SKKN: Một số biện pháp dạy từ vựng cho học sinh tiểu học bằng việc học từ mới qua các bài khóa - Pdf 58

I.PHẦN MỞ ĐẦU
1.  Lý do chọn đề tài. 

     Đường lối quan điểm của Đảng và nhà nước ta đã xác định mục tiêu của giáo  
dục là đào tạo con người toàn diện để  đáp  ứng yêu cầu chung của đất nước ­ 
công nghiệp hóa hiện đại hóa. Trong đó, ngoại ngữ  ­ Tiếng Anh là một trong  
những ngôn ngữ  có vai trò như  một phương tiện tích cực hỗ  trợ  hiệu quả  nhất  
cho quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng của nước nhà. Vì vậy nâng cao chất  
lượng giáo dục nói chung và chất lượng bộ  môn Tiếng Anh nói riêng là một 
trong những mối quan tâm hàng đầu của sự  nghiệp giáo dục hiện nay. Và điều 
đó được đặt biệt chú trọng hơn cho các đối tượng là học sinh ở  bậc tiểu học ­  
Người mới bắt đầu tiếp cận với ngoại ngữ.
Để thực hiện mục tiêu này cần có hỗ trợ  của Đảng, nhà nước, ngành giáo dục, 
nhất là đội ngũ các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh học sinh góp sức.
     Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, vai trò của từ vựng cũng hết sức quan trọng.  
Có thể thấy một ngôn ngữ là tập hợp của các từ vựng. Không thể hiểu ngôn ngữ 
mà không hiểu biết từ vựng,hoặc qua các đơn vị bài học. Nhưng điều đó không 
phải chỉ hiểu những từ đơn lẻ, độc lập với nhau mà chỉ  có thể  năm vững được 
ngôn ngữ thông qua mối quan hệ biện chứng giữa các đơn vị từ vựng. Như vậy 
việc học từ  vựng và rèn luyện kỹ  năng sử  dụng từ  vựng là yếu tố  hàng đầu 
trong việc truyền thụ  và tiếp thu một ngôn ngữ  nói chung và và tiếng Anh nói  
riêng.
      Vì từ vựng là một ngôn ngữ nên nó được thể hiện giữa hai hình thức: Lời nói  
và chữ viết. Muốn sử  dụng được ngôn ngữ  đó tức là phải nắm vững hình thức 
biểu đạt của từ bằng lời nói hay chữ viết. Song do có mối liên quan của từ vựng  
với các yếu tố khác trong ngôn ngữ  ( ngữ pháp, ngữ  âm, ngữ  điệu..) hoặc trong 
tình huống giao tiếp cụ thể ta thấy từ vựng là các “ viên gạch” còn ngữ pháp và 
các yếu tố ngôn ngữ khác được coi như những “mạch vữa” để xây lên thành môt 
ngôi nhà “ ngôn ngữ”.
11/22/2019Confidential


học tập của các em. Nó trang bị  cho các em vốn từ  vựng, ngữ  pháp và những 
mẫu câu tối thiểu, cơ  bản, đơn giản nhất xoay quanh những chủ  điểm rất gần  
gũi, được các em yêu thích và quen thuộc, là những chủ  điểm giới thiệu bản 
11/22/2019Confidential

