HOÀN THIỆN kế TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG các DOANH NGHIỆP dệt MAY của VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 34

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
----------

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA XÉT
GIẢI THƯỞNG

“GIẢI THƯỞNG TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
ĐỀ TÀI:

“HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY CỦA
VIỆT NAM HIỆN NAY”
Thuộc nhóm ngành khoa học:
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Lan

Nam/Nữ: Nữ

Dân tộc: Kinh
Lớp, khoa: CQ47/21.07

Khoa:Kế toán

Năm thứ: 4

Số năm đào tạo:4

Ngành học: Kế toán doanh nghiệp
Người hướng dẫn: TS. Trần Thị Ngọc Hân

HÀ NỘI – 4/2013

Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất của công ty TNHH may Đức Giang...................38
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Công ty TNHH may Đức Giang......................40
CHƯƠNG 3:.............................................................................................................65
MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI
PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY..........................................................65
PHẦN KẾT LUẬN.....................................................................................................79


DANH MỤC SƠ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
PHẦN NỘI DUNG......................................................................................................4
CHƯƠNG 1:...............................................................................................................4
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT....................................................................................................4
1.3.TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VỀ CHI PHÍ.......................................................30
1.3.1. Tổ chức kế toán quản trị về chi phí theo chức năng của nhà quản trị.......................30
Theo chức năng của kế toán quản trị, kế toán quản trị về chi phí được tổ chức theo các nội
dung cụ thể:............................................................................................................... 30
Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất của công ty TNHH may Đức Giang...................38
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Công ty TNHH may Đức Giang......................40
CHƯƠNG 3:.............................................................................................................65
MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI
PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY..........................................................65
PHẦN KẾT LUẬN.....................................................................................................79


HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC
HIỆN ĐỀ TÀI


Sơ lược thành tích học tập: đạt học bổng “PVFC – Thắp sáng niềm tin” của Tổng
công ty cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam cả năm
*Năm thứ hai:
Ngành học: kế toán doanh nghiệp

Khoa: Kế toán

Kết quả xếp loại học tập:
Kỳ III: Giỏi

Kỳ IV: Giỏi


Sơ lược thành tích học tập: đạt học bổng “PVFC – Thắp sáng niềm tin” của Tổng
công ty cổ phần Tài chính Dầu khí Việt Nam cả năm
*Năm thứ 3:
Ngành học: kế toán doanh nghiệp

Khoa: Kế toán

Kết quả xếp loại học tập:
Kỳ V:

Giỏi

Kỳ VI: Khá

Sơ lược thành tích học tập:
- Đạt học bổng “PVFC – Thắp sáng niềm tin” của Tổng công ty cổ phần Tài chính
Dầu khí Việt Nam cả năm



1
ĐỂ TÀI:
“HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP DỆT MAY TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY”
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

T

rong nền kinh tế thị trường, kế toán được coi là ngôn ngữ kinh doanh, là
phương tiện giao tiếp giữa doanh nghiệp với các đối tượng liên quan đến
doanh nghiệp. Kế toán cung cấp các thông tin kinh tế tài chính hữu ích cho

các đối tượng trong việc ra quyết định kinh tế hợp lý và hiệu quả. Trong những năm
gần đây xu hướng toàn cầu hoá, hợp tác và phát triển giữa các loại hình doanh nghiệp
ở nước ta khá đa dạng và phong phú đã cho phép nhiều nhà đầu tư hoạt động. Vì vậy
đòi hỏi thông tin kế toán quản trị phải đưa ra được các quyết định đúng đắn trong
tương lai. Do đó nhu cầu thông tin cho quá trình quản lý sản xuất kinh doanh cần được
quan tâm thích đáng.
Trong xu thế này, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp
ngành dệt may nói riêng chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài. Để
tồn tại và phát triển, việc tổ chức công tác thu thập, xử lý thông tin kinh tế có ý nghĩa
quan trọng trong việc đề ra các quyết định trong quá trình quản lý, trong đó thông tin kế
toán là một nguồn thông tin quan trọng. Thông tin về kế toán quản trị chi phí là thông tin
do kế toán cung cấp có vai trò quan trọng trong việc hoạch định chiến lược phát triển
của doanh nghiệp. Do đó, việc tính toán đúng, đủ, kịp thời các thông tin chi phí không
chỉ là mối quan tâm của những người làm công tác kế toán, các nhà quản lý trong việc
ra quyết định mà còn là mối quan tâm của những người lao động, nhà đầu tư, ngân hàng

