Thực trạng nhiễm và một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó, mèo (toxocara spp ) của các đối tượng khám tại bộ môn ký sinh trùng – trường đại học y hà nội - Pdf 48

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
=====***=====

CAO VÂN HUYỀN

THỰC TRẠNG NHIỄM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM ẤU TRÙNG GIUN ĐŨA
CHÓ/MÈO (Toxocara spp.) CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG
KHÁM TẠI BỘ MÔN KÝ SINH TRÙNG –
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Chuyên ngành

: Động vật học

Mã số

: 60420103

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
Cán bộ hướng dẫn
TS. PHẠM NGỌC DOANH

Hà Nội - 2017


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo,
quý thầy cô phòng Đào tạo sau đại học, phòng Ký sinh trùng cùng các thầy cô,
các nhà khoa học tại Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật – Viện hàn lâm khoa


ABZ

Albendazole

BCAT

Bạch cầu ái toan

cs

Cộng sự

CT

Cắt lớp vi tính

ELISA

Enzym – linked immune sorbent assay
(Phản ứng miễn dịch gắn men)

MBZ

Mebendazole

MRI

Cộng hưởng từ


2.2.1. Xác định tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở các đối tượng
có dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ nhiễm Toxocara spp. đến khám và
làm xét nghiệm tại Bộ môn Ký sinh tùng - Trường đại học Y Hà Nội.
........................................................................................................ 17
2.2.2. Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa
chó/mèo. ......................................................................................... 17
2.3. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 17


2.3.1. Cỡ mẫu nghiên cứu ........................................................................ 17
2.3.2. Kỹ thuật xét nghiệm ELISA tìm kháng thể chống ấu trùng giun đũa
chó/mèo .......................................................................................... 18
2.3.3. Xét nghiệm công thức bạch cầu ..................................................... 21
2.3.4. Phương pháp điều tra hiểu biết và hành vi phòng chống bệnh ...... 21
2.3.5. Xử lý số liệu ................................................................................... 22
2.3.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu .................................................. 22
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................... 24
3.1. Thực trạng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở đối tượng nghiên cứu..... 24
3.1.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu .............................................. 24
3.1.2. Kết quả xét nghiệm ELISA và BCAT............................................ 24
3.1.3. Triệu chứng lâm sàng ..................................................................... 27
3.1.4. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo theo giới tính .................. 29
3.1.5. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo theo nhóm tuổi ............... 30
3.2. Một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo .......... 31
3.2.1. Kiến thức hiểu biết và hành vi của nhóm nghiên cứu đối với bệnh ấu
trùng giun đũa chó mèo .................................................................. 31
3.2.2. Mối liên quan giữa nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo và một số yếu
tố nguy cơ lây nhiễm ...................................................................... 34
3.2.3. Mối liên quan nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo với thói quen, tập
quán sinh hoạt ................................................................................. 39

Hình 3.1: Hình ảnh chứng âm, dương, mẫu (+), (-) và kết quả giá trị OD ..... 25


1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Toxocariasis là tên gọi của bệnh do ấu trùng giun đũa chó Toxocara canis
hoặc ấu trùng giun đũa mèo Toxocara cati gây nên ở người. Đây là bệnh lây
truyền từ động vật sang người [49, 31]. Trong chu kỳ phát triển, giun trưởng
thành ký sinh ở ruột vật chủ chính tự nhiên là chó/mèo. Giun cái trưởng thành
đẻ trứng, trứng ra ngoài môi trường theo phân vật chủ. Phôi trong trứng phát
triển qua các giai đoạn ấu trùng L1, L2 và L3.Trứng chứa ấu trùng L3 có khả
năng lây nhiễm. Nếu chó/mèo nuốt phải trứng đã có ấu trùng L3 thì chúng sẽ
phát triển thành giun trưởng thành ký sinh ở ruột. Con người không phải là vật
chủ thích hợp của giun đũa chó/mèo, khi vô tình ăn phải trứng có chứa ấu trùng
L3 hoặc ăn thịt của vật chủ khác có chứa ấu trùng [49, 31] thì ấu trùng thoát vỏ
xâm nhập thành ruột và theo đường máu đến gan, phổi, mắt, hệ thần kinh trung
ương và những cơ quan khác trong cơ thể người hoặc di chuyển dưới da. Ở
những cơ quan này, ấu trùng di chuyển hàng tuần hay hàng tháng hoặc nằm im
thành những vật lạ gây viêm và kích thích tạo ra u hạt thâm nhiễm bạch cầu ái
toan [49, 31].
Bệnh giun đũa chó/mèo xuất hiện ở mọi nơi trên thế giới, đặc biệt là ở
các nước nhiệt đới. Tỷ lệ nhiễm bệnh cao thường xuất hiện ở những vùng nuôi
nhiều chó/mèo và dân trí thấp. Nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo tác động đến
cơ thể người một cách âm ỉ kéo dài (ấu trùng có thể sống trong cơ thể người
đến 10 năm) làm ảnh hưởng đến sức khỏe, thể chất lẫn tinh thần người bệnh.
Tại Việt Nam trước đây, bệnh giun đũa chó /mèo được xem là bệnh ít
gặp. Tuy nhiên, những năm gần đây tỷ lệ người dương tính với kháng thể kháng
Toxocara spp. ngày càng nhiều. Hiện nay, bệnh này được xem là bệnh ký sinh

