SKKN: Một số biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh cho học sinh tiểu học - Pdf 58

  
CỘNG HÒA XàHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHAT TRIÊN KY NĂNG
́
̉
̃
 GIAO TIÊP TIÊNG ANH CHO HOC SINH TIÊU HOC”
́
́
̣
̉
̣


Lệ Thủy, tháng 02 năm 2019

CỘNG HÒA XàHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHAT TRIÊN KY NĂNG
́
̉
̃
 GIAO TIÊP TIÊNG ANH CHO HOC SINH TIÊU HOC”
́
́
̣

trong nhà trường phổ thông.
        Trong xu thế  hội nhập của nước ta và chương trình giáo dục tiểu học 
hiện nay, môn Tiếng Anh cùng với các môn học khác trong trường tiểu học có  
những vai trò góp phần quan trọng đào tạo nên những con người phát triển toàn 
diện, đáp  ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ  mới.  Trước đây Việt Nam 
chưa hoà nhập với các nước trên thế giới thì việc đầu tư  cho học sinh trau dồi  
môn Tiếng Anh còn nhiều hạn chế. Nhưng ngày nay với đà phát triển chung  
của nhân loại thì việc học ngoại ngữ là điều cần thiết. Vì thế ngành Giáo dục 
và Đào tạo đã tiến hành đổi mới một cách toàn diện về chương trình, phương 
pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.  Hiện nay tất  
cả các trường Tiểu học trong huyện đã dạy chương trình Tiếng Anh bắt đầu từ 
lớp 1. Trong đó tất cả  các trường đã dạy theo chương trình 4 tiết/tuần đôi v
́ ơí 
khôi 3, 4, 5 va 2 tiêt/tuân đôi v
́
̀
́ ̀
́ ới khôi 1, 2. Yêu c
́
ầu đầu ra phải  đạt mức độ 
một theo chuẩn năng lực ngoại ngữ Quốc Tế.
       Trong những năm gần đây, yêu cầu của giáo dục hiện nay đòi hỏi phải 
đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các môn học và các cấp học, nhằm nâng 
cao chất lượng dạy và học. Chính vì vậy,  môn Tiếng Anh nói chung và môn 
Tiếng Anh ở bậc tiểu học nói riêng cũng cần phải có những đổi mới mạnh mẽ 
hơn nữa, phát huy tính tích cực, chủ  động sáng tạo của học sinh, lấy học sinh  
làm trung tâm. Do đó,  người giáo viên phải gây hứng thú học tập cho các em 
bằng cách lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập nhằm phát triển 



chán khi học môn này.
         Trước khi đưa các  giai phap
̉
́  vào chương trình dạy thực nghiệm tôi tiến 
hành khảo sát chất lượng ban đầu vê ki năng noi c
̀ ̃
́ ủa học sinh làm căn cứ  đối  
chứng.
Kết quả khảo sát đầu năm học 2018­2019 của khối 5 tôi giảng dạy:
Ki năng Noi  (25 điêm )
̃
́
̉
Khôí

5

Tổng 
số học 
sinh

SL

%

103

17

16.5

Điểm 

rộng hay thắc mắc yêu cầu giải đáp. Có thể  nói kỹ  năng nói của các em còn  
yếu.
        Mỗi tuần chỉ được học bốn tiết không đủ thời gian để học sinh phát triển  
tốt kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh.
        Vì là môn học tự  chọn nên một số  học sinh chưa chú trọng nhiều đến 
môn Tiếng   Anh. Vốn từ  vựng của các em không có nhiều do các em không  
thuộc từ vựng hoặc các em không chịu học vì cứ  nghĩ đây là môn phụ  nên các  
em chưa dành thời gian cho việc tự học môn này. 
      

