Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành rửa tay bằng xà phòng của các bà mẹ người Mông đang nuôi con dưới 5 tuổi tỉnh Sơn La và hiệu - Pdf 58


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG

BÙI HỮU TOÀN

THỰC TRANG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC,
THỰC HÀNH RỬA TAY
BẰNG XÀ PHÒNG CỦA CÁC BÀ MẸ NGƯỜI MÔNG ĐANG NUÔI
CON DƯỚI 5 TUỔI TỈNH SƠN LA VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP

CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ

: Vệ sinh xã hội học và Tổ chức Y tế

: 62 72 01 64

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC

HÀ NỘI – 2018


CÔNG TRÌNH NÀY ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG
Hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Huy Nga
GS.TS. Phùng Đắc Cam

: Chỉ số hiệu quả
RTBXP : Rửa tay bằng xà phòng
DTTS
: Dân tộc thiểu số
THCS
: Trung học cơ sở
ĐTNC
: Đối tượng nghiên cứu
TTGDSK : Truyền thông- Giáo dục
sức khỏe
HQCT
: Hiệu quả can thiệp
UNICEF : Quỹ Nhi đồng Liên hiệp
quốc
NS&VSMT : Nước sạch và vệ sinh
VSMT
: Vệ sinh môi trường
môi trường
QLMTYT : Quản lý môi trường y tế WHO
: Tổ chức Y tế thế giới
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), hàng năm vẫn
còn có khoảng 1,9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi ở các quốc gia nghèo chết do tiêu
chảy. Thống kê các bệnh truyền nhiễm của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế cho
thấy khoảng một nửa các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc cao nhất là những
bệnh có liên quan tới nước sạch, vệ sinh môi trường và các hành vi vệ sinh cá
nhân trong đó hành vi rửa tay.
Rửa tay bằng xà phòng (RTBXP) được coi là cách phòng bệnh có chi phí
thấp nhất nhưng lại mang lại hiệu quả phòng các bệnh tiêu chảy, giun sán, nhiễm
khuẩn hô hấp cao hơn so với các biện pháp khác trong các chương trình can thiệp

con dưới 5 tuổi tỉnh Sơn La và hiệu quả can thiệp” với các mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành rửa tay bằng xà phòng của các bà mẹ
Mông đang nuôi con dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Sơn La năm
2013 - 2014 .
2. Đánh giá hiệu quả can thiệp Truyền thông - Giáo dục sức khỏe đối với hành vi
rửa tay bằng xà phòng của đối tượng nghiên cứu năm 2014 - 2016.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC THỰC TIỄN
CỦA LUẬN ÁN
- Đánh giá hiệu quả can thiệp và cơ sở cho việc nhân rộng : Nghiên cứu
đã đưa ra kênh TT-GDSK trực tiếp (thăm hộ gia đình và thảo luận nhóm) là
hoạt động chính dựa vào lực lượng y tế thôn bản sẵn có của chương trình y tế
nông thôn. Trong điều kiện nguồn kinh phí cho hoạt động RTBXP ở một địa
phương với nhóm dân đặc biệt (phụ nữ Mông) còn chưa có ở huyện Vân Hồ
thì đây là một điểm mới và mạnh của luận án. Sau thời gian can thiệp hơn 01
năm, hiệu quả của các can thiệp đã được đánh giá bằng các số liệu thống kê y
tế có độ tin cậy, là cơ sở cho việc nhân rộng ra những khu vực khác có điều
kiện tự nhiên –xã hội tương tự.