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong công trình bao gồm tổng hợp nhiều
phương pháp: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các phương pháp của thông kê, tổng
hợp, phân tích trên cơ sở đó đưa ra những nội dung cần hoàn thiện phù hợp với thực tế
tại các doanh nghiệp dệt may.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Công trình đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận về kế toán quản
trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn: Khảo sát thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các doanh
nghiệp dệt may Việt Nam. Phân tích ưu điểm, chỉ ra những mặt còn tồn tại của công
tác kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp dệt may. Từ đó đề xuất nội dung hoàn
thiện kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp này nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả kinh doanh
6. Kết cấu của công trình nghiên cứu


3
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí trong các
doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam
Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí
trong các doanh nghiệp dệt may.


4
PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI
PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

việc ra quyết định kinh doanh ở các tình huống khác nhau. Chi phí cũng có thể là
những phí tổn ước tính hoặc dự kiến trước để thực hiện một hoạt động sản xuất kinh
doanh, một hợp đồng kinh tế. Chi phí cũng có thể là những phí tổn mất đi do chọn lựa
phương án này thay cho phương án khác (ví dụ chi phí cơ hội thường không có đủ
chứng từ pháp lý)… Như vậy, trong kế toán quản trị, khi nhận thức chi phí cần chú ý
đến sự lựa chọn, so sánh theo mục đích sử dụng, ra quyết định kinh doanh hơn là chỉ
chú trọng vào chứng từ đảm bảo tính pháp lý như trong kế toán tài chính.
Đặc điểm chi phí
Trong kế toán quản trị, chi phí có hai đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, chi phí luôn gắn liền với việc ra quyết định của nhà quản trị nên nó đi
vào tất cả các khâu từ khâu lập kế hoạch đến khâu thực hiện kế hoạch, kiểm tra và
phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, rồi lại tiếp khâu lập kế hoạch cho chu
kỳ hoạt động tiếp theo. Quyết định trong kế toán quản trị rất đa dạng về thời gian
(tuần, tháng, quý, năm...) phạm vi thực hiện (tổ, phân xưởng, bộ phận, toàn doanh
nghiệp) tùy thuộc vào mục đích của việc ra quyết định. Trong ngắn hạn, các nhà quản
trị thường phải ra các quyết định như quyết định tiếp tục hoặc loại bỏ kinh doanh một
bộ phận, quyết định tự sản xuất hay mua ngoài, quyết định nên bán ngay nửa thành
phẩm hay tiếp tục sản xuất ra thành phẩm rồi mới bán và các quyết trong điều kiện sản
xuất kinh doanh bị giới hạn...
Thứ hai, chi phí là những phí tổn gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh. Nó
đi vào mọi giai đoạn trên góc độ, khía cạnh của sử dụng nguồn lực. Tìm hiểu đặc điểm
của chi phí để kiểm soát chi phí đạt mục tiêu hiệu lực, kinh tế và hiệu quả. Nếu kế toán
tài chính cung cấp những thông tin quá khứ để chứng minh chi phí đã phát sinh như
thế nào? (hậu kiểm) Đó là những thông tin về quá khứ thì kế toán quản trị tập trung
vào kiểm soát chi phí trước khi nó phát sinh, vào nguồn gốc, nguyên nhân chi phí đó
phát sinh. Nó cung cấp thông tin tương lai để dự báo luồng vận động của các nguồn
lực và ngăn ngừa những rủi ro cho nhà quản trị (tiền kiểm). Để hiểu rõ hơn về đặc
điểm chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất cần quan tâm, xem xét trong từng giai
đoạn hoạt động của doanh nghiệp sản xuất. Hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm
bốn giai đoạn:

