BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
–––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THÁI HƯNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BƠI LỘI CHỐNG
ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG
CÓ BỂ BƠI CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG
Tên ngành: Giáo dục học
Mã ngành: 9140101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Công trình được hoàn thành tại: Viện Khoa học Thể dục thể
thao
Công trình được hoàn thành tại: Viện Khoa học Thể dục thể
thao
Người hướng dẫn khoa học:
Hướng dẫn 1: PGS.TS Lương Kim Chung
Hướng dẫn 2: TS Phan Hồng Minh
Phản biện 1: GS.TS Lê Quý Phượng
Trường Đại học TDTT Tp. Hồ Chí Minh
Phản biện 2: PGS.TS Ngô Trang Hưng
Trường Đại học TDTT Bắc Ninh
Phản biện 3: PGS.TS Vũ Chung Thủy
Trường Đại học TDTT Bắc Ninh
Theo thống kê hàng năm của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,
tỉ lệ đuối nước tại Việt Nam cao nhất so với các nước khác trong khu
vực. Tỷ suất chết đuối nước ở trẻ em Việt Nam cao gấp 10 lần các
nước phát triển. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, năm 2009, Sở Giáo
dục và Đào tạo Hải Dương đã xây dựng “Đề án dạy bơi cho học sinh
tiểu học trên địa bàn tỉnh Hải Dương”. Sau gần 10 năm triển khai, đã
thu được những kết quả rất tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những kết
quả đã đạt được, do nhiều nguyên nhân, công tác dạy bơi chống đuối
nước cho học sinh tiểu học trên địa bàn tỉnh Hải Dương vẫn chưa đáp
ứng được nhu cầu thực tế. Trước yêu cầu cấp thiết dạy cho trẻ em kỹ
năng bơi và phòng chống đuối nước, cần có các giải pháp đồng bộ, khả
thi, đó là lý do tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu giải pháp
phát triển bơi lội chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại các
trường có bể bơi của tỉnh Hải Dương”.
Mục đích nghiên cứu: Xác định các giải pháp đồng bộ, khả thi,
phù hợp với điều kiện thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động dạy bơi chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại các
trường đã có bể bơi tại Hải Dương, góp phần tích cực hoàn thành mục
tiêu phổ cập bơi lội cho học sinh tiểu học và giảm thiểu tai nạn đuối
nước cho học sinh tiểu học trên địa bàn tỉnh.
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng
triển khai công tác dạy bơi
chống đuối nước cho học sinh tiểu học trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Mục tiêu 2: Nghiên cứu đề xuất và ứng dụng giải pháp phát triển
bơi chống đuối nước cho học sinh tiểu học trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Giả thuyết khoa học: Nếu xây dựng các giải pháp đồng bộ, khả
thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động dạy bơi chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại các trường
nhận thức kỹ năng thực hiện phòng, chống đuối nước của học HSTH và
gia tăng tỷ lệ HSTH đạt được chỉ tiêu đánh giá theo cự ly bơi các nhóm
tuổi.
3. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án được trình bày trong 130 trang: Đặt vấn đề (3 trang); Chương
1, Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (51 trang); Chương 2, Đối tượng,
phương pháp và tổ chức nghiên cứu (09 trang); Chương 3, Kết quả nghiên
cứu và bàn luận (64 trang); Kết luận và kiến nghị 3 trang. Với tổng số 33
bảng; 3 biểu đồ; 90 tài liệu tham khảo, trong đó: 81 tài liệu tiếng Việt, 09
tài liệu tiếng Anh và 10 phụ lục.
B. NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.
Một số khái niệm
1.1.1. Mục tiêu:
Mục tiêu GDTC quốc dân, được xây dựng trên cơ sở nhu cầu của công
cuộc xây dựng CNXH và gắn liền với mục tiêu của giáo dục chung của
3
Đảng và Nhà nước ta. Bởi vì GDTC là một hình thức giáo dục chuyên biệt,
cùng với các hoạt động giáo dục khác: Đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, lao động
kĩ thuật, góp phần giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện.
