựa vào các kỹ
thuật truyền thống, nhưng các kỹ thuật hiện đại của KTQT cũng được các DNSX
giấy bước đầu áp dụng ở mức độ nhất định trên cả 5 nội dung cơ bản của tổ chức
KTQT, gồm: KTQT chi phí, dự toán SXKD, đánh giá thành quả, hỗ trợ ra quyết định
và hỗ trợ quản trị chiến lược. Về kế toán quản trị chi phí, các đối tượng được hỏi đã
sử dụng các kỹ thuật khác nhau của KTQT chi phí: Về phương pháp xác định chi phí
sử dụng phổ biến là phương pháp xác định chi phí theo quá trình. Về phương pháp tính
giá thành sản phẩm chủ yếu các doanh nghiệp áp dụng phương pháp toàn bộ. Về hệ
thống dự toán SXKD, nhìn chung hệ thống dự toán SXKD đã được tổ chức áp dụng
tại các DNSX giấy, đáng chú ý có dự toán về sản phẩm sản xuất và dự toán CPSX sử
dụng khá phổ biến. Tiếp theo là dự toán bán và dự toán mua. Dự toán báo cáo tài chính
và dự toán lưu chuyển tiền tệ áp dụng khá hạn chế. Các loại dự toán được các doanh
nghiệp lập chủ yếu thực hiện theo phương pháp truyền thống dựa vào dữ liệu quá
khứ là căn cứ để lập, tiếp đó là dự toán tĩnh. Phương pháp lập dự toán hiện đại như
dự toán linh hoạt chưa được quan tâm sử dụng. Nghiên cứu cũng chỉ ra việc đánh giá
cao vai trò của KTQT trong doanh nghiệp chính là nhân tố quan trọng để thúc đẩy áp
dụng các kỹ thuật KTQT hiện đại trong thời gian tới tại các DNSX giấy Việt Nam,
phù hợp yêu cầu quản lý doanh nghiệp với lộ trình phát triển của ngành cũng như hội
nhập quốc tế [16].
Watchaneeporn Setthasakko (2010) nghiên cứu về rào cản phát triển kế toán quản
trị môi trường thông qua nghiên cứu thăm dò trong các công ty giấy và bột giấy ở Thái
Lan. Mục đích của nghiên cứu này là cố gắng đạt được sự hiểu biết về nguyên nhân
học tập trung xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng KTQT nói chung. Tác
giả cho rằng, KTQT chi phí là một bộ phận của hệ thống KTQT doanh nghiệp nên các
nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT cũng sẽ tác động đến việc áp dụng
KTQT chi phí. Đồng thời, bằng phương pháp định tính và định lượng, các nghiên cứu
đã xem xét và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng KTQT nói chung và
KTQT chi phí nói riêng ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Chenhall, R.H. & LangfieldSmith, K. (1998) trong một nghiên cứu về vận dụng
và lợi ích của thực hành KTQT tại các công ty sản xuất ở Australia đã giải thích lý do
các công ty sản xuất lớn có tỷ lệ vận dụng KTQT hiện đại cao hơn, đó là sự tăng lên
về quy mô tổ chức sẽ dẫn đến sự phức tạp của cơ chế quản lý nên đòi hỏi các doanh
nghiệp lớn vận dụng các kỹ thuật KTQT phức tạp hơn. Các doanh nghiệp quy mô lớn
thường có nhu cầu thông tin quản trị nhiều hơn cũng như có tiềm lực tài chính để tăng
cường sử dụng các phương pháp KTQT phức tạp hơn [56].
14
Wu, Junjie and Boateng, Agyenim (2010) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến
sự thay đổi trong thực tiễn KTQT Trung Quốc. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu
sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi trong thực tiễn KTQT Trung Quốc.