phí ngắn hạn biến đổi phức tạp qua các kỳ sản xuất và gắn liền với các quyết
định, trách nhiệm mà nhà quản trị trong nhiệm kỳ quản lý.
Giai đoạn 4 – giai đoạn tiêu thụ thường phát sinh chi phí lưu thông tiếp thị do sử
dụng các nguồn lực chiến lược, chính sách tiêu thụ tại doanh nghiệp. Chi phí tiêu thụ
đang có xu hướng gia tăng dần về giá trị, tỷ trọng theo quy mô, các phương thức quản
lý sản xuất kinh doanh. Chi phí tiêu thụ không phải là chi phí đặc trưng trong doanh
nghiệp sản xuất mà nó tồn tại hầu hết ở tất cả các doanh nghiệp.


7
Ngoài những chi phí phát sinh ở các giai đoạn trên, trong quá trình hoạt động các
doanh nghiệp sản xuất luôn phát sinh chi phí quản lý, điều hành, kiểm soát chung toàn
doanh nghiệp. Loại chi phí này phát sinh phụ thuộc vào quy mô, trình độ tổ chức quản
lý của doanh nghiệp và tình hình tiêu dùng các nguồn lực.
Như vậy, chi phí sẽ được vốn hoá thành những tài sản ở giai đoạn đầu; trong giai
đoạn sản xuất, tài sản chuyển hoá vào giá thành sản xuất trong đó một phần sẽ chuyển
vào giá vốn hàng bán, một phần tồn tại ở hàng tồn kho; trong giai đoạn tiêu thụ, tài sản
chuyển hoá thành chi phí bán hàng; trong quá trình quản lý tài sản chuyển hoá thành
chi phí quản lý hành chính và chi phí chỉ được bù đắp bằng thu nhập. Sự phát sinh và
chuyển hoá của chi phí ngày càng nhanh chóng, phức tạp và luôn gắn liền với những
chi phí thực tế và chi phí cơ hội mà điều quản tâm ở đây cần phải thu thập đúng, chính
xác, kịp thời chi phí thực tế và hạn chế bớt những chi phí cơ hội để tạo tiền đề cho các
quyết định quản trị hợp lý và hiệu quả trong môi trường kinh doanh có nhiều biến
động nhanh chóng.
I.1.2. Vai trò, chức năng và mục đích của kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị là kế toán theo chức năng quản lý, vì vậy vai trò của kế toán
quản trị chi phí là cung cấp thông tin về chi phí hữu ích liên quan đến việc lập kế
hoạch tổ chức, điều hành hoạt động, kiểm tra và ra quyết định.
-


nhận diện các vấn đề hạn chế cần có điều chỉnh, thay đổi nhằm đạt được mục tiêu đã
xác định.
-

Cung cấp thông tin chi phí cho quá trình ra quyết định:
Trước nhiều phương án khác nhau để thực hiện một hoạt động, nhà quản trị phải