Hơn nữa đối với học sinh nông thôn mọi điều kiện tiếp xúc và gần gũi 


thực tế xung quanh còn hạn chế. Ở lứa tuổi này, còn một số  học sinh phát âm 
Tiếng Việt chưa được chuẩn. Phần lớn các em học sinh chưa chú tâm và đầu tư 
cho môn ngoại ngữ, chuẩn bị bài một cách sơ sài. Trong các giờ học, đa số các 
em thường thụ động, thiếu sự linh hoạt, ngại việc đọc ­ nói tiếng anh và ít tham  
gia phát biểu để tìm hiểu bài học.
      

b. Giáo viên:

       Bản thân tôi và nhiều đồng nghiệp dạy Tiếng Anh không có năng khiếu  
âm nhạc nên vẫn có những bài hát không biết hát nên khi hướng dẫn những bài 
hát Tiếng Anh gặp phải khó khăn và hát chưa đúng giai điệu, tiết tấu nhạc dẫn 
đến chưa tạo được hứng thú cho học sinh khi dạy các bài hát Tiếng Anh trong  
chương trình.
      

c. Về phía phụ huynh học sinh:

      Trong   những   năm   qua,   bước   đầu   chúng   ta   đã   áp   dụng   việc   đổi   mới  
phương pháp giảng dạy Tiếng Anh nhằm giúp học sinh nắm được cách học 
một cách chủ động, tích cực và đáp ứng được yêu cầu là học sinh phải sử dụng  
được ngữ liệu đã học vào các hoạt động giao tiếp một cách có hiệu quả hơn.
      Do vậy, trong chương trình giảng dạy tiếng Anh ở trường Tiểu học hiện  
nay, cùng với giáo trình “ Tiếng Anh 1, 2, 3,4,5” đã nhấn mạnh vào khả  năng 


giao tiếp theo một hệ  thống ngữ  pháp có kiểm soát cẩn thận. Học sinh được  
lấy làm trung tâm và luôn được khích lệ giao tiếp với nhau. 
    
Qua nhiều năm dạy tiếng Anh cùng với sự  trải nghiệm bản thân tôi đã  
vận dụng một số  phương pháp trong việc rèn luyện kĩ năng  giao tiếp cho học 
sinh nhằm tạo cho các em hứng thú và tự  tin trong giao tiếp. Tăng cường thời 
lượng thực hành như: nói, hoạt động giao tiếp của học sinh trong giờ  học là 
điều cần thiết. Do đó tôi đưa ra một số giải pháp sau:
2.2.1. Về giáo viên:
      

a. Thường xuyên sử dụng Tiếng Anh trong tiết dạy:

       Đối với đối tượng học sinh cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông  
việc sử dụng Tiếng Anh trong giờ ngoại ngữ là điều hiển nhiên, vì khi đó vốn 
từ các em khá đủ để  hiểu những điều giáo viên truyền đạt. Nhưng đối với học 
sinh Tiểu học vốn từ  các em chưa nhiều để  hiểu tốt yêu cầu của giáo viên,  
chính điều này làm cho đa phần giáo viên dạy Tiếng Anh ở bậc tiểu học “lười”  
nói Tiếng Anh trong giờ  dạy. Tôi nghĩ đây là một trong số  lý do làm cho học 
sinh chưa tự  tin khi đàm thoại bằng Tiếng Anh. Chúng ta là đầu tàu gương  
mẫu, lứa tuổi thiếu nhi còn ngây thơ  và dễ  bắt chước, thầy cô phải là tấm 
gương để  học sinh noi theo, nếu giáo viên thường xuyên nói Tiếng Anh thì  


             T:    Play  game “ Guessing game” – Ok !

                       Ss:    Ok!
                       T:    Four  boys  and  four girls, please !
                              Now, any volunteers ? Raise  your hand !
                   ………………
        Sau   khi   chọn được hai đội tôi sử  dụng một số  câu ra lệnh đơn giản 
khác.
        