1.1.2. Phương pháp, giải pháp, biện pháp:
Phương pháp quản lý là cách thức, con đường giải quyết mục tiêu
để đảm bảo việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền
của một tổ chức nào đó trong quá trình quản lý một cách khoa học,
4
nước vấn đề giáo dục thể chất và thể thao được coi trọng như một
nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội.
1.3. Những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước và
của các Bộ, Ngành liên quan đối với công tác phòng chống đuối
nước cho trẻ em
1.3.1. Những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
đối với công tác phòng chống đuối nước cho trẻ em:
Quốc hội đã ban hành Luật số 26/2018/QH sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thể dục, thể thao số 77/2006/QH11 đã bổ sung
khoản 6 vào Điều 22: “6. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển môn bơi, võ cổ truyền và các môn thể thao dân tộc; thành
lập câu lạc bộ thể thao của học sinh, sinh viên”.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 234/QĐTTg,
ngày 05/02/2016, phê duyệt Chương trình phòng, chống tai nạn, thương
tích trẻ em giai đoạn 2016 2020 (sau đây gọi là Chương trình) với
những nội dung chủ yếu sau: Mục tiêu tổng quát: Kiểm soát tình hình tai
nạn, thương tích trẻ em, đặc biệt là tai nạn đuối nước và tai nạn giao
thông nhằm đảm bảo an toàn cho trẻ em, hạnh phúc của gia đình và xã
hội.
1.3.2. Những chủ trương chính sách của các Bộ, Ngành liên
quan đối với công tác phòng chống đuối nước cho trẻ em:
Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan báo chí, phối
hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam đẩy
mạnh công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về phòng, chống tai nạn, thương tích
và đuối nước cho học sinh, trẻ em. Tuyên truyền, vận động gia đình
thường xuyên quan tâm, giám sát con, em mình đặc biệt trong thời gian
hậu thời tiết khắc nghiệt; thiên tai, lũ lụt thường xuyên nên tai nạn đuối
nước có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Do môi trường sống của các em
không an toàn vì nước ta có nhiều sông, suối, ao, hồ, bờ biển dài. Diện
tích mặt nước cao làm tăng nguy cơ về đuối nước ở trẻ em. Hằng
năm, xuất hiện thiên tai, lũ quét, mưa bão, ngập lụt nhiều. Ngay cả
những bể chứa nước, hố công trình, giếng nước, hố vôi, mương,
rãnh… cũng tiềm ẩn những nguy cơ đuối nước với trẻ em; nhiều trẻ
em điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, hàng ngày phải giúp đỡ gia
đình chăn trâu, mò cua, bắt ốc ở các vùng sông nước nhưng thiếu kỹ
năng bơi, thiếu các phương tiện để phòng tránh. Nhận thức chung của
người dân về tai nạn đuối nước trẻ em chưa cao. Người lớn còn coi
thường sự nguy hiểm của đuối nước đối với trẻ em. Cộng đồng và
người chăm sóc trẻ thiếu kiến thức, kỹ năng sơ cấp cứu ban đầu khi
trẻ bị tai nạn này; bố, mẹ thiếu quan tâm đến con cái.
1.6. Đặc điểm hoạt động vận động trong môi trường nước
1.6.1. Đặc điểm vật lý môi trường nước:
Do tốc độ truyền nhiệt của nước lớn hơn rất nhiều lần so với
không khí, hơn nữa nhiệt độ của nước thường thấp hơn nhiệt độ cơ
thể, vì vậy khi hoạt động trong môi trường nước cơ thể người phải
tiêu hao một nguồn năng lượng lớn để chống lạnh. Hiện tượng đó có
tác dụng thúc đẩy quá trình trao đổi chất và nâng cao năng lực điều hòa
6
thân nhiệt của cơ thể để thích ứng với điều kiện hoạt động. Song đó
cũng chính là một trong những yếu tố tạo ra sự mệt mỏi nhanh chóng
của cơ thể khi hoạt động trong môi trường nước.