3
- Xây dựng nội dung hoạt động can thiệp cụ thể, có tính khả thi và bền
vững: Nghiên cứu đã dựa trên đặc điểm thực tế của cộng đồng người Mông,
nhu cầu từ cộng đồng và dựa trên việc lồng ghép vào nội dung hoạt động của Y
tế thôn bản. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp các dữ liệu cơ bản làm bằng
chứng khoa học xây dựng kế hoạch đưa hoạt động RTBXP vào cộng động dân
tộc ít người.
- Cung cấp kiến thức RTBXP cho nhóm dân đặc biệt là phụ nữ Mông:
Nghiên cứu đã xây hoạt động lồng ghép can thiệp hiệu quả phù hợp về nội
dung và hình thức nhằm nâng cao kiến thức và thực hành RTBXP. Hiệu quả
của nghiên cứu đã tạo ra môi trường thuận lợi cho nhóm dân đặc biệt một cách

đít cho trẻ là 25% và sau khi dọn phân/đổ bô cho trẻ là 29,3%.
Truyền thông - Giáo dục sức khỏe là một phương tiện hữu hiệu để thay
đổi thói quen truyền thống như sử dụng màn và màn tẩm hóa chất xua diệt
mu i phòng chống bệnh sốt rét, thói quen ăn gỏi cá của người dân trong các
vùng lưu hành bệnh sán lá gan và thói quen sử dụng bao cao su trong việc
phòng chống lây nhiễm qua đường tình dục như AIDS... là không thể thay đổi
trong giai đoạn ngắn. Sự tuyên truyền giáo dục kiên trì và liên tục nhấn mạnh
vào lợi ích việc nằm màn, của nấu chín cá nước ngọt được coi là biện pháp có
hiệu quả để phòng, chống các bệnh này. Tỷ lệ không rửa tay xà phòng rất cao ở
một số dân tộc thiểu số (DTTS) như Ba Na, Ra glai, Bru-Vân Kiều, Gia Rai,
Mnông, Ê Đê. Nếu lấy tỷ lệ người rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi
đi đại tiện và sau khi tiểu tiện của dân tộc Thái bằng 1, thì tỷ lệ đó ở nhóm
Kinh-Hoa cao gấp từ 3-4 lần có ý nghĩa thống kê; một số dân tộc như Mường,
Dao, Ba Na, Ê Đê, Ra glai đều kém hơn so với dân tộc Thái.
Các nghiên cứu về sức khỏe, dân tộc Mông tập trung chủ yếu vào các bệnh
mang tính chất lưu hành địa phương như Bướu cổ, sốt rét. Các bệnh nhiễm trùng
được Nghiên cứu có đề cập đến DTTS được triển khai trên bình diện rộng nhất
hiện nay là nghiên cứu Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt
Nam (SAVY) năm 2003 do Bộ Y tế, WHO, UNICEF tiến hành.
Các nghiên cứu cũng đã xác định được một rào cản lớn trong hoạt động
truyền thông tại cộng đồng DTTS như: Hầu hết các DTTS đều có trình độ dân
trí thấp, tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ cao và khả năng sử dụng tiếng phổ thông
còn hạn chế, đặc biệt là nhóm nữ. Tỷ lệ đối tượng không tiếp cận được với các
phương tiện truyền thông đại chúng rất cao.
Các nghiên cứu về TTGDSK trong phòng chống bệnh truyền nhiễm cũng
được đề cập trong nghiên cứu của Nguyễn Huy Nga, Trịnh Hữu Vách nhưng
chỉ đề cập ít đến người Mông. Chưa có nghiên cứu sâu về người Mông và vấn
đề sức khỏe.



2.3.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu trong nghiên cứu can thiệp.
Chọn chủ đích 12 bản Mông đã được chọn trong nghiên cứu nền thuộc 3 xã
Chiềng Xuân, Loóng Luông và Vân Hồ của huyện Vân Hồ vào nhóm can thiệp .