quyết định lựa chọn phương án hợp lý nhất, tốt nhất. Vậy dựa vào đâu, mà các nhà
quản trị có thể đưa ra các quyết định đúng đắn? Nguồn số liệu thông tin cung cấp cho
việc ra quyết định quản lý có thể từ nhiều nguồn khác nhau, song nguồn số liệu thông
tin quan trọng và hữu hiệu đó chính là thông tin về chi phí chi tiết và cụ thể do kế toán
quản trị viên cung cấp theo yêu cầu của các nhà quản trị doanh nghiệp. Các thông tin
về chi phí này phải linh hoạt, kịp thời và mang tính hệ thống dưới dạng đồ thị, biểu đồ,
mô hình toán học… từ đó nhà quản trị có thể xử lý nhanh chóng.
Chức năng quan trọng của kế toán là cung cấp thông tin. Kế toán quản trị chi phí
có chức năng cung cấp thông tin chi tiết, cụ thể về chi phí cho các nhà quản lý làm cơ
sở cho việc ra quyết định điều hành, quản lý một cách đúng đắn, hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp hiện tại và tương lai.
Cũng cần nhận thức rằng thông tin của kế toán quản trị chi phí là thông tin không
chỉ về quá khứ, hiện tại và tương lai.
Chức năng cung cấp thông tin chi phí của kế toán quản trị chi phí xuất phát từ
bản chất và mục đích của kế toán quản trị chi phí. Sản phẩm cuối cùng của kế toán
quản trị chi phí là số liệu thông tin rất cụ thể mà các nhà quản trị doanh nghiệp yêu cầu
phục vụ cho việc ra quyết định quản lý. Như vậy, mục đích của kế toán quản trị la thu
nhận, xử lý và cung cấp thông tin thích hợp cho việc ra quyết định quản trị doanh
nghiệp.
Tóm lại, vai trò, chức năng và mục đích của kế toán quản trị chi phí luôn thể
hiện, gắn liền với việc thực hiện các chức năng và mục đích của hoạt động quản lý
doanh nghiệp.


các cách phân loại chi phí sản xuất kinh doanh riêng. Dưới góc độ cung cấp thông tin
hữu ích phục vụ cho việc ra quyết định, kế toán quản trị tập trung vào các cách phân
loại sau đây:
1.2.1.1.

Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động
(hay theo cách ứng xử của chi phí)

Hầu hết các nhà quản trị của doanh nghiệp đều muốn biết khi thay đổi mức độ
hoạt động của mình thì mức chi phí sẽ ảnh hưởng như thế nào? Để tính toán và biết
được các thông tin về chi phí trong trường hợp này thì phải phân loại chi phí của
doanh nghiệp theo mối quan hệ chi phí với mức độ hoạt động. Trên cơ sở phân loại chi
phí theo cách này thì nhà quản trị nhận diện được từng khoản mục chi phí thuộc loại
chi phí nào?
Theo tiêu thức này, chi phí trong kỳ kế toán bao gồm biến phí, định phí và chi
phí hỗn hợp. Tuy nhiên trong dài hạn, theo tiêu thức này chi phí chỉ bao gồm biến
phí và định phí.
Biến phí


10
Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu
thụ, số giờ máy vận hành… Biến phí hay còn gọi là chi phí biến đổi đó là khoản chi phí
nếu xét về tổng số sẽ thường tỷ lệ (tỷ lệ chỉ trong một pham vi hoạt động) với mức độ
hoạt động, nhưng nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động biến phí là một hằng số…
Như vậy, biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động, khi không có hoạt động biến phí bằng
không.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí năng
lượng… là những chi phí mà khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp tăng hay giảm
thì tổng số sẽ tăng giảm theo, nhưng nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động là sản

tiết kiệm nhất cho phép trong từng phạm vi.

Định phí (Fixed costs)
Trong doanh nghiệp sản xuất, luôn luôn xuất hiện các chi phí như chi phí khấu
hao, chi phí thuê nhà xưởng, chi phí quảng cáo … những chi phí này luôn tồn tại và mức
độ sản xuất kinh doanh tăng lên thì mức phí trên một đơn vị sản phẩm sẽ giảm dần. Đó là
định phí. Vậy, định phí được hiểu là những chi phí mà xét về tổng số ít thay đổi hoặc
không thay đổi theo mức độ hoạt động nhưng nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động
thì tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động. Do đó, dù doanh nghiệp có hoạt động hay không
hoạt động thì vẫn tồn tại định phí; ngược lại, khi doanh nghiệp tăng mức độ hoạt động thì
định phí trên một đơn vị mức độ hoạt động sẽ giảm dần. Tuy nhiên, những đặc điểm trên
của định phí chỉ thích hợp trong từng phạm vi nhất định. Một khi mức độ hoạt động vượt
khỏi giới hạn nhất định thì nó có thể xuất hiện những thay đổi đột biến.
Nếu đi sâu nghiên cứu hơn, định phí gồm định phí bắt buộc và định phí không
bắt buộc:
Định phí bắt buộc (Conmitted fixed costs)
Định phí bắt buộc là những loại chi phí liên quan đến sử dụng tài sản dài hạn như
khấu hao tài sản cố định, chi phí bảo dưỡng…
Hai đặc điểm cơ bản của định phí bắt buộc là:
-