3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Khái quát chung về giun đũa chó mèo và bệnh ấu trùng giun đũa
chó/mèo ở người
1.1.1. Tác nhân gây bệnh và vòng đời phát triển
Tác nhân gây bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo là giun tròn thuộc giống
Toxocara, họ Toxocaridae, liên họ Ascaridiodea, bộ Ascaridida. Giống Toxocara
gồm nhiều loài ký sinh ở các loài động vật khác nhau, tuy nhiên chỉ có 2 loài được
ghi nhận là gây bệnh ở người, đó là Toxocara canis ký sinh ở chó và Toxocara cati
ký sinh ở mèo [49, 31].
Hình thái học giun đũa chó/mèo:
Giun đũa chó/mèo có màu vàng trắng, phân tính đực cái. Con cái (9 - 18
cm) lớn hơn con đực (4 - 10 cm). Tử cung con cái trưởng thành chứa đầy trứng
hình bán thùy, dày, vỏ xù xì, kích thước 90 x 75 µm [35].
Vòng đời phát triển của giun đũa chó/mèo (hình 1.1)
Trong vòng đời phát triển, giun đũa chó/mèo trưởng thành ký sinh ở ruột
chó/mèo, chúng thải trứng ra ngoài theo phân vật chủ. Sau 1 - 3 tuần, phôi phát triển
thành ấu trùng qua các giai đoạn L1, L2, L3 ở trong trứng. Trứng chứa ấu trùng L3
có thể nhiễm cho vật chủ. Khi chó, mèo nuốt phải trứng giun đũa đã chứa ấu trùng
L3. Ở ruột non chó/mèo với điều kiện thích hợp ấu trùng thoát khỏi trứng, chui
qua thành ruột, theo dòng máu đến gan, tim, phổi và sau đó trở về lại ruột non
phát triển thành giun trưởng thành và bắt đầu sinh sản, đẻ trứng.
Con cái có thể đẻ khoảng 200.000 trứng/ngày [23]. Trứng giun đũa
chó/mèo được thải ra ngoài theo phân vật chủ. Trong đất, trứng có thể bảo tồn
khả năng sống và khả năng gây bệnh trong thời gian dài, có thể tới 1 năm trong
điều kiện thuận lợi [22].


4

- Con đường nhiễm bệnh giun đũa chó/mèo
Ở chó/mèo:
o Nhiễm trực tiếp qua đường tiêu hóa do nuốt phải trứng nhiễm ấu trùng.
o Gián tiếp qua ăn các động vật khác bị nhiễm ấu trùng.
o Nhiễm qua bào thai.
Ở người:
o Qua ăn thức ăn bị nhiễm trứng giun đũa chó/mèo, hoặc đất, nước.
o Qua tiếp xúc với chó/ mèo khi chăm sóc, chơi hoặc ngủ cùng chó mèo.
o Qua ăn thịt các động vật khác bị nhiễm ấu trùng.
1.1.3. Đặc điểm lâm sàng của bệnh giun đũa chó/mèo ở người
Phụ thuộc vào mức độ nhiễm ấu trùng giun nhiều hay ít và tính nhạy của
người bệnh mà thời gian ủ bệnh từ vài tuần đến vài tháng.
Đặc điểm lâm sàng của bệnh rất đa dạng, phụ thuộc rất nhiều vào số
lượng, vị trí ký sinh của ấu trùng và đáp ứng của cơ thể người bị nhiễm.


6

Thông thường người bệnh có các triệu chứng toàn thân như: mệt mỏi, ăn
không ngon, thể trạng kém, sốt bất thường và bị dị ứng (nổi mẩn ngứa, nổi
ban mày đay…).