6
2.5. Các khái niệm, thƣớc đo, tiêu chuẩn đánh giá
- Tỉ lệ hộ có nguồn nước sử dụng và tính sẵn có nguồn nước rửa tay;
- Tỉ lệ hộ có xà phòng và tính sẵn có;
- Tỉ lệ % bà mẹ hiểu biết về RTBXP;
- Tỉ lệ bệnh đường hô hấp hàng năm trên 1000 trẻ.
2.6. Xây dựng nội dung và hình thức can thiệp.
2.6.1. Xác định các vấn đề cần can thiệp
Các hoạt động can thiệp vào cộng đồng đích. Các nội dung của mô hình
can thiệp được xây dựng nhằm khắc phục các rào cản trong hoạt động truyền
thông tại cộng đồng DTTS đã được xác định.
Phương pháp can thiệp: Sử dụng phương pháp và tài liệu truyền thông
cộng đồng đích.
Tài liệu truyền thông được sử dụng trong hoạt động can thiệp tại cộng
đồng là các đĩa VCD, tờ rơi, áp phích được in bằng 2 thứ tiếng
- Tờ rơi được in bằng 2 thứ tiếng thông qua các buổi truyền thông trực
tiếp hoặc qua các buổi họp nhóm.
Nội dung tài liệu truyền thông phù hợp với đặc điểm phong tục tập quán
địa phương.
2.6.2. Chương trình can thiệp tại cộng đồng.
Các hoạt động truyền thông can thiệp tại cộng đồng dự kiến được tổ chức
trong vòng 1 năm, từ tháng 9/2014 đến tháng 9/2015.
2.7. Chỉ số đánh giá kết quả can thiệp
2.7.1. Chỉ số về các hoạt động can thiệp đã thực hiện
- Số cán bộ được tập huấn về kỹ năng truyền thông, Số già làng, trưởng

Mẫu gợi ý trong điều tra chuyên sâu (Phiếu QXP5)
2.9. Quản lý, phân tích, sử dụng số liệu
2.9.1. Nhập số liệu
- Số liệu thu thập được nghiên cứu sinh rà soát và được hai người độc
lập, nhập số liệu hai lần riêng rẽ dựa vào phần mềm Epidata 3.1.
2.9.2. Kế hoạch làm sạch số liệu
2.9.3. Phân tích số liệu
- Số liệu do nghiên cứu sinh quản lý và phân tích với phần mềm SPSS 16.0;
- Các phương pháp phân tích thống kê mô tả và phân tích được sử dụng;
- Số liệu của hai lần thực hiên phỏng vấn trước và sau can thiệp được so
sánh với nhau để đánh giá hiệu quả của can thiệp.
2.10. Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ quy định đạo đức trong nghiên cứu y sinh học đã
được Hội đồng đạo đức của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương phê duyệt số
023/2010/YTCC-HD3 ngày 24/5/2010.


8
2.11. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
Để khắc phục tối đa sai số thông tin, cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu
(ĐTNC) của điều tra viên (ĐTV) sẽ được đặc biệt chú ý. Nghiên cứu sẽ chọn
những ĐTV là người hiểu rõ phong tục tập quán của người Mông, có kinh
nghiệm giao tiếp với người Mông. Sử dụng một phiên dịch là người Mông và
là cán bộ y tế của bản biết thành thạo tiếng Kinh.
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng kiến thức và thực hành rửa tay bằng xà phòng của các bà
mẹ Mông đang nuôi con dƣới 5 tuổi.
3.1.1. Đặc điểm về dân số học về đối tượng nghiên cứu



28,1

32,3

30,3

48,3

41,4

44,3

23,6

26,3

25,4

Cộng
chung
n=508

So
sánh
(p)

25
59,3
15,7

64,3
49,7
57,0
>0,05
nhập/tháng Tỉ lệ hộ trung bình và
19,4
33,3
26,3
>0,05
khá (%)
Tỉ lệ Nông dân (%)
82,0
84,3
83,1
0,05
chức (%)
Bảng 3.2. Cho biết các bà mẹ được điều tra làm nông nghiệp là chủ yếu
(83,1%). Dựa theo chuẩn nghèo của Việt Nam 2012 có 73,7% số bà mẹ đang
sống trong các hộ gia đình nghèo và cận nghèo. Kết quả điều tra quan sát cho
biết nguồn thu nhập của các gia đình chủ yếu từ sản xuất trồng trọt (Ngô và cây
ăn quả như Mận, Đào).
3.1.2. Đặc điểm một số yếu tố liên quan đến rửa tay bằng xà phòng.
3.1.2.1. Nguồn nước và tính sẵn có tại các hộ bà mẹ Mông.