Page 

2


thân, chủ  điểm trường lớp bạn bè, chủ  điểm gia đình, và chủ  điểm khác (thế 
giới xung quanh các em). Chính vì thế  việc gây hứng thú và củng cố  kiến thức 
cho học sinh là một việc vô cùng quan trọng thường xuyên. Bởi điều này  ảnh 
hưởng rất nhiều đến động cơ học tập của học sinh, một yếu tố tác động cơ bản 
đến quá trình học một ngôn ngữ: Không có động cơ  trẻ  sẽ  không học ­ và việc  
củng cố  kiến thức còn làm khắc sâu hơn những ngữ  liệu đã học trong các tiết 
học một cách có hệ thống, làm nền tảng vững chắc giúp các em học tốt hơn, tự 
tin hơn trong quá trình học tập sau này. 
     Để  chất lượng môn học của các em đạt kết quả  tốt nhất thì không phải là 
một chuyện dễ  dàng. Vậy làm thế  nào để  các em hình thành và phát triển kỹ 
năng học tập toàn diện nhất ? Làm thế  nào để  các em yêu mến, khắc sâu vốn  
kiến thức văn hóa nước ngoài ? Bằng hình thức nào giúp học sinh nắm bài vững  
mà không nhàm chán, phải thật sự  lôi cuốn, tạo không khí vui tươi thoải mái 
trong giờ  học, gây hứng thú cho học sinh  khi tiếp thu văn hoá nước ngoài mà 
bản thân các em chưa biết được chút gì.
   Ngày nay trên những phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện rất nhiều trò 
chơi truyền hình thu hút đông đảo khán giả, nhất là khán giả  trẻ  tuổi như  học  
sinh, sinh viên.
   Tất cả những trò chơi, chương trình ca nhạc truyền hình, nếu được hỏi: “Hãy  
kể  tên các trò chơi, chương trình ca nhạc truyền hình mà em biết?” Các em sẽ 

Hiện nay tình trạng xao lãng việc học, học sinh học đối phó học vẹt mà không 
biết tự học, học sinh yếu kém khá nhiều. Làm thế nào để  khắc phục tình trạng  
này ? Làm thế  nào để  thu hút học sinh chú tâm vào việc học là vấn đề  đòi hỏi  
người làm giáo dục, các thầy cô tâm huyết với nghề, hội đồng sư  phạm nhà 
trường quan tâm hàng đầu, luôn nỗ lực đề ra kế hoạch, chương trình, hình thức,  
cải tiến phương pháp để  dạy và học tốt hơn, nâng cao chất lượng và hiệu quả 
giáo dục.
Trong nhà trường phổ  thông hiện nay, cũng giống như  các bộ  môn khác ,việc 
dạy và học Tiếng  Anh đang diễn ra cùng với sự đổi mới phương pháp giáo dục,  
cải cách sách giáo khoa, giảm nội dung chương trình học nhằm làm phù hợp với 
nhận thức của học sinh, làm cho học sinh tiếp cận với các nội dung, kiến thức  
11/22/2019Confidential

Page 

4


hiện đại. Vốn từ vựng tiếng Anh trong trương trình học cũng được sử dụng phù 
hợp với sự phát triển chung của xã hội.
     Trước hết, xuất phát từ  đối tượng giảng dạy là học sinh ở  lứa tuổi từ  6­12  
về hiểu biết về xã hội chưa có do vậy vốn từ  vựng dạy cho các em ở  cấp học  
này thường phải được kết hợp với các kỹ  năng dạy học phù hợp để  gây hứng  
thú cho học sinh. Bên cạnh đó việc dạy và học tiếng Anh trong nhà trường còn  
diễn ra trong môi trường giao tiếp giữa thầy và trò còn nhiều hạn chế. Số lượng  
học sinh  ở  mỗi lớp rất đông, nhiều lớp tới 35 học sinh.Trình độ  nhận thức có 
nhiều cấp độ  khác nhau phương tiện giảng dạy còn thiếu thốn…Điều này làm 
ảnh hưởng không nhỏ tới việc rèn kĩ năng cho học sinh và sự phân bố thời gian  
cho từng phần nội dung bài sao cho phù hợp từng loại bài giảng( thực hành, kĩ 
năng) cũng là một tác động tới việc lựa chọn, nghiên cứu và áp dụng kĩ năng dạy 

sinh tiếp tục học lên những lớp cao hơn hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham  
gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. 
Chương   trình   giáo   dục   phổ   thông   ban   hành   kèm   theo   quyết   định   số 
16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo 
cũng đã nêu:“Phải phát huy tính tích cực, tự  giác, chủ  động, sáng tạo của học 
sinh , phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện 
từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự  học, khả  năng hợp tác,  
rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem 
lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
a. Thuận lợi :
     ­ Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi về cơ 
sở  vật chất và tài liệu chuyên môn phục vụ  cho việc giảng dạy bộ  môn : bộ 
tranh giáo trình Let’s go, máy cassette, máy chiếu Overhead …..
     ­ Chính quyền địa phương và các đoàn thể trong và ngoài nhà trường luôn hỗ 
trợ giáo viên trong quá trình công tác.
    ­ Bản thân giáo viên bộ môn luôn nhận được sự  hỗ trợ từ các giáo viên cùng  
tổ chuyên môn và các đồng nghiệp.
11/22/2019Confidential