1.6.2. Những lưu ý khi hoạt động trong môi trường nước:
Trước khi tập luyện bơi lội hoặc hoạt động trong môi trường
1.7.3. Những điểm cần lưu ý trong dạy bơi cho học sinh tiểu
học:
7
Quá trình huấn luyện bơi cho trẻ phải tuyệt đối tuân thủ nguyên
tắc tăng dần dần lượng vận động và độ khó của bài tập, để các em có
đủ điều kiện và thời gian thích nghi. Khi sửa kỹ thuật bơi cho các em,
cần phải sửa từ những sai sót lớn trước, rồi mới sửa những sai sót
nhỏ. Trong quá trình sửa chữa những sai sót đó, cần phối hợp với các
bài tập trên cạn và những bài tập có sự thay đổi tốc độ khi thực hiện
động tác
1.8. Đặc điểm sinh lý, tâm lý học sinh tiểu học
1.8.1. Đặc điểm sinh lý học sinh tiểu học:
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, hai quá trình sinh trưởng và phát
dục diễn ra đồng thời và rất phức tạp, có lúc lượng biến hoặc chất biến
là chính. Tuổi nhi đồng, ngoài cơ quan sinh dục, nam nữ không khác
nhau nhiều. Cơ sở khoa học đầu tiên của xu thế trên chính là sự phát
hiện các giai đoạn hoàng kim (nhạy cảm, tiếp thu tiến bộ nhanh) của sự
phát triển con người, đặc biệt với đoạn tuổi trẻ thơ, cả về trí lực lẫn
thể lực. Từ đó đã tạo ra một cuộc cách mạng mới về dạy học, rèn luyện
cho trẻ nhỏ.
1.8.2. Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học:
Việc đạt được sự thành thạo trong các kỹ năng này, là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của trẻ lứa tuổi 6 10 và thường xuất hiện
trong những trò chơi vận động. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là sự đạt
được những kỹ năng đó phụ thuộc vào sự phát triển cơ thể và quá trình
luyện tập, quá trình này xuất hiện dần dần. Bởi vậy, ở lứa tuổi bắt đầu
học tiểu học (lứa tuổi 6), có thể thấy đứa trẻ còn vụng về, dần dần
78 giáo viên tiểu học và cán bộ cơ sở của 20 trường đã có bể bơi
(trong đó có 38 công chức xã và 40 giáo viên), tham gia toạ đàm; 270 phụ
huynh một số trường tiểu học của 12 huyện, thành phố tỉnh Hải Dương
có con em tham gia thực nghiệm;
621 học sinh lứa tuổi tiểu học các khối lớp 2 đến khối lớp 5 tại
một số trường tiểu học có bể bơi trên địa bàn tỉnh Hải Dương, nhằm
kiểm nghiệm việc ứng dụng các giải pháp triển khai dạy bơi chống
đuối nước cho học sinh tiểu học tỉnh Hải Dương theo Chương trình cải
tiến.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, trong quá trình
nghiên cứu đã sử dụng 07 phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân
tích và tổng hợp tài liệu; Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm; Phương
pháp quan sát xã hội học; Phương pháp quan sát sư phạm; Phương pháp
thực nghiệm sư phạm; Phương pháp thực nghiệm xã hội học; Phương
pháp toán học thống kê:
2.3. Tổ chức nghiên cứu
2.3.1. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận án là các giải pháp phát triển bơi
chống đuối nước cho học sinh tiểu học ở các trường tiểu học có bể bơi
trên địa bàn tỉnh hải Dương.
2.3.2. Địa điểm nghiên cứu:
9
Luận án được tiến hành nghiên cứu tại: Viện khoa học Thể dục thể
thao; Trường Cao đẳng Hải Dương; Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Dương;
Các phòng Giáo dục và Đào tạo thuộc các huyện, thị trên địa bàn tỉnh Hải
Dương;
̉
̣ ơi trong trương tiêu hoc giai đoan 2010 2015”, UBND t
̀
̉
̣
̣
ỉnh
Hải Dương đã thông qua Đề án 1236/QĐUBND ngày 17/5/2010, phê
duyệt Đề án Giáo dục bơi cho học sinh Tiểu học giai đoạn 20102015
(gọi tắt là Đề án).