Chúng tồn tại lâu dài trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.

-

Chúng không thể cắt giảm toàn bộ trong một thời gian ngắn.

Với những đặc điểm trên, việc dự báo và kiểm soát định phí bắt buộc từ lúc khởi
đầu xây dựng, triển khai dự án, xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp phải

liền với kế hoạch dài hạn và là mức chi phí chịu sự ràng buộc, ổn định trong
nhiều năm.

-

Trong trường hợp cần thiết, có thể cắt bỏ định phí không bắt buộc trong một
thời gian ngắn nhưng vấn đề này không thể tiến hành với định phí bắt buộc.

Giữa định phí không bắt buộc với biến phí cấp bậc có sự khác nhau sau:
-

Biến phí cấp bậc có thể điều chỉnh, thay đổi rất nhanh khi các điều kiện sản
xuất kinh doanh thay đổi. Trong khi đó, định phí không bắt buộc đã được xác
định thì khó thay đổi hơn, mặc dù bản chất của nó là có thể điều chỉnh hành
vi quản trị trong từng năm.

-

Khi mức độ hoạt động tăng giảm thì biến phí cấp bậc tăng giảm theo nhưng
định phí tuỳ ý không nhất thiết phải tăng giảm.

Chi phí hỗn hợp (Mixed costs)
Chi phí hỗn hợp là những chi phí bao gồm hỗn hợp cả biến phí và định phí. Ở
một mức độ hoạt động nào đó, chi phí hỗn hợp là định phí, thể hiện đặc điểm của định


13
phí; ở một mức độ hoạt động khác, nó gồm cả định phí và biến phí, thể hiện đặc điểm
của định phí và biến phí.
Những chi phí hỗn hợp như vậy tồn tại rất nhiều trong một doanh nghiệp như chi

việc sử dụng thông tin chi phí.
Mục đích phân loại chi phí theo tiêu thức này là giúp cho việc thiết kế, xây dựng
mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận, xác định
điểm hoà vốn cũng như ra các quyết định kinh doanh. Mặt khác, còn giúp các nhà
quản trị doanh nghiệp xác định đúng đắn phương hướng để nâng cao hiệu quả của chi


14
phí. Ngoài ra, còn nhằm mục đích để xây dựng dự toán chi phí, soạn thảo bản dự toán
để nhà quản trị dự báo chi phí sẽ phát sinh ở từng mức sản xuất và tiêu thụ khác nhau.
Đồng thời, để kiểm soát chi phí nhà quản trị cũng cần biết được chi phí sẽ phát sinh
bao nhiêu ứng với các mức hoạt động theo dự kiến của doanh nghiệp.
Sự lựa chọn cơ cấu biến phí, định phí trong tổng chi phí của doanh nghiệp:
Sự phát triển của môi trường kinh doanh đã tạo nên một áp lực rất lớn đến gia tăng
định phí trong hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, trong tương lai các nhà quản trị phải
lựa chọn cơ cấu biến phí, định phí trong tổng chi phí của doanh nghiệp làm sao cho phù
hợp là một trong những quyết định quan trọng. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng quốc gia,
lãnh thổ và giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà có các quyết sách phù hợp. Chúng
ta có thể lựa chọn cơ cấu biến phí nhiều hơn định phí khi doanh nghiệp bị hạn hẹp về
nguồn vốn, nơi kinh doanh có nhiều nguồn tài nguyên rẻ…Ngược lại, nếu chúng ta có
một nguồn vốn lớn, nơi kinh doanh không có nhiều nguồn nguyên liệu tài nguyên rẻ,
nguồn lao động rẻ thì phải xây dựng kết cấu chi phí với định phí lớn hơn. Đây chính là
sự lựa chọn thích hợp nhất cho sự phát triển kinh tế xã hội và chính sự lựa chọn này
cũng tạo cho doanh nghiệp một sự cạnh tranh tốt hơn chính sách toàn cầu hoá.
Như vậy, tiêu thức phân loại chi phí này giúp cho nhà quản trị thấy được cách
thức ứng xử từng loại chi phí giúp cho họ có cách nhìn và quyết định tốt hơn khi có sự
thay đổi về mức độ hoạt động.
1.2.1.2.