Phân tích đa biến cho thấy quy mô của công ty, đối tác nước ngoài và trình độ hiểu
biết của các nhà quản lý và nhân viên kế toán có ảnh hưởng tích cực đến những thay
đổi trong thực tiễn KTQT của các liên doanh đối tác nước ngoài. Quy mô doanh
nghiệp và mức độ kiến thức của các nhà quản lý cấp cao dường như ảnh hưởng đến
những thay đổi trong thực tiễn KTQT. Tuy nhiên, không có sự hỗ trợ nào được đưa ra
cho giả thuyết rằng Chính phủ Trung Quốc có ảnh hưởng đáng kể đến những thay đổi
trong thực tiễn KTQT của các liên doanh và doanh nghiệp Nhà nước [106].
Ahmad, K. (2012) nghiên cứu về việc thực hành KTQT trong các doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở Malaysia. Nghiên cứu chỉ ra rằng cạnh tranh ngày càng tăng dẫn đến các
doanh nghiệp phải sử dụng nguồn lực và ra quyết định hiệu quả hơn, từ đó làm phát
sinh nhu cầu thông tin phục vụ quản trị doanh nghiệp. Do vậy, các phương pháp
quản trị có ảnh hưởng quan trọng đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp.
Ngoài nhu cầu thông tin, sự ủng hộ của nhà quản trị trong việc tiếp cận các kỹ thuật
KTQT mới và vận dụng vào doanh nghiệp cũng là nhân tố tích cực ảnh hưởng đến sự
vận dụng KTQT trong doanh nghiệp [78].
Anh, D. N. P. (2016) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng và
hiệu quả của thực hành KTQT trong nền kinh tế chuyển đổi đã chỉ ra nhân tố cơ bản
ảnh hưởng đến mức độ áp dụng KTQT của các doanh nghiệp Việt Nam, đó là mức độ
cạnh tranh. Thông qua dữ liệu khảo sát từ 220 doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa
và lớn, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự ảnh hưởng tích cực của nhân tố mức độ
cạnh tranh đến việc sử dụng các công cụ KTQT hiện đại trong các doanh nghiệp [51].
Lê Thị Hồng (2016) trong công trình nghiên cứu Hoàn thiện hệ thống thông tin
KTQT chi phí trong các doanh nghiệp khai thác chế biến đá ốp lát ở Việt Nam cho
rằng để hệ thống thông tin KTQT chi phí thực sự hiệu quả đối với hoạt động SXKD
của đơn vị, đáp ứng tối đa yêu cầu quản lý, khi xây dựng hệ thống thông tin KTQT chi
phí cần tính đến các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng hệ thống thông tin KTQT chi
phí để xây dựng một cách phù hợp nhất. Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu liên quan,
luận án đã đưa ra nhận định “Hệ thống thông tin KTQT chi phí trong doanh nghiệp
chịu tác động bởi các nhân tố chủ quan và khách quan, trong đó hệ thống thông tin
KTQT chi phí chủ yếu phục vụ cho mục đích quản trị trong đơn vị nên nhân tố chủ
quan đóng vai trò quan trọng và có tính quyết định đến xây dựng cũng như phát triển
hệ thống thông tin KTQT chi phí trong doanh nghiệp”. Theo đó, tác giả tổng kết nhóm
nhân tố chủ quan bao gồm: (1) Đặc điểm ngành nghề SXKD và tổ chức SXKD, (2) Cơ
cấu, phân cấp quản lý trong đơn vị, (3) Nhận thức của nhà quản trị về vai trò của hệ
thống thông tin KTQT chi phí và (4) Trình độ trang bị máy móc thiết bị và trình độ đội
ngũ nhân viên kế toán. Về nhóm nhân tố khách quan, tác giả đã tổng hợp kết quả của
các công trình nghiên cứu với các nhân tố cơ bản sau: (1) Cơ chế chính sách và văn
bản nhà nước quy định về công tác KTQT trong doanh nghiệp và (2) Điều kiện và môi
trường kinh doanh. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng, tác