Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học phổ thông lương phú phú bình thái nguyên - Pdf 47

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NGÔ THỊ TRANG

THỰC TRẠNG STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN Ở HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG LƯƠNG PHÚ - PHÚ BÌNH
THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN - NĂM 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NGÔ THỊ TRANG

THỰC TRẠNG STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN Ở HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG LƯƠNG PHÚ - PHÚ BÌNH
THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Y HỌC DỰ PHÒNG
Mã số : 60 72 01 63

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐÀM THỊ BẢO HOA

quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân
yêu trong gia đình đã luôn động viên, tạo mọi điều kiện thuân lợi cho tôi
trong quá trình học tập. Tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp đã
dành cho tôi những tình cảm tốt đẹp cũng như sự giúp đỡ tận tình để tôi vượt
qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017
Học viên

Ngô Thị Trang


KÝ HIỆU VIẾT TẮT

ĐTNC

: Đối tượng nghiên cứu

ĐTV

: Điều tra viên

KAP

: Knowledge – Attitudes - Practices
(Kiến thức, Thái độ, Thực hành)

PCP

: Trung tâm phòng chống khủng hoảng tâm lý

YSR

: Youth Self - Report
(Thang đo về hành vi)

DASS

: Depression – Anxiety – Stress Scale 21
(Thang đo Trầm cảm – Lo âu – Căng thẳng)


MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ

..............................................................................................................................................................................................

1

Chương 1. TỔNG QUAN .......................................................................................................................................................... 3
1.1. Một số khái niệm cơ bản ..................................................................................................................................................... 3
1.1.1. Khái niệm về stress ................................................................................................................................................................ 3
1.1.2. Các dấu hiệu của stress .................................................................................................................................................... 3
1.1.3. Nguyên nhân của stress ................................................................................................................................................... 4
1.1.4. Ảnh hưởng của stress.......................................................................................................................................................... 6
1.2. Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông trên Thế giới và Việt Nam ............. 8
1.2.1. Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông trên Thế giới................................ 8
1.2.2. Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông tại Việt Nam ................................ 9
1.3. Các yếu tố liên quan đến rối loạn stress ở học sinh .................................................................. 12
1.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới................................................................................................................................. 12

3.2. Thực trạng stress ở học sinh trường THPT Lương Phú - Phú Bình