Page 

6


     ­ Đa số các em học sinh trong lớp đều yêu thích học Tiếng Anh và chuẩn bị 
tốt sách vở, đồ dùng cho việc học tập.
      ­ Phần lớn phụ  huynh học sinh luôn quan tâm và tạo điều kiện để  con em 
mình học tập.
b. Khó khăn:

một đoạn hội thoại hay một bài khoá. Tuy nhiên, nói đến cùng thì việc dạy và  
học ngoại ngữ vẫn là việc dạy từ mới như thế nào ? Dạy cấu trúc câu mới như 
thế  nào để  học sinh biết. cách sử  dụng từ  mới và cấu trúc mới trong giao tiếp  
bằng tiếng nước ngoài.Theo khảo sát cho thấy  nếu chúng ta áp dụng phương 
pháp cũ để  giảng dạy từ  mới học sinh tiếp thu bài chậm khả  năng nhớ  từ  khó  
hơn và chóng quên.Học sinh học một cách thụ  động ép buộc không có hứng  
thú.Điều này dẫn tới chất lượng tiết học không đảm bảo.
*Đánh giá.
Ngay từ đầu, giáo viên cần xem xét các thủ thuật khác nhau cho từng bước  
xử lý từ vựng trong các ngữ cảnh mới : gợi mở, dạy từ, kiểm tra và củng cố  từ 
vựng.
­Có nên dạy tất cả những từ mới không ? Dạy bao nhiêu từ trong một tiết thì  
vừa.
­ Dùng sẵn mẫu câu đã học hoặc sắp học để giới thiệu từ mới.
­ Dùng tranh ảnh, dụng cụ trực quan để giới thiệu từ mới .
­ Đảm bảo cho học sinh nắm được cấu trúc , vận dụng từ vựng vào cấu trúc 
để hoàn thiện chức năng giao tiếp, thiết lập mối quan hệ giữa cấu trúc mới và 
vốn từ đã có.
­ Khắc sâu vốn từ  trong trí nhớ  của học sinh thông qua các mẫu câu và qua  
những bài tập thực hành.Qua việc nghiên cứu tình trạng dạy và học từ vựng tôi  
đưa ra một số giải pháp sau.
2.2.Các giải pháp.
a.Những vấn đề cần quan tâm trong quá trình dạy từ.
­Trước mỗi bài học giáo viên cần chuẩn bị tranh ảnh liên quan đến từng bài học 
lên tường hai bên phòng học để  học sinh dễ  nhìn và dễ  nhận biết chúng đang 