          Ví dụ:    T: Are  you ready ?
        Ss: Yes .
                           T: Now, let’s begin “ one, two, three”,...
Để học sinh dễ ghi nhớ các chữ cái trong bảng chữ cái Tiếng Anh và các 
từ  vựng, tôi sử  dụng những câu đố, trò chơi trí tuệ  nhằm kích thích các em tư 
duy, suy nghĩ, khi tìm được đáp án các em sẽ ghi nhớ sâu hơn. Sau khi học sinh 
đưa ra đáp án, tôi sẽ cho các em biết đáp án và giải thích thêm để các em hiểu rõ 
hơn.  Những câu đố  vui tiếng anh mang lại nhiều phút giây thư  giãn thoải mái 
cho các em học sinh, đồng thời giúp bé phát triển khả năng ngôn ngữ  một cách 
hiệu quả nhất. Đa số những câu đố này thuộc thể loại đố mẹo và chơi chữ nên 
các em cần suy nghĩ theo hướng sáng tạo một chút là có thể nhanh chóng tìm ra  
đáp án.


     
Ví dụ: 
      Tôi đưa ra những câu đố vui hỏi về đông vât. Nh
̣
̣
ững câu đố vui về động 

4.If I sit down I'm high; if I stand up I'm low.

             => Đáp án câu đố vui:I'm A Dog
   

5. I eat insects. I live in the pond. I can hop. I'm green.

              => Đáp án câu đố vui: I'm A Frog
   

6. I eat vegetables. I can run fast. I can be a pet. I've long ears.

              => Đáp án câu đố vui: I'm A Rabbit
   

7. I've four legs. You can ride me. I've tusks. I've a long nose.

             => Đáp án câu đố vui: I'm An Elephant


   

8.I eat other animals. I've a big mouth. I'm green. I live in the water.

             => Đáp án câu đố vui: I'm A Crocodile
   

9.I'm small. I can be scary. I've eight legs. I spin the web.

             => Đáp án câu đố vui: I'm A Spider

       Khi bước vào lớp điều đầu tiên giáo viên nên làm là mỉm cười với cả lớp 
tạo sự gần gũi, thân thiện với học trò của mình để bắt đầu một tiết học mới.
       Giáo viên cần rèn luyện cho mình có tính “khôi hài” và sử  dụng nó trong  
tiết dạy để cuốn hút học sinh. Người thầy được ví như  một nghệ  sĩ nếu diễn 
tốt sẽ  được khán giả  mến mộ  và đón nhận một cách nồng nhiệt. Làm được  
điều này bước đầu chúng ta đã thành công. 


Sau đây là một ví dụ minh hoạ.
       Tôi cho học sinh chơi trò “Bean bag circle” và sử dụng mẫu câu “This  is 
a ( an ) +  màu sắc + tên  vật”  để áp dụng vào trò chơi. Học sinh nghe nhạc và 
chuyền bóng, khi tiếng nhạc ngưng quả bóng trong tay ai người đó tự  đặt một  
câu theo mẫu đưa ra. Nếu một học sinh yếu nhận được quả  bóng có thể  sẽ 
không nói được hoặc “ấp a ấp úng”. Lúc này tôi động viên các em “Chúc mừng 
em, em có cố gắng nhưng chưa thành công” hay là “Chúc em may mắn lần 
sau”. 
      Một số bộ phận giáo viên chuyển từ trung học cơ sở xuống dạy tiểu học  
do chưa hiểu rõ tâm sinh lý lứa tuổi này đôi khi trong tiết dạy còn nghiêm khắc 
và “lớn tiếng” khi các em phát biểu sai. Theo tôi việc này là không nên vì sẽ làm  
cho học sinh rụt rè, lúng túng khi phát biểu. Từ đó làm hạn chế  tính “phản xạ”  
trong giao tiếp của học sinh khi học ngoại ngữ.
2.2.2. Về  học sinh:
      

a. Tập cho học sinh phản xạ nhanh bằng tiếng Anh:

       Thay thế từ không biết bằng một cụm từ khác đã biết, không sợ mắc cỡ 
khi nói sai. Nói thoải mái không sợ mắc lỗi ngữ pháp hay phát âm.
         Phương pháp tổ  chức rèn luyện kỹ  năng  giao tiếp  Tiếng Anh cho học 
sinh Trong quá trình hướng dẫn học sinh học, giáo viên quan sát chú ý xem các 

          Chúng ta phải cho học sinh nghe băng thường xuyên với giọng đọc chuẩn 
của người bản xứ và cho lặp lại nhiều lần, chú ý ngữ  điệu cuối câu và nhất là  
phần kết thúc của từ. Hướng dẫn học sinh tập trung trong khi nghe và khuyến  
khích các em bắt chước giọng đọc trong băng càng giống càng tốt.
      Sau bước nghe và lặp lại giáo viên yêu cầu học sinh tự  đọc đồng thanh, 
theo cặp rồi cá nhân. Tuyên dương những học sinh đọc tốt và chỉnh sửa ngay 
nếu học sinh đọc sai và không chuẩn.
      Khuyến khích mỗi học sinh có một cuộn băng nghe, đĩa VCD, thẻ  nhớ 
hoặc usb chứa file nghe (có thể sử  dụng cho đầu VCD, DVD hoặc máy vi tính 
hay laptop)  để  tự  rèn luyện  ở  nhà nhằm giúp các em nhập tâm và nói tốt một 
cách tự nhiên.
       Cần chú ý luyện tập cho hs phát âm có các âm cuối như  : bag /bæg/, 
book /buk/ .... 
      

Tập cho học sinh có thói quen đọc nối. 

     

 Ví dụ : stand­up /’stænd^p/ , look­at /lukæt/ 

                 It’s a pencil. /itsəpensl/ 
                 It is a desk. /itizədesk/ 
       Đối với hình thức số  nhiều cần luyện tập cho học sinh cách phát âm 
trong việc nhấn mạnh đuôi số nhiều : 
      

Phát âm /s/ đứng sau phụ âm vô thanh /t/, /p/, /k/, /s/, /f/, /θ/ 

      

      

Dùng trong câu đề nghị:        Come here! ↓ 

       Dùng trong câu hỏi bắt đầu bằng từ  để  hỏi (who, whose, whom, which,  
what, when, where, why, và how)       What are these? ↓ 
      

Dùng trong yêu cầu hoặc mệnh lệnh:        Open your book ↓ 

       *Ngữ điệu lên được thể hiện bằng cách tăng âm điệu giọng nói lên cao ở 
trong các trường hợp sau: 
      

Dùng trong các câu hỏi nghi vấn “có…không”       Is this a book ?↑ 

      

Dùng trong câu xác định nhưng hàm ý câu hỏi:       You are Mai? ↑ 

       d. Hướng dẫn học sinh sử  dụng cử chỉ, điệu bộ  khi đối thoại bằng  
Tiếng Anh:
      Các bạn thấy đó người nước ngoài khi nói chuyện với chúng ta thường  
sử dụng nét mặt, cử chỉ, điệu bộ diễn đạt điều muốn nói để người đối diện dễ 
hiểu và có cảm giác gần gũi hơn trong giao tiếp. Tại sao chúng ta học ngôn ngữ 
của họ mà không học cách thể hiện như thế để hoàn thiện hơn trong giao tiếp.  
Đây là lý do tôi chọn biện pháp này để  góp phần tạo sự  tự  tin khi đàm thoại 
Tiếng Anh. 
       Tôi yêu cầu học sinh trong khi đối thoại thì nói và diễn phải kết hợp với  
nhau. Nếu hỏi về tên, sức khoẻ, tuổi, … của người mình muốn hỏi  thì chìa tay 

e. Khuyến khích học sinh tự làm từ điển cá nhân:

       Muốn nói tốt Tiếng Anh phải thuộc nhiều từ, đối với học sinh tiểu học 
việc tìm tòi, tham khảo sách báo, trên internet, ti vi còn hạn chế. Vì vậy, tôi yêu  
cầu học sinh làm quyển từ điển theo hướng dẫn của tôi để học sinh củng cố và 
nhớ lâu hơn những từ được học hay sưu tầm.
       Vào tuần thứ hai của đầu năm học, tôi yêu cầu mỗi học sinh chuẩn bị một  
quyển sổ tay bỏ túi để viết lại tất cả các từ đã học. Yêu cầu học sinh  sắp xếp  
và viết theo chủ đề (chủ đề về đồ vật, con vật, màu sắc, thời tiết,….)
      Tôi   hướng dẫn học sinh thực hiện như  sau: chia quyển sổ  tay thành  
nhiều chủ  đề  để  các em thuận tiện hơn khi sử  dụng. Tiếp theo chia trang vở 
làm hai phần một bên viết từ Tiếng Anh bên kia viết nghĩa Tiếng Việt.
          Ví dụ:          
         Chủ đề về  đồ vật

 

                               English                                Vietnamese
                            * a  ruler

 

1 cai th
́ ươc 
́

                            * an  eraser




    tortoise
 
   cat

   dog

   
  frog

  
  
  cow
          
2.2.3. Một số biện pháp khác:
       a. Phân hoá đối tượ ng học sinh và chia nhóm rèn luyện kỹ  năng  
giao tiếp:
       Phân định rõ đối tượng nhằm giúp giáo viên bao quát lớp tốt hơn, nắm rõ 
số  lượng học sinh yếu nhiều hay ít của từng lớp. Từ đó giáo viên lựa chọn, sử 


dụng phương pháp dạy phù hợp để đạt hiệu quả cao.
       Bắt đầu vào năm học mới sau ba tuần học tôi có thể phân loại nhóm học 
sinh giỏi, khá và nhóm trung bình, yếu. Tôi chia lớp thành nhiều nhóm (mỗi 
nhóm từ  bốn đến năm học sinh) để  cùng nhau học tập. Trong nhóm có từ  hai  
đến ba học sinh thuộc dạng khá giỏi, những em này được phân công làm nhóm 
trưởng và nhóm phó để  điều hành nhóm hoạt động và có nhiệm vụ  giúp đỡ 
những bạn yếu.
       Mỗi  nhóm   được  đặt  cho một cái tên như: “banana”,  “grape”,  “apple”, 
“bear”, …. để tạo sự mới lạ, hấp dẫn cho học sinh.
       Nhóm hoạt động vào đầu mỗi buổi học có tiết Tiếng Anh. Chỉ hoạt động  

b. Khuyến khích học sinh tập hát nhiều bài hát Tiếng Anh:

       Muốn học giỏi Tiếng Anh điều đầu tiên ta phải làm thế  nào cho trẻ  em 
yêu thích nó. Âm nhạc chính là cầu nối sẽ  giúp các em đến gần môn học này 
hơn để thấy rằng Tiếng Anh thật thú vị và bổ ích.
       Ngoài những bài hát trong chương trình học tôi còn sưu tầm trên internet, 
băng, đĩa một số  bài phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi để  dạy các em. Lứa tuổi  
học sinh tiểu học rất năng động và thích hát, những bài có tiết tấu vui nhộn  
càng   làm   các   em   thích   thú   như:   “   head,   shoulders,   knees   and   toes”;   “fingers 
family”; “hokey. Pokey”.... Thông qua đây học sinh sẽ chăm học Tiếng Anh hơn.
       Giáo viên cần giải thích ý nghĩa, nội dung bài hát để  học sinh hiểu, cảm 
thụ bài hát. Từ đó các em có hứng thú và hát hay hơn.
      Học sinh hát tập thể, nhóm và có thể  cho các em tự  chọn bạn hát chung  
với mình. Khi dạy bài hát mới tôi lồng ghép vào tiết làm bài tập tại lớp vừa 
giảm bớt căng thẳng vừa cung cấp thêm nhiều bài hát cho học sinh.
      Ngoài ra để  giúp học sinh nhanh thuộc cấu trúc câu, tôi thường chế  lại 
các cấu trúc theo lời các bài hát mà các em đã thuộc như: “kìa con bướm vàng”
      