Hình 1.2: Triệu chứng mẩn ngứa trên bệnh nhân
Nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo thường gây các hội chứng chính
như sau: ấu trùng di chuyển nội tạng (Visceral larva migrans = VLM), ấu
trùng di chuyển ở mắt (Ocular larva migrans = OLM), thể không điển hình,
thể thần kinh (Neurological toxocariasis).
- Ấu trùng di chuyển nội tạng (Visceral larva migrans = VLM)
Thể bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng ở người đầu tiên được phát hiện
năm 1952, ở trẻ em bị gan to và tăng bạch cầu ái toan [26]. Bệnh nhân VLM

bào/mm3), tăng nồng độ kháng thể IgE (trung bình, 851 IU/ml). Hội chứng này
được gọi là "phổ biến" ở người lớn [48].
Tại Ai-len, triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất ở trẻ em là sốt, chán
ăn, nhức đầu, đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, rối loạn hành vi và ngủ, viêm
họng, viêm phổi, ho, thở khò khè, đau chân tay, viêm hạch. Hai bảy phần trăm


8

bệnh nhân có hàm lượng kháng thể kháng Toxocara có hàm lượng bạch cầu ái
toan bình thường. Thể bệnh này gọi là thể ẩn tính.
- Thể thần kinh (Neurological toxocariasis)
Ấu trùng giun đũa chó/mèo di chuyển trong não vật chủ. Từ năm 1950
đến nay, gần 20 trường hợp bệnh ấu trùng giun đũa ở não người đã được xác
định qua hình ảnh ấu trùng Toxocara trong dịch não tủy, mô não, màng não,
và/ hoặc chẩn đoán miễn dịch trên dịch não tủy [33]. Cũng như VLM, dấu hiệu
lâm sàng của các rối loạn thần kinh là không đặc hiệu [46], dẫn tới khả năng có
thể chẩn đoán nhầm tình trạng này.
Chẩn đoán bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người
Chẩn đoán bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo tương đối khó khăn vì các
triệu chứng lâm sàng đa dạng và thường không đặc hiệu. Nếu thấy có các triệu
chứng mề đay, mẩn ngứa, sốt kéo dài, ho, thở khò khè, triệu chứng thần kinh,
tổn thương ở mắt…. thì cần nghĩ tới nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo và kết
hợp thực hiện các phương pháp chẩn đoán khác để khẳng định, bao gồm các
phương pháp sau:
- Tìm hiểu tiền sử bệnh nhân: có tiếp xúc với chó/mèo hay các hoạt động
liên quan đến tiếp xúc với nguồn bệnh không, như nghịch đất, mút tay, ăn rau
sống....
Chẩn đoán hình ảnh:
Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh có thể được sử dụng để phát hiện và xác

blot (WB), với độ nhạy cũng như ELISA, và khá đặc hiệu khi các băng trọng
lượng phân tử thấp hơn, từ 24 đến 35 kilodalton [44]. Một bộ kit thương mại
hiện được cung cấp ở Châu Âu cho kết quả rất tốt.
Các xét nghiệm phản ứng miễn dịch gắn men (ELISA) sử dụng các kháng
nguyên được tiết ra bởi ấu trùng giai đoạn hai, có độ đặc hiệu thích hợp để chẩn
đoán nhiễm bệnh. Kháng nguyên tái tổ hợp đã được sản xuất từ ấu trùng giai
đoạn 2 hứa hẹn độ đặc hiệu cao hơn kỹ thuật đáng tin cậy hiện hành (khoảng


10

92%). ELISA có độ nhạy cao (khoảng 78%), ở nồng độ huyết thanh lớn hơn
1/32.
Phát hiện các loại globulin miễn dịch khác ngoài IgG có thể hữu ích trong
chẩn đoán phân biệt. Tăng nồng độ IgE đặc hiệu với kháng nguyên TES - Ag,
được đo bằng kỹ thuật miễn dịch - phóng xạ và ELISA [45] đã được xác định
ở bệnh nhân có dấu hiệu lâm sàng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo.
ELISA xác định kháng thể IgG trong huyết thanh đặc hiệu với Toxocara
spp. ít nhạy cảm hơn đối với chẩn đoán thể mắt OLM so với các dạng bệnh
khác [37]. Vì vậy, cần thu nước hoặc dịch lỏng ở mắt khi nghi ngờ thể bệnh ở
mắt. Kháng thể chống lại Toxocara spp. trong những chất lỏng này cao hơn so
với ở huyết thanh và do đó, chẩn đoán tốt hơn so với huyết thanh ở những bệnh
nhân thể mắt [27].
Khi đọc kết quả huyết thanh học, cần lưu ý rằng rất nhiều bệnh nhân
huyết thanh dương tính qua xét nghiệm sàng lọc các quần thể lớn có thể bị
nhiễm trong quá khứ chứ không phải nhiễm hiện tại. Chỉ những bệnh nhân có
dấu hiệu lâm sàng nhiễm Toxocara spp. mới cần điều trị, vì xét nghiệm miễn
dịch học không có khả năng phân biệt giữa nhiễm hiện tại và quá khứ. Vì vậy,
chẩn đoán miễn dịch học cần kèm theo kiểm tra bạch cầu ái toan máu và nếu
có thể, xác định lượng IgE huyết thanh.