Đề án được thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh ở cả 3 khu vực: nông
thôn, thành thị, và khu vực miền núi .
Đề án tập trung vào các nội dung chính: xây dựng cơ sở vật chất
(Tỉnh hỗ trợ 350 triệu đồng/bể bơi bể bơi có kích thước tối thiểu 6m x
15m, chiều sâu 0,8m – 1,2m), xây dựng tài liệu hướng dẫn dạy bơi, tập
10
huấn đội ngũ hướng dẫn viên bơi, tổ chức dạy bơi ngoại khóa cho học
sinh tiểu học.
Phấn đấu xây dựng 122 bể bơi tại các trường tiểu học trong toàn
tỉnh theo lộ trình đến năm 2015.
Phấn đấu số lượng học sinh biết bơi trong từng giai đoạn là: năm
2010 2012: 25%; năm 2013: 30%; năm 2014 : 40%;
Đến năm 2015 toàn tỉnh có 50% số học sinh sau khi hoàn thành
chương trình tiểu học biết bơi.
3.1.3. Thực trạng tổ chức dạy bơi ở các trường tiểu học tỉnh
Hải Dương:
Thực trạng tổ chức dạy bơi ở các trường tiểu học tỉnh Hải
trên địa bàn tỉnh Hải Dương, trong đó 06 giáo viên nữ, 2/22 giáo viên thể
dục kiêm nhiệm;
Về trình độ chuyên môn: Trong số 20 giáo viên thể dục chuyên
trách 6 giáo viên có trình độ đại học, 14 giáo viên có trình độ cao đẳng;
chỉ có 3/20 giáo viên có chứng chỉ bơi lội (chiếm 15%).
Như vậy, mặt bằng trình độ của đội ngũ giáo viên dạy thể dục
của 20 trường tiểu học có bể bơi trên địa bàn tỉnh Hải Dương là tương
đối đáp ứng yêu cầu chuyên môn, tuy nhiên còn rất nhiều bất cập, chưa
đáp ứng được yêu cầu giảng dạy thể dục nói chung cũng như công tác
dạy bơi, giáo dục kỹ năng chống đuối nước cho học sinh tại các trường
tiểu học có bể bơi nói riêng.
Bảng 3.3. Thực trạng triển khai Chương trình dạy bơi hiện hành cho học sinh tiểu học tỉnh Hải
Dương
TT
1
2
3
4
5
Huyện/
TP/TX
Trường
Tiểu học
3
7
12
22
2.91
4.24
Gia Lộc
Phương Hưng
283
8
4
12
4.24
482
466
642
325
527
739
33
14
47
6.24
Thống Kênh
Lê Lợi
Tân Kỳ
Tứ Kỳ
Cộng Lạc
Văn Tố
Thanh Miện TT Thanh
Miện
Tx Chí Linh Phả Lại 2
3.70
Số học sinh được
nhà trường dạy bơi
Nam
Nữ Tổn
%
g
46
5
61
31
9.54
27
9
6
8.73
37
21
8
7.85
36
9
5
7.30
6
7
Cẩm Giàng
Kim Thành
Cao An
Kim Xuyên
767
298
20
17
1.291
503
315
62
23
9
36
9
4
98
32
13
7.59
6.36
4.13
41
25
28
3
4
9
1
Số trường Số trường Chương trình
đã dạy
chưa dạy của Trung
bơi
bơi
ương tập huấn
Chương trình
của tỉnh Hải
Dương hiện
hành
1 Tình hình triển khai 16
4
dạy bơi
2 Chương trình dạy bơi
3
Kiểu bơi trườn sấp
5
Kiểu bơi ngửa
Số học sinh học hè
Dương
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
Trường
Bình Xuyên
TT Thanh Miện
Tân Kỳ
Phương Hưng
Phả Lại 2
Cao An
Kim Xuyên
1
1
1
1
1
Nhiệm vụ chuyên môn
Chuyên
trách
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
Kiêm
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
Cao
đẳng
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
20
Bạch Đẳng
Tổng số
1
22
1
20
02
1
16
1
06
06
1
16
S1.Các trường học ở Hải Dương W1. Nhận thức của các cấp quản
có nề nếp thực hiện công các lý và xã hội về vị trí, vai trò của
GDTC và thể thao nhiều năm qua. GDTC và công tác dạy bơi chống
S2. Lãnh đạo các trường, đội ngũ đuối nước cho trẻ em còn hạn chế
giáo viên quan tâm đặc biệt vấn đề W2.Quỹ đất dành cho xây bể bơi ở
dạy bơi chống đuối nước.
thành thị, kể cả nông thôn hạn hẹp.