c. Tận dụng tối đa trang ­ thiết bị có sẵn  

       Muốn học tốt các em phải được trang bị  đầy đủ  dụng cụ  học tập cũng 
như  tập sách. Còn giáo viên muốn tiết dạy sinh động cũng cần có các thiết bị 
kèm theo. Do đó cần khai thác triệt để những thiết bị sẵn có.
       Vào cuối năm học tôi kêu gọi các em tặng sách cũ cho nhà trường, nhà 
trường dùng sách đó để tặng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
       Huy động nguồn tài trợ từ các mạnh thường quân nhằm giúp các em khó  
khăn trang bị đầy đủ dụng cụ học tâp. Giáo viên tận dụng những trang ­ thiết bị 
sẵn có và có thể làm ra những đồ dùng dạy học phù hợp với các bài học và bảo  
quản chúng thật tốt để có thể tái sử dụng nhiều lần. 

là tâm trạng trông chờ đến tiết học. 
­ Kết quả kiểm tra cuối ki I, năm h
̀
ọc 2018­2019 của khối 5 như sau:

    

Khôí

5

Ki năng Noi  (25 điêm )
̃
́
̉

Tổng 
số 
học 
sinh

SL

103

32

Điểm
20­25



26,2

6

5,8

    
       Từ  kết quả  trên cho chúng ta thấy rõ nếu giáo viên có đầu tư  tốt vào 
giảng dạy, biết áp dụng mọi phương pháp phù hợp với năng lực của từng học 
sinh, phù hợp với tình hình chung của mỗi khối lớp thì chúng ta sẽ gặt hái được 
chất lượng và hiệu quả  cao hơn. Bên cạnh đó tạo được tình cảm tốt giữa 
“thầy và trò”, giữa “trò và trò”, học sinh cảm thấy yêu thích môn học mà mình  
phụ  trách. Để  từ  đó các em học tốt hơn và tạo nền tảng cho sự  phát triển sau  
này.
3.  PHẦN KẾT LUẬN
3.1. Ý nghĩa của sáng kiến
      Để  đạt được những thành quả  trên, bản thân tôi luôn nhận thức được 
trách nhiệm của mình. Tìm mọi biện pháp để  rèn luyện từng đối tượng học 
sinh, kích thích các em có hứng thú trong việc học ngoại ngữ ngay từ đầu. Làm 
được việc này chúng ta đã rèn luyện cho các em có thói quen học Tiếng Anh tốt. 
Để kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh của học sinh tiểu học đạt hiệu quả  cao, giáo 


viên cần thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức lớp học phong phú đa dạng, 
sử dụng phương pháp dạy  phù hợp với từng khối, lớp, đối tượng học sinh.
         Trong bất cứ nghề nghiệp hay công việc gì cũng đòi hỏi người làm phải 
có cái tâm và niềm đam mê. Có được điều này chắc chắn chúng ta sẽ  thành 
công. Nhiệm vụ truyền đạt kiến thức không ngoài khả  năng của một giáo viên  
nào cả. Nếu giáo viên có lòng quyết tâm, yêu nghề, mến trẻ, kiên trì, nhẫn nại,  

em yếu kém.
 
Bản thân giáo viên phải tự  rèn luyện nâng cao tay nghề  để  truyền đạt 
kiến thức cho các em ngày càng phong phú hơn.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi, rất mong nhận được sự góp 


ý của đồng nghiệp và cấp trên để  đề  tài của tôi càng phong phú và thiết thực  
hơn.
                                                            
                     Xin chân thành cảm ơn!




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status