âm điệu trong thơ HÀN MẠC TỬ - Pdf 58

m iu trong th Hn Mc T
GS.TSKH. Lý Ton Thng
Vin Ngụn ng hc

ỡnh nh, Quy Nhn, Ghnh Rỏng

Ln u tiờn tụi ang ng trc m Hn Mc T

Ln u tiờn tụi ang trũ chuyn vi Dz Kha - ngi dựng bỳt la lu gi th Hn...
Nhng ln vn trong u úc tụi li ang l mt s hi tng, chuyn ó mi mi lm nm
trc: mt v Giỏo s - Thy hc ca tụi, mt nh phờ bỡnh vn hc kh kớnh, khi ú cú bo tụi
rng theo ụng ngh õy thụn V D v Mựa xuõn chớn ca Hn Mc T l hai bi th trong
sỏng nht ca nn thi ca Vit Nam. (V tụi ó luụn tin vo iu y)

Vy sao bõy gi tụi khụng th bn lun v nú, t ch ng ngụn ng hc ca tụi? Cỏi p ca
vn chng cng rt cn nhng s chng minh khoa hc

*

V Hn Mc T ngi ta ó vit khỏ nhiu, nhng cú iu dng nh mi ngi ch chm chỳ
ti cỏi khỏc l trong ni dung v cm hng th ca ụng - t nhng yu t tr tỡnh, tng trng,
ri n siờu thc, n tụn giỏo... - nhng cỏi lm nờn mt Hn Mc T ch cú mt, tht (nh
Ch Lan Viờn tng vit). t ai bn sõu, bn k v cỏi khỏc l trong ngh thut th ụng, th By
ch, th Nm ch v cng ớt bn v nhc tớnh, v õm iu trong nhng dũng th y cm
giỏc ca ụng.
ú l mt iu ỏng tic; vỡ ỏnh giỏ cuc cỏch mng ngụn t (hay cỏch tõn) ca Th Mi rt
nhiu nh phờ bỡnh vn hc cng nh nhng nh th tờn tui u cho rng: khỏc hn Th
C, Th Mi rt giu nhc iu; s giu cú y l do Th Mi ó phn khỏng li vi nhng thi
iu khuụn thc theo Niờm, Lut, Vn, i ca Th C, nh thi s cú th ch th hn
mỡnh theo cỏi nhc cm huyn diu riờng ca ni tõm, luụn chuyn ng, bin hoỏ, khi thit
tha khi bỡnh lng, khi choỏng ngp khi mong manh

Cỏ cây chen lá đá chen hoa
- Câu 3: mô hình III “B B T T B B T”
Lom khom dưới núi tiều vài chú
- Câu 4: mô hình II “T T B B T T B”
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
- Câu 5: mô hình IV “T T B B B T T”
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
- Câu 6: mô hình I “B B T T T B B”
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
- Câu 7: mô hình III “B B T T B B T”
Dừng chân đứng lại trời, non, nước
- Câu 8: mô hình II “T T B B b/T T B”
Một mảnh tình riêng ta với ta

Như vậy, ở đây bốn mô hình Bằng Trắc đã không được sử dụng ngang nhau, mà có sự chênh
lệch như sau:

- 02 lần dùng mô hình I (câu thứ 2 và thứ 6)
- 03 lần dùng mô hình II (câu thứ 1, thứ 4 và thứ 8)
- 02 lần dùng mô hình III (câu thứ 3 và thứ 7)
- chỉ 01 lần dùng mô hình IV (câu thứ 5)

Tuy nhiên Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan là một bài thơ Thất ngôn bát cú làm
theo “luật Trắc”. Nếu làm theo “luật Bằng” như ở bài “Tự tình” (Canh khuya) của Hồ Xuân
Hương thì tỷ lệ nói trên sẽ thay đổi như sau:

- 03 lần dùng mô hình I (câu thứ 1, thứ 4 và thứ 8)
- 02 lần dùng mô hình II (câu thứ 2 và thứ 6)
- chỉ 01 lần dùng mô hình III (câu thứ 5)
- 02 lần dùng mô hình IV (câu thứ 3 và thứ 7)

- mụ hỡnh I:
Con thuyn xuụi mỏi nc song song
- mụ hỡnh III:
Thuyn v nc li su trm ng
- mụ hỡnh II:
Ci mt cnh khụ lc my dũng