Mai Sơn
n=254
Số
Tỉ lệ
lượng
%
200
78,7
72
28,2
198
78,0
103
40,6

Cộng chung
n=508
Số
Tỉ lệ
lượng
%
421
82,9
232
45,7
416
82,0
209
41,2


144

56,7

174

68,3

318

62,5

Khác

46

18,0

48

19,0

94

18,5

p>0,05

Không biết

76,8
185
72,8
380
74,8
Có bàn
Rửa tay
51
20,1
52
20,5
103
20,3
tay sạch
RTBXP
8
3,1
17
6,7
25
4,9
Bảng 3.9 cho kết quả: Chỉ có 25,2% bà mẹ trả lời phải rửa tay và 74,8%
các bà mẹ trả lời không biết. Khi được hỏi cần rửa tay khi nào, chỉ có 16,5%
các bà mẹ Mông trả lời cần rửa tay trước khi ăn, tỉ lệ cần rửa tay sau khi đi vệ
sinh của bà mẹ Mông thấp (9,6%) sau khi đi đại tiện và 9,4% sau tiểu tiện).
3.1.3.3. Thực hành rửa tay bằng xà phòng
Bảng 3.10 cho biết: có 51,5% nói đã rửa tay sau khi vệ sinh, 46,2% có
rửa tay trước khi ăn, 42,3% đã rửa tay sau khi lao động và 38,5% nói đã rửa
tay sau khi cho trẻ đi vệ sinh.


79
Nghèo, cận nghèo
190
375
Thu nhập
1,4(0,9-2,8)
0,9
Không nghèo
79
133
Dưới TTCS
71
154
Trình độ
1,4(1-2,2)
Thu nhập
Nghề
nghiệp

Dưới TTCS

121

101

Từ TTCS trở lên
Nghèo, cận nghèo
Không nghèo
Làm nông nghiệp
Cán bộ, công nhân

120
203
38
225
16

234
247
88
278
57

2,3
(1,2-2,9)

95%CI
Không đạt
72
95
Kiến
1,1
0,91
thức
(0,7-1,8)
Đạt
169
240
Nguồn nước cách trên 5m
116
168
0,75
0,24
(0,5-1,3)
125
167
Tính sẵn Nguồn nước dưới 5 m

Không có xà phòng
5
8
1,6
0,54
(0,7-1,9)
Có xà phòng
236

các bà mẹ Mông ở huyện Vân Hồ là 95,4% cao hơn ở huyện Mai Sơn (44%).
Loại hình kênh truyền thông chủ yếu đến với các bà mẹ ở Vân Hồ qua thông
tin đại chúng (tivi, loa truyền thanh), qua cán bộ y tế và hội họp cao hơn ở
huyện Mai Sơn lần lượt là 95,4/39,8; 94,3/39,1; 79,1/7,9.
3.3.2.2. Kết quả đ u ra các hoạt động can thiệp.
Sau một năm tiến hành các hoạt động TTGDSK tại 3 xã can thiệp của huyện
Vân Hồ, các chỉ số đều tăng lên: 95,4% các bà mẹ nhận được thông tin RTBXP từ
các kênh truyền thông, Thông tin RTBXP các bà mẹ nhận được qua tivi, truyền
thanh tăng từ 29,9% lên 93,5%, sau can thiệp tỉ lệ thông tin do cán bộ y tế tăng từ
37% lên 94,3% và từ hội họp, thảo luận nhóm từ 3,5% lên 79,1% và chỉ số hiệu
quả của 3 loại kênh thông tin lần lượt là 212,6/154,8/2132.
3.3.3. iệu quả can thiệp của các hoạt động truyền thông.
3.3.3.1. iệu quả tăng tỉ lệ nguồn thông tin các bà mẹ được tiếp c n.