triệu chứng nhưng bị tăng bạch cầu ái toan mạn tính và những bệnh nhân mắc
thể ẩn tính mà không tăng bạch cầu ái toan thì không cần phải điều trị đặc hiệu.
Với bệnh nhân thể OLM, chưa có thử nghiệm điều trị dạng bệnh này.
Tuy nhiên, có báo cáo khuyên dùng corticosteroids để giảm viêm hiệu quả và
có thể giảm thiểu tổn thương mắt gây ra bởi sự thải kháng nguyên của ấu trùng
giun. Phác đồ điều trị thường khoảng 1 mg/kg/ngày từ 1 tháng trở lên, nếu cần,
thì liều lượng giảm dần. Trong số các phương pháp vật lý, chiếu tia laser được
chỉ định khi ấu trùng được nhìn thấy trong mắt. U hạt có thể được điều trị bằng


12

áp lạnh.
Điều trị bệnh nhân thể thần kinh bao gồm sự kết hợp corticosteroids và
DEC, hoặc MBZ hoặc TBZ, hoặc chỉ DFC hoặc TBZ. Kết quả của những
nghiên cứu này không rõ ràng.
Theo dõi sau điều trị
Đối với việc theo dõi sau điều trị (ngoại trừ thể OLM), chỉ số bạch cầu
ái toan có vẻ hữu ích. Trong một thử nghiệm so sánh DEC và MBZ, cả hai đều
giảm số lượng bạch cầu ái toan sau 1 tháng điều trị, trong khi nồng độ IgE
không thay đổi. Việc phát hiện IgG chống Toxocara spp. đặc hiệu bởi ELISA
dường như không hữu ích để theo dõi liệu pháp. Khi so sánh hàm lượng kháng
thể giữa trẻ không được điều trị và trẻ được điều trị, biến động kháng thể chống
IgG Toxocara spp. không bị ảnh hưởng. Ngược lại, nồng độ huyết thanh IgE
chống Toxocara spp. dường như giảm đáng kể sau điều trị nếu nó tăng đáng kể
trước khi điều trị, đặc biệt ở bệnh nhân dị ứng.
1.1.5. Phòng bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo


Hạn chế tối đa tiếp xúc các vật chủ nhạy cảm, các con chó/mèo bị nhiễm



Rửa tay sau khi chơi ở nơi có cát và vật nuôi.

1.2. Tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo trên thế giới
Nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo (Toxocariasis) ở người được Willder
mô tả lần đầu năm 1950 khi phát hiện ấu trùng của giun trong u hạt võng mạc
(retinal granuloma). Sau đó, bệnh ở người được Beaver mô tả năm 1952, trên
bệnh nhân có bệnh lý ở gan và phổi. Ấu trùng Toxocara spp. được phát hiện
sau khi giải phẫu tử thi, sinh thiết gan, phổi. Beaver và cộng sự đã chứng minh
có sự hiện diện của ấu trùng giun đũa chó ở người và gọi đó là bệnh “ấu trùng
di chuyển nội tạng”.
Toxocariasis là một trong những bệnh giun sán truyền từ động vật sang
người phổ biến nhất, xuất hiện khắp mọi nơi trên thế giới, không phụ thuộc vào
nông thôn hay thành thị, ngay cả những nước phát triển, như Nhật Bản, Mỹ,
Úc, Pháp, vẫn có khả năng nhiễm và thậm chí nhiều hơn ở một số vùng so với
các quốc gia đang phát triển. Các nghiên cứu nhận thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh do
giun đũa chó/mèo ở vùng nhiệt đới cao hơn do nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho
sự hình thành phôi của trứng.
Đây là bệnh lây truyền từ động vật và truyền qua đất. Nghịch đất hoặc ăn
đất làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh, đặc biệt là trẻ em sống ở nhà có chó con chưa
được tẩy giun. Vệ sinh cá nhân kém cũng như ăn rau sống được trồng ở vườn
nhà bị nhiễm bẩn có thể gây nhiễm liều thấp mãn tính. Ít phổ biến hơn liên quan
đến tiêu thụ thịt sống của vật chủ chứa, như gà [52], cừu [55] hoặc thỏ [56].
Trong số sinh viên thú y tại Toulouse (Pháp), tỷ lệ huyết thanh dương tính với
Toxocara spp. cao hơn ở những người thường ăn sống gan bê hoặc nấu chưa
chín kỹ so với những người ăn chín [24]. Điều này cho thấy rằng ấu trùng lây
nhiễm có thể giải phóng khỏi mô động vật trong quá trình tiêu hóa và sau đó
gây bệnh cho người.