Phân loại chi phí vào tính chất kiểm soát

vấn đề quan trọng đối với nhà quản trị, giúp nhà quản trị hoạch được ngân sách chi phí
chính xác hơn tạo điều kiện hạn chế tình trạng bị động về vốn và trách nhiệm quản lý.
Do đó khi xác định, câu hỏi đặt ra không phải là “ai kiểm soát chi phí?” mà là “ai ở vị
trí có thể tác động đến khoản chi phí?”.
1.2.1.3.

Phân loại chi phí phục vụ cho việc hoạch định, lựa chọn phương án

Để phục vụ cho việc hoạch định, lựa chọn phương án có thể chia chi phí phát
sinh thành chi phí chênh lệch, chi phí cơ hội và chi phí chìm. Việc nhận diện chi phí
chênh lệch, chi phí cơ hội và chi phí chìm nhằm cung cấp các thông tin về các loại chi
phí phục vụ cho nhà quản trị trong lựa chọn các phương án quyết định kinh doanh.
Chi phí chênh lệch
Các nhà quản trị thường phải đứng trước sự so sánh, lựa chọn những phương án
khác nhau, quyết định sẽ được hình thành chủ yếu dựa trên cơ sở chi phí của từng
phương án. Những chi phí có trong phương án này nhưng lại không có hoặc chỉ có
một phần trong phương án kia, tạo nên chênh lệch chi phí. Chi phí chênh lệch là những
thông tin hữu ích để người quản lý thấy được sự khác biệt giữa chi phí và các lợi ích
của mỗi phương án, giúp lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất. Nó luôn là thông tin
thích hợp trong quá trình xem xét lựa chọn ra quyết định kinh doanh tốt nhất.
Chi phí chìm


16
Tiền thuê nhà xưởng là chi phí mà nhà quản trị phải chấp nhận trả hằng năm dù
tiến hành phương thức sản xuất kinh doanh nào khi đã ký hợp đồng thuê và chấp nhận
thanh toán chi phí thuê trong nhiều năm. Tiền thuê nhà xưởng trong trường hợp trên là
chi phí chìm. Có thể khái quát về chi phí chìm: “Chi phí chìm là những chi phí đã phát
sinh và luôn luôn xuất hiện trong tất cả các quyết định của nhà quản trị hoặc trong các
phương án sản xuất kinh doanh khác nhau”. Chi phí chìm không phải là định phí mà