Cỏch sp xp bn mụ hỡnh thanh iu kh m u ny ca Huy Cn ging nh nhiu bi
Tht ngụn t tuyt m ta ó gp, vn c ct khỳc ra t bn cõu gia ca bi Tht ngụn bỏt
cỳ, kiu nh bn cõu sau trong T tỡnh ca H Xuõn Hng:

- Cõu 3: mụ hỡnh IV
Chộn ru hng a say li tnh
- Cõu 4: mụ hỡnh I
Vng trng búng x khuyt cha trũn
- Cõu 5: mụ hỡnh III
Xiờn ngang mt t rờu tng ỏm
- Cõu 6: mụ hỡnh II
õm toc chõn mõy ỏ my hũn

Th Tht ngụn bỏt cỳ thờng đợc làm theo những Thể thanh (điệu) nhất định, tính theo
ting thứ hai (th nht v th sỏu) của cõu th m u bi th. Nếu đó là nhng tiếng
Trắc, thì ta có Thể Trắc; cũn nếu đó là nhng tiếng Bằng, ta sẽ có Thể Bằng. Cu trỳc nhạc
iu của cả câu thơ nhiu khi là khởi phát từ Th thanh này: nó chi phối các tiếng tiếp theo của
câu thơ, xếp đặt chúng theo những khuôn Bằng Trắc nhất định. Vi Huy Cn, dựng ting
gn (ting súng v ting ip), ụng ó chn cho Trng giang mt Th Trc:

Súng gn trng giang bun ip ip

Trong c bn cõu th, 28 ting, ca kh th, Huy Cn ch bin cỏch duy nht cú 01 ln (theo

a) Cắt khúc bốn câu đầu (1, 2, 3, 4), với 03 khuôn Bằng Trắc.
b) Cắt khúc bốn câu cuối (5, 6, 7, 8), với 04 khuôn Bằng Trắc.
c) Cắt khúc bốn câu giữa (3, 4, 5, 6), với 04 khuôn Bằng Trắc, như Huy Cận đã làm.
d) Cắt khúc hai câu đầu và hai câu cuối (1, 2, 7, 8), với 03 khuôn.
Bằng Trắc.

Hàn Mạc Tử cũng rất đặc biệt ở câu mở đầu khổ thơ. Ông biến cách đặt thanh Bằng vào tiếng
thứ ba (không), và nhất là ông đã táo bạo phá cách (thất lệ) ở tiếng thứ tư: đặt một thanh
Bằng (về) thay vì theo thi luật vị trí này phải là một thanh Trắc (theo lệ “Nhị Tứ Lục phân
minh”). Giá sử rằng đã từng thoáng qua trong tâm trí ông một thanh Trắc như thế (để đúng luật
thơ!):
Sao anh không ghé chơi thôn Vĩ ?

hay giá sử rằng đã từng thoáng qua trong tâm trí ông một thanh Bằng cao hơn:

Sao anh không ra chơi thôn Vỹ ? (từ Quy Nhơn ra Huế)
hay giá sử xuôi tai hơn, nhưng… tầm thường hơn:
Thôn Vĩ sao anh không về chơi ?

Nhưng đó sẽ là một tình ý khác, một thanh âm khác… và đó không thể là cái cách của ông.
Ông phải như Thôi Hiệu kia, phá luật trong Hoàng Hạc lâu:

Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du...
(Người xưa cưỡi hạc đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn thu mây trắng bây giờ còn bay)

của hai câu thơ ấy, ta sẽ thấy rõ hơn, bằng cảm quan thị giác, cái thanh thoát của Hàn Mạc Tử
đối lại với cái trúc trắc của Huy Cận:

+ câu mở đầu Đây thôn Vĩ Dạ:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ + câu mở đầu Tràng giang:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Mở rộng hơn sự so sánh, ta có thể thêm vào đây hai câu thơ mở đầu những bài thơ rất hay
của Chế Lan Viên và Xuân Diệu; song cái cảm quan ấy về sự trong sáng và u tối hình như
không có gì thay đổi trong ta - rõ một bên là Đây thôn Vĩ Dạ và Thu, rõ một bên khác là Tràng
giang với Nguyệt cầm:
- Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?
- Chao ôi ! Thu đã tới rồi sao !

(Chế Lan Viên)

- Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
- Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh

(Xuân Diệu)


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status