S3. Đội ngũ giáo viên chuyên trách W3.Nguồn nước sạch cung cấp cho
thể dục đã có ở tất cả các trường. bể bơi và đảm bảo xây bể bơi có
S4.Đa số người dân Hải Dương mái che rất khó khăn.
ủng hộ chủ trương dạy bơi và W4.Mức thu nhập của người dân
phòng chống đuối nước cho trẻ.
nông thôn Hải Dương còn thấp nên
S5.Đến hết 2013 đã có 20 trường việc đóng góp hạn chế.
học xây xong bể bơi là cơ sở để W5. Cộng tác viên dạy bơi vừa
11
thực hiện dạy bơi cho trẻ em.
Cơ hội (O):
O1.Đảng và Nhà nước quan tâm
lãnh đạo triển khai công tác dạy
bơi và phòng chống đuối nước.
O2.UBND Tỉnh Hải Dương giao
Sở GDĐT thực hiện Đề án đầu tư
bể bơi cho các trường tiểu học.
O3.Bơi góp phần thực hiện mục
tiêu giáo dục toàn diện; Là nhu cầu
của con người trong cuộc sống
nhận thức và sự quan tâm về công tác GDTC trong nhà trường của lãnh
đạo các cấp và hệ thống chính trị, các cơ quan quản lý giáo dục, Ban
giám hiệu các trường đã có những chuyển biến tích cực; Đội ngũ giáo
viên Thể dục trong các trường được tăng lên về số lượng và chất lượng
được chuẩn hoá, giáo viên Thể dục thường xuyên được bồi dưỡng nâng
cao trình độ chuyên môn, trong đó có tập huấn về dạy bơi chống đuối
nước cho học sinh tiểu học; Cơ sở vật chất dành cho hoạt động TDTT
trong nhà trường cơ bản đáp ứng cho dạy học và hoạt động TDTT.
Phần lớn các trường đều có sân tập cho học sinh. Nhiều trường đã được
trang bị bể bơi.
Hạn chế:
12
Về nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tuy đã có
chuyển biến nhưng vẫn còn một số chưa quan tâm tích cực đến công tác
GDTC và dạy bơi chống đuối nước cho học sinh tiểu học;
Việc thay đổi cách đánh giá kết quả môn Thể dục từ cho điểm
sang xếp loại cũng tác động phần nào đến nhận thức về môn học của
giáo viên và học sinh; Nội dung chương trình dạy bơi chống đuối nước
cho học sinh tiểu học còn nặng và dàn trải, chưa phù hợp điều kiện thực
tế, để có thể triển khai đạt hiệu quả cao; Nhiều trường việc tập luyện
ngoại khóa chủ yếu vẫn mang tính tự phát; Xã hội hoá TDTT trong các
trường rất hạn chế; Đội ngũ giáo viên TDTT vẫn còn thiếu, nhiều
trường chỉ có từ 12 giáo viên, tỷ lệ giáo viên/sinh viên còn khá cao so
với quy định của Bộ GDĐT. Trang thiết bị dụng cụ tập luyện vẫn còn
đơn giản.