17
xuất thường chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng chi phí. Tuy nhiên, chúng dễ được
nhận dạng, hoạch toán chính xác, thuận lợi cho việc kiểm soát chi phí, xác định
nguyên nhân biến động chi phí. Do đó, cũng ít gây ra sự sai lệch thông tin chi phí ở
từng bộ phận, từng quá trình sản xuất kinh doanh.
Chi phí gián tiếp
Chi phí gián tiếp là những chi phí chung phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng
chi phí khác nhau, gồm chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhân công phụ, chi phí
quảng cáo… Do liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí khác nhau nên nguyên
nhân gây ra chi phí gián tiếp và đối tượng chi phí rất khó nhận dạng. Vì vậy, các chi
phí gián tiếp thường phải tập hợp chung, sau đó lựa chọn tiêu thức phân bổ nhất định.
Mặt khác, mỗi loại chi phí gián tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí. Tuy nhiên, mỗi
đối tượng chịu chi phí thường chỉ phù hợp với một tiêu thức phân bổ nhất định. Mặt
khác, mỗi đối loại chi phí gián tiếp có thể chỉ liên quan đến đối tượng chịu chi phí này
nhưng lại không hề liên quan đến đối tượng chi phí khác. Và cũng chính vì điều này
mà viêc tính toán, phân bổ chi phí chung theo cùng một tiêu thức hay dẫn đến những
sai lệch chi phí trong từng loại sản phẩm, từng bộ phận, từng quá trình sản xuất kinh
doanh và có thể dẫn đến những quyết định khác nhau của nhà quản trị.
Các phân loại chi phí này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật quy nạp chi phí vào đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất. Đặt ra yêu cầu về việc lựa chọn các tiêu thức phân bổ
chi phí để đảm bảo thông tin về độ chính xác về chi phí, lợi nhuận của từng loại hoạt
động, từng loại sản phẩm, dịch vụ.
Mặt khác, cách phân loại chi phí này còn giúp cho việc ra quyết định trong các
tình huống khác nhau. Đối với nhà quản trị, chi phí trực tiếp thường mang tính có thể
tránh được, nghĩa là chi phí này phát sinh và mất đi cùng với cùng vơi sự phát sinh và
mất đi của một hoạt động hay sản phẩm cụ thể. Ví dụ, nếu ngừng sản xuất sản phẩm
A có thể giảm được chi phí nguyên liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp…
Ngược lại, chi phí gián tiếp như chi phí sản xuất chung thường không thể tránh được
vì chúng phát sinh để phục vụ từ ít nhất hai hoạt động hoặc hai sản phẩm trở lên. Vì


-

chi phí cụ thể trong doanh nghiệp.
Hệ thống tài khoản kế toán này phải do doanh nghiệp tự xây dựng, phục vụ
cho nhiệm vụ tính chi phí kinh doanh và phải đảm bảo tính bí mật về thông
tin kinh tế của doanh nghiệp.

Để tính được chi phí kinh doanh cho từng điểm chi phí, thông thường người ta
thiết kế các tài khoản kế toán – điểm chi phí.
Phương pháp sử dụng bảng
Khác với phương pháp truyền thống, tính chi phí kinh doanh theo phương pháp
sử dụng bảng là phương pháp sử dụng các bảng tính chi phí kinh doanh để thực hiện
các phép tính toán, phân bổ chi phí kinh doanh chung cho các điểm chi phí cụ thể.


19
Phương pháp này chỉ sử dụng số liệu ghi chép ban đầu của kế toán tài chính để
tập hợp các loại chi phí kinh doanh cụ thể ở bước tính chi phí kinh doanh theo loại.
Sau đó ở bước tính chi phí kinh doanh theo điểm sẽ sử dụng các kết quả đã tính được ở
bước tính chi phí kinh doanh theo loại đưa vào bảng tính chi phí kinh doanh thích hợp
để thực hiện các phép phân bổ chi phí kinh doanh chung cũng như tiến hành các tính
toán và kết luận cần thiết tại bảng tính chi phí kinh doanh.
Như thế, theo phương pháp này, doanh nghiệp sẽ phải thiết kế một hệ thống các
bảng tính chi phí kinh doanh thích hợp. Thiết kế bảng tính chi phí kinh doanh là công
việc mà doanh nghiệp chủ động tiến hành. Thông thường, từ điểm chi phí lớn hơn
điểm chi phí (nơi làm việc của mỗi điểm chi phí) sẽ hình thành một bảng tính chi phí
kinh doanh.
1.2.2.2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status