11/22/2019Confidential

Page 


­ Giới thiệu bài mới.
11/22/2019Confidential

Page 

9


­ Hỏi các câu hỏi phù hợp cho các mục đích dạy học khác nhau.
­ Điều khiển các bài tập luyện.
­ Kiểm tra mức độ nắm bắt, hiểu bài của học sinh.
­ Tạo cơ hội thực hành sử dụng ngữ liệu mới.
­ Điều hành các hoạt động học tập của học sinh.
­ Củng cố dạy lại bài khi cần thiết.
Hiểu biết thêm về  vai trò của người thày giáo giúp giáo viên có cơ  sở  để  xem  
xét, phối hợp với kinh nghiệm bản thân để chủ động xác định cho mình một vai 
trò phù hợp với từng giai đoạn học tập sao cho có thể phát huy được tối đa năng  
lực của học sinh và đem lại hiệu quả dạy và học cao nhất.  
c. Mục tiêu và đặc điểm cần đạt trong phần giới thiệu từ mới.
1. Lựa chọn từ để dạy:
Tiếng Anh là một môn học có tầm quan trọng, nó là công cụ để giao tiếp  
với các nước trên thế giới. Muốn giao tiếp tốt đòi hỏi chúng ta phải có một vốn 
từ phong phú.
Ở  môi trường phổ  thông hiện nay, khi nói đến ngữ  liệu mới là chủ  yếu 
nói đến ngữ  pháp và từ  vựng, từ  vựng và ngữ  pháp luôn có mối quan hệ  khắng 
khít với nhau, luôn được dạy phối hợp để làm rõ nghĩa của nhau. Tuy nhiên dạy 
và giới thiệu từ  vựng là vấn đề  cụ  thể. Thông thường trong một bài học luôn 
xuất hiện những từ mới, xong không phải từ mới nào cũng cần đưa vào để dạy. 
Để chọn từ cần dạy, giáo viên cần xem xét những vấn đề:
      ­ Từ chủ động   (active vocabulary)

sinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn phải dạy cho học sinh.
      ­ Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản nhưng khó so với trình độ  của 
học sinh, thì nó không thuộc nhóm từ  tích cực, do đó bạn nên giải thích rồi cho  
học sinh hiểu nghĩa từ đó ngay.
      ­ Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu văn bản và cũng không khó lắm  
thì bạn nên yêu cầu học sinh đoán nghĩa của từ.
2 Các thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới:
 Giáo viên có thể  dùng một số  thủ  thuật gợi mở  giới thiệu từ mới, giúp  
các em học sinh tiếp thu từ một cách chủ động như:                               
* Visual (nhìn) :
11/22/2019Confidential

Page 

11


Cho học sinh nhìn tranh  ảnh hoặc vẽ phác hoạ cho các em nhìn, giúp giáo  
viên ngữ nghĩa hoá từ một cách nhanh chóng.
* Mine (điệu bộ): 
           Thể hiện qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ.
 Ex :
Unit 6: How ‘s the weather ?
­sunny, windy, rainy, snowy, hot, cold, hungy, thirsty
* Realia (vật thật)
              Dùng những dụng cụ trực quan mà thực tế có được.
        Ex: 
        
 Để  dạy các từ  về  rau, củ, quả  , bánh kem, thịt ,cá,…giáo viên nên sưu tầm  
vật thật học tranh ảnh để minh họa cho bài giảng của mình.                        

      Giáo viên cung cấp một số câu và yêu cầu học sinh chọn lựa câu trả 
lời đúng nhất có liên quan đến từ sắp được học.
3. Các thủ thuật kiểm tra và củng cố từ mới:
Sau khi từ  vựng đã được dạygiáo viên cần tổ  chức cho học sinh thực hành, ôn 
luyện thường xuyên các từ  đã được học, đồng thời luôn có những hình thức 
kiểm tra xem học sinh đã hiểu đúng chưa đểkịp thời só những bài dạy bổ sung.
Quá trình này là quá trình thường xuyên và lâu dài, không nhất thiết phải xảy ra 
trong một tiết dạy. Tuy nhiên cũng có những bài tập quá trú trọng riêng cho phần 
học từ. có thể hình dung quá trình quá trình dạy và học từ qua 4 giai đoạn sau:
­Giới thiệu từ
­Thực hành
­Kiểm tra
­Ôn luyện củng cố.
Chúng ta biết rằng chỉ  giới thiệu từ  mới thôi chưa đủ, mà chúng ta còn 
phải thực hiện các bước kiểm tra và củng cố từ mới ngay tại lớp. Các thủ thuật  
kiểm tra và củng cố sẽ khuyến khích học sinh học tập tích cực và hiệu quả hơn.