15

Trong một nghiên cứu ở khoa Miễn dịch của Trường Đại học Y Dược
Thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ huyết thanh dương tính với kháng nguyên giun
đũa chó/mèo trên các bệnh nhân có triệu chứng dị ứng là 46,9%. Trong số bệnh
nhân nghiên cứu có triệu chứng ngứa và phản ứng huyết thanh dương tính với
kháng nguyên giun đũa chó/mèo được điều trị Albendazole 800 mg/ngày trong
21 ngày thì chỉ có 11,3% hết triệu chứng ngứa. Một số báo cáo ca bệnh nhiễm
ấu trùng giun đũa chó/mèo có tổn thương cơ quan nội tạng, tăng bạch cầu ái toan,
tăng IgE và phản ứng huyết thanh đối với kháng nguyên giun đũa chó/mèo.
Một điều tra khảo sát tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở xã Thạnh
Tân, thị xã Tây Ninh năm 2009 cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính
với Toxocara canis là 20,6% [11].
Theo dõi tình hình nhiễm Toxocara canis trong số cán bộ chiến sĩ công
an nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng đến khám và điều trị tại bệnh viện 30 - 4 TP.
HCM, cho các số liệu sau: năm 2011 huyết thanh dương tính với Toxocara spp. là
40/861 (4,6%) trường hợp, năm 2012 tỷ lệ này là 130/1628 (8%) trường hợp [20].
Tại phòng khám của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
trong năm 2009 đã phát hiện 4.652 trường hợp huyết thanh dương tính với giun
đũa chó/mèo. Các trường hợp nhiễm này phân bố rất rộng nhưng chủ yếu là
khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Số ca bệnh phát hiện nhiều nhất ở Bình
Định 2.706 ca, tiếp theo là Gia Lai 786 ca, Phú Yên 520 ca, Quảng Ngãi 304
ca, Đăk Lăk 228 ca. Nhóm tuổi từ 15 tuổi trở lên nhiễm chủ yếu với 4.134 ca,
nhóm tuổi nhỏ từ 1 - 4 tuổi chỉ phát hiện có 44 ca. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân
đến khám là người lớn, trẻ em rất ít nên không thể xác định là nhóm tuổi nhỏ
nhiễm thấp hơn người lớn.
Ở miền Bắc chưa có nhiều báo cáo về tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa
chó/mèo ở người. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Quyên tại tỉnh Phú Thọ

CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, nguyên liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân đến khám, xét nghiệm tại Bộ môn Ký sinh trùng - Đại học
Y Hà Nội có một số triệu chứng lâm sàng nghi ngờ: mẩn ngứa hay nổi mề đay,
đau bụng, đau đầu, nhức mỏi, kết quả siêu âm hay cắt lớp vi tính (CT) có tổn
thương ở gan.
- Bệnh nhân được giải thích rõ và đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Nguyên liệu nghiên cứu
- Mẫu huyết thanh của các bệnh nhân đến khám tại Bộ môn Ký sinh trùng
- Đại học Y Hà Nội.
2.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại Bộ môn Ký sinh
trùng - Trường Đại học Y Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2016 - 2017.
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Xác định tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở các đối tượng
có dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ nhiễm Toxocara spp. đến khám và làm xét
nghiệm tại Bộ môn Ký sinh tùng - Trường đại học Y Hà Nội.
2.2.2. Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa
chó/mèo.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Cỡ mẫu nghiên cứu
- Tổng số 397 bệnh nhân đến khám và làm xét nghiệm ELISA Toxocara
spp. tại Bộ môn Ký sinh trùng - Trường Đại học Y Hà Nội.
- Lấy máu và tách huyết thanh: bệnh nhân được lấy 1ml máu ở tĩnh mạch



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status