15
Bảng 3.2 .

iệu quả can thiệp của các kênh TTGDSK
CSHQ
Nguồn thông tin
HQCT
p
Can thiệp Nhóm chứng
Biết thông tin
103,5
3,5
100

tất cả công việc như rửa tay, giặt quần áo, rửa chén bát và gọi chung là “xà phòng”.
3.3.3.3. iệu quả can thiệp và kiến thức rửa tay bằng xà phòng
Bảng 3.2.3.

iệu quả nâng cao kiến thức RTBXP của các bà mẹ nhóm
can thiệp
Kiến thức RTBXP
Trước can thiệp Sau can thiệp
CSHQ
p
Số điều tra
n=254
n=263
Đạt
Tỉ lệ %
53,2
73,4
38,1



16
Bảng 3.25 cho biết khác nhau về sự thay đổi kiến thức RTBXP giữa hai
nhóm can thiệp và chứng, CSHQ ở các bà mẹ của nhóm can thiệp tăng 38,1%
còn nhóm chứng chỉ tăng 0,7% với HQCT=37,4 (p


iệu quả can thiệp thực hành rửa tay, rửa tay xà phòng của các
bà mẹ khi cho trẻ đi đại tiện.
Nhóm can thiệp
Nhóm chứng
Thực hành
HQCT
p
Số lượng CSHQ Số lượng CSHQ
Có rửa tay
Có rửa tay
xà phòng

14/35

358

15/31

307

49

>0,05

8/32

647

3/2

3.5. Tình hình mắc một số bệnh có liên quan đến rửa tay bằng xà phòng

Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ trẻ mắc bệnh tiêu chảy trên 1
trẻ của hai nhóm
từ 2 13-2016.
Nhận xét: Tỉ lệ tiêu chảy ở nhóm can thiệp giảm từ 38,7/1000 (2013) trẻ
còn 24,8/1000 trẻ (2016). Ở nhóm chứng tỉ lệ này cũng giảm từ 33,8/1000 trẻ
(2013) xuống 21,8/1000 trẻ (2016).


19

Biểu đồ 3.7 Tỉ lệ trẻ mắc bệnh đường hô hấp trên 1
2013-2016.

trẻ của hai nhóm từ

Biểu đồ 3.7 cho biết tỉ lệ bệnh đường hô hấp của trẻ ở hai nhóm đều giảm
nhưng mức độ giảm trẻ ở nhóm can thiệp rõ hơn từ 203,7/1000 trẻ xuống
152,6/1000 trẻ (p
thế nào sau khi đi tiểu tiện.
Quan sát trực tiếp hành vi của các bà mẹ trước khi cho con ăn trong
nghiên cứu của chúng tôi cho biết chỉ có 13,2% bà mẹ RTBXP thấp hơn nhiều
kết quả trả lời phỏng vấn của của bà mẹ người Mông rửa tay trước khi cho trẻ
ăn (46,2%), điều này minh chứng cho sự cần thiết của nghiên cứu quan sát trực


21
tiếp các hành vi để đánh giá thực trạng của các nghiên cứu định tính và củng cố
thêm nhận định của Cục YTDP năm 2011 khi tiến hành nghiên cứu can thiệp
trên các bà mẹ người Kinh nuôi con dưới 5 tuổi.
Thói quen RTBXP trước khi ăn và sau khi đại, tiểu tiện giúp loại bỏ mầm
bệnh theo tay bẩn xâm nhiễm vào thức ăn, nước uống, vào cơ thể gây ra những
bệnh tật nguy hiểm cho con người. Theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế Việt
Nam: Việc không RTBXP vào các thời điểm quan trọng như trước khi ăn, sau
khi tiểu/đại tiện, trước khi cho con ăn và sau khi chăm sóc trẻ,… đang làm gia
tăng các bệnh tiêu chảy, tả, lỵ, giun sán. Đây là các bệnh rất phổ biến và chiếm
tỷ lệ cao trong số các bệnh thường gặp ở các vùng nông thôn Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho biết kiến thức RTBXP của nhóm
can thiệp tăng từ 53,2% lên 73,4%, CSHQ tăng 38,5% (p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status