11/22/2019Confidential

Page 

13


* Có rất nhiều thủ thuật để kiểm tra từ
     * CHECKING TECHNIQUES FOR VOCABULARY
  

Rub out and 
Remember

tranh gồm nhiều chi tiết khác nhau cho học sinh quan sát từ 1 đến 2 phút .Sau đó 
không cho học sinh nhìn nữa và phải viết lại những gì đã quan sát được.
Cùng với hiện vật này giáo viên, giáo viên cá thể  đổi vật, vị  trí hoặc màu sắc. 
Sau đó học sinh phải nói lại, phát hiện xem có những thay đổi gì.
2. Kim’s game
    Giáo viên đọc to hoăc viết lên bảng 10 từ thuộc các loại từ khác nhau, sau đó  
xoá bảng , yêu cầu học sinh đếm từ25 xuống 1, sau đó viết lại 10 từ  đã nghe  
hoặc nhìn.
3.Finding the right word.
4. Brainstorming.
5.Find things which / Find people who….
6. Gap­ filling.
7. Matching.
8. Multiple choice.
9. Collocation grid.
5. Các trò chơi về từ vựng.
   Để học từ, ngoài những bài tập luyện còn có những trò chơi để luyện từ vựng. 
Sau đây là một số trò chơi phổ biến có thể dùng trong lớp học.
      1.An ice breaker.
   ­Chia lớp thành hai nhóm nhỏ .
   ­ Chọn một nhóm từ nào đó
    Eg: hungry, thirsty,hot, cold, cool…
­Yêu cầu học sinh tự giới thiệu tên mình và dùng một từ trong số đó để đặt câu.
2. Life key words.
­ Hỏi học sinh ngày của hôm nay.
Eg: What date is it today?
­Sau đó hỏi tiếp tục ngày của 7 năm trước.
11/22/2019Confidential

Page 

Minerals: vật dụng, nguyên liệu .
Vegetables: thực vật, rau quả.
11/22/2019Confidential

Page 

16


­ Cả lớp sẽ đoán vật đó bằng cách chỉ được hỏi bạn A các câu hỏi đúng sai ( yes  
– no questions ). Tối đa là 20 câu hỏi để tìm câu trả lời.
6. Biện pháp tổ chức thực hiện:
 * Các bước tiến hành giới thiệu từ mới:
Để giới thiệu từ mới, giáo viên dạy cho học sinh theo bốn kỹ năng :
            + Nghe: Giáo viên đọc mẫu, học sinh lắng nghe.
            + Nói: Giáo viên đọc từ, học sinh đọc lại.
            + Đọc: Giáo viên viết từ lên bảng, học sinh đọc từ bằng mắt, bằng miệng
            + Viết: Học sinh viết từ vào tập.
             ­ Bước giới thiệu bài, giới thiệu chủ  đề: đây là bước khá quan trọng 
trong việc dạy            từ vựng. Bước này sẽ  quyết định sự  thành công của tiết 
học, nó sẽ gợi mở cho học sinh liên tưởng đến những từ sắp học qua chủ điểm  
vừa mới được giới thiệu. Điều quan trọng nhất trong giới thiệu từ  mới là phải  
thực hiện theo trình tự: nghe, nói, đọc, viết. Đừng bao giờ bắt đầu từ hoạt động 
nào khác “nghe”. Hãy nhớ  lại quá trình học tiếng mẹ  đẻ  của chúng ta, bao giờ 
cũng bắt đầu bằng nghe, bắt chước phát âm rồi mới tới những hoạt động khác. 
Hãy giúp cho học sinh của bạn có một thói quen học từ mới một cách tốt nhất:
          ­ Bước 1: “nghe”, bạn cho học sinh nghe từ mới bằng cách đọc mẫu.
           ­ Bước 2: “nói”, sau khi học sinh đã nghe được ba lần bạn mới yêu cầu học sinh 
nhắc lại. Khi cho học sinh nhắc lại , bạn cần chú ý cho cả  lớp nhắc lại trước,  
sau đó mới gọi cá nhân

 *  H
  ướng dẫn học sinh học từ vựng ở nhà: 
Thời gian học ở trường rất ít, cho nên đa phần thời gian còn lại ở gia đình 
các em phải tự tổ chức hoạt động học tập của mình. Vì thế, ngay từ đầu từ năm  
học, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách học từ mới. học từ mới có rất nhiều  
cách.
Ex:  Hôm nay gv hướng dần học sinh  học 10 từ về nhà ngày đầu tiên hs  
học 5 từ ngày thứ  2 học 5 từ cũ và 5 từ  tiếp theo (ôn lại từ  cũ ) và cứ  như  vậy  
ngày nào học sinh cũng ôn tập thì sẽ  thuộc từ  rất nhanh do vậy viêc học tập  ở 
nhà thật quan trọng. 
7. Sườn giáo án minh họa :
­Trước khi soạn giáo án giáo viên cần nắm vững vấn đề liên quan đến một  
giờ học.
11/22/2019Confidential

Page 

18


­ Đối tượng học sinh : lứa tưổi, trình độ chung , vốn kiến thức và kĩ năng đã có,  
điểm mạnh điểm yếu, sở thích, tâm lý…
­Nội dung yêu cầu bài học: Trọng tâm ngôn ngữ (cấu trúc, từ vựng), các kĩ năng 
sẽ học. Đảm bảo nắm chắc kiến thức sẽ dạy và sử  dụng được thành thạo vốn  
kiến thức đó.
­ Môi trường, điều kiện dạy học: trường lớp, cách bố  trí bàn ghế, các phương  
tiện có trong phòng họ.
­ Các thủ thuật dạy học và bản chất của các hoạt động trên lớp.
­Sử dụng thành thạo các phương tiện trực quan và các phương tiện dạy học sẽ 
dùng vào bài.

­ What are they talking  about ? 

2. Point, ask and answer
Eg: Picture a.
What subject is it? / Do you like it?
 How often do you have it?
+ Vocabulary
Translator, difficult,best
+ Checking vocab: R& R
+ Sentence patterns
      What subject do you like best? 
        Science( I like science best)
III. Reinforcement
­ Repeat vocabulary and subjects.
IV. Homelink
­ Learn by heart the words, sentence 
patterns you have learnt in this lesson.

­ Team work.
­ Explain the title of this unit.
­ T explains the requirement of 
the task.
­ Run through all the pictures 
( Characters/ places/ 
objects/activities)
­ Model: T­ Ps, P­ P
­ Play the recording all the way 
through( once)
­ Listen and repeat.
­ Ps practice in pairs/groups

* Kết  quả sau khi đánh giá.
­ Các tiết học trở nên sôi nổi và sinh động hơn.
­ Học sinh đã thuộc các từ mới ngay tại lớp học.
­ Vốn từ vựng của các em tăng lên rõ rệt.
­ Các em học sinh yếu kém có thể  sử  dụng được từ  vựng vào những câu 
đơn giản. Những học sinh khá có thể sử dụng từ vựng trong những câu phức tạp 
hơn.
Kết hợp dự  giờ, thực nghiệm, kiểm tra đối chiếu các   kết quả  học tập  
của học sinh, hầu rút ra được phương pháp dạy tốt nhất cho các em .  

* So sánh với cùng kỳ năm trước.  
  Sau đây là bảng thống kê chất lượng học tập từ đầu năm học cho tới hết  
tháng 3.2014 năm hoc 2013 ­2014 cuả học sinh ở lớp 5A và 5B.
11/22/2019Confidential