Nguyên nhân:
Mặc dù đã có những văn bản, chỉ thị, nghị quyết về đẩy mạnh
núi. Tính riêng năm 2013 cả tỉnh Hải Dương có 20 trường tiểu học có
bể bơi. Sau khi hoàn thành nghiệm thu các công trình vẫn còn nhiều khó
khăn xuất phát từ nguồn nước, nguồn điện để vận hành bể bơi, thực
chất chỉ có 16 bể bắt đầu vận hành và đưa vào sử dụng;
Tiêu chuẩn, chất lượng của bể bơi, nguồn nước và các điều kiện
đảm bảo vệ sinh nguồn nước, trang bị phương tiện hỗ trợ cho hoạt
động dạy và học bơi cho các em học sinh như phao, sào, còi cứu hộ, áo
phao, ván bơi, kính bơi, quần áo bơi… cũng rất thiếu thốn;
Chưa phát huy thế mạnh tổng hợp của các nguồn lực xã hội và của
phụ huynh học sinh;
Công tác dạy bơi đã có những kết quả bước đầu, nhưng nhìn vào
Đề án “Giáo dục bơi cho học sinh tiểu học giai đoạn 2010 2015” thì có
thể thấy, việc tổ chức dạy bơi tại các trường có bể bơi trên địa bàn tỉnh
vẫn chưa đạt được các mục tiêu mà Đề án đưa ra.
Để đẩy mạnh GDTC, trong đó có bơi chống đuối nước học sinh
tiểu học đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ, từ cơ chế, chính sách đến
đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường nguồn nhân lực.
Với phương châm nhà nước kết hợp với nhà trường, gia đình và
các tổ chức chính trịxã hội, nhằm phục vụ cho phát triển GDTC và
triển khai dạy bơi chống đuối nước học sinh tiểu học có hiệu quả.
3.2. Nghiên cứu đề xuất và ứng dụng giải pháp phát triển bơi
chống đuối nước cho học sinh tiểu học trên địa bàn tỉnh Hải
Dương
3.2.1. Cơ sở lý luận đề xuất giải pháp phát triển bơi lội chống
đuối nước cho học sinh tiểu học:
Phòng chống tai nạn, thương tích ở trẻ em trong đó có phòng
chống đuối nước đã được Đảng, Chính phủ hết sức quan tâm. Trước
tình trạng tỷ lệ đuối nước ở trẻ em ngày một gia tăng Đảng, Nhà nước
và các Ban, Ngành liên quan, địa phương đã có nghiều giải pháp và động
thái quyết liệt giảm thiểu chống đuối niwóc trẻ em.
hội hóa, huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng bể bơi phục
vụ dạy và học bơi cho học sinh, nhằm hạn chế tình trạng trẻ em bị đuối
nước;
7/Chỉ đạo các nhà trường phối hợp chặt chẽ với gia đình trong
quản lý, giáo dục học sinh về ý thức phòng, tránh tai nạn thương tích,
đuối nước. Khuyến cáo học sinh, không tắm, bơi ở những nơi có nguồn
nước không đảm bảo vệ sinh; sông, suối, thác ghềnh hiểm trở và những
nơi nguy hiểm;
8/Liên hệ, phối hợp với các cơ sở có sân chơi, bãi tập thể thao, bể
bơi trên địa bàn để xây dựng cơ chế phối hợp thuận lợi khai thác, sử
15
dụng có hiệu quả các công trình thể thao đó đảm bảo khuyến khích, tạo
điều kiện thuận lợi cho học sinh được học vui chơi thể thao an toàn,
lành mạnh trong dịp hè;
9/Các cơ quan liên quan thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác
triển khai thực hiện công tác phòng tránh tai nạn thương tích, đuối nước
cho trẻ em, học sinh;
3.2.3. Lựa chọn các giải pháp phát triển bơi chống đuối nước
cho học sinh tiểu học tại các trường có bể bơi trên địa bàn tỉnh Hải
Dương
Từ 09 nhóm giải pháp rút ra từ cơ sở lý luận, từ bài học học kinh
nghiệm của các Bộ, ngành Trung ương và địa phương về dạy bơi chống
đuối nước cho trẻ em, vấn đề là lựa chọn hệ thống giải pháp cụ thể nào
phù hợp với đặc điểm kinh tếxã hội của tỉnh Hải Dương và có cơ sở
khoa học.
Để trả lời câu hỏi này, cũng tại tọa đàm lấy ý kiến tư vấn của các
chuyên gia, cán bộ quản lý của Sở Giáo dục và Đào tạo, các giáo viên