Page 

21


Lớ
p

TS 
học  Giỏi
sinh

Tỷ lệ

Khá


2

2.7%

4

5.7%

21

60%

8

22.8%

       Với kết quả cụ thể trên chúng ta đều thấy rằng chất lượng học tập của học  
sinh  ở lớp 5A ­ lớp có áp dụng đề  tài cao hơn hẳn so với các lớp còn lại. Điều 
đó cho thấy đề tài mà tôi đang nghiên cứu phần nào đã mang lại hiệu quả trong 
quá trình giảng dạy thực tế .
2.4 Rút ra bài học kinh nghiệm.
Theo phân phối chương trình hiện nay, môn tiếng Anh 4mỗi tuần 02 tiết,  
mà hầu như  tiết nào cũng có từ  mới trong bài học và kể  cả  trong bài tập. Nếu  
muốn dạy tốt từ  vựng để  tiết học sinh động hơn, giáo viên cần phải tìm tranh 
ảnh, đồ  dùng để  minh hoạ, tạo điều kiện cho các em nhớ  từ  dễ dàng và hướng 
sự chú ý của các em vào chủ đề hay trọng tâm bài học.
Trong một tiết chương trình giáo viên cần lựa chọn 4­ 5 từ để dạy. Các từ 
này phải thuộc loại hoạt động (active vocabulary) – nghĩa là các từ này học sinh 
sẽ sử dụng thường xuyên ở trên lớp nhằm rèn luyện các kỹ năng cơ bản. Các từ 


23


III.KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1.Kết Luận
           Trên đây là phương pháp dạy học cùng với thực tế giảng dạy của bản 
thân tôi. Tôi nhận thấy rằng trong quá trình dạy học, giáo viên cần cố  gắng áp  
dụng các phương pháp một cách linh hoạt sao cho phù hợp với nội dung bài và 
phù hợp với đối tượng học sinh. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần khéo léo sử 
dụng các thủ thuật sư  phạm nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh và  
giúp cho các em học tập có kết quả.
   Để  phát huy tốt tính tích cực chủ  động sáng tạo của học sinh trong học  
tập, thì chúng ta cần tổ  chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt  
động của người học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là người truyền tải 
kiến thức đến học sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt những kiến thức đó, thì các  
em phải tự học bằng chính các hoạt động của mình.
Để  đáp  ứng tốt yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục  ở  cấp Tiểu  học, 
ngoài những yếu tố  ngoại cảnh như  chương trình, thời gian, trình độ  của học 
sinh, khả năng chuyên môn của giáo viên. Điều quan trọng nhất là phương thức  
tổ chức của giáo viên trong một tiết dạy như thế nào để học sinh có hứng thú.
Giáo viên hạn chế  giao bài tập về  nhà cho học sinh.động viên học sinh 
hoàn thành bài tập tại lớp và đem về khoe với bố mẹ .Yêu cầu giáo viên sau khi 
hoàn thành tiết dạy, học sinh phải hiểu và nhớ được 80% bài giảng. 
Để  hưởng  ứng phong trào đổi mới phương pháp dạy học  ở  trường Tiểu  
học với tư cách là một giáo viên dạy bộ môn ngoại ngữ tôi rất mong muốn đóng  
góp một phần nhỏ  bé của mình cùng với các thầy cô giáo và các bạn đồng  
nghiệp xây dựng phương pháp dạy học mới ngày càng chuẩn mực, có hiệu quả 
hơn giúp cho các em học sinh ngày càng thích học ngoại ngữ, có thể học tập chủ 
động, giao tiếp tự tin bằng chính khả năng của mình.

­ Đề nghị các cấp lãnh đạo tổ chức nhiều buổi chuyên đề cấp cụm để  toàn thể 
giáo viên trong huyện được học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.
* Hướng nghiên cứu tiếp của đề tài :
   Tôi sẽ  tiếp tục nghiên cứu và bổ  sung cho những  thiếu sót, hoàn thiện  
hơn những ưu điểm mà đề tài đã đạt được trong thời gian qua và có hướng phổ 
biến sáng kiến kinh nghiệm này không chỉ   ở  các khối lớp 5 của trường mà có  
thể áp dụng cho các khối khác nhằm nâng cao chất lượng bộ môn.
   Tôi xin trân thành cảm  ơn Ban giám hiệu nhà trường cùng các đồng chí  
giáo viên và các em học sinh khối 5 trường Tiểu học Quyết Thắng đã giúp tôi 
trong quá trình nghiên cứu hoàn thành đề tài này. 
                                                   Đông Triều, Ngày 24 tháng 3  năm 2014
                                                                            Người thực hiện
11/22/2019Confidential

Page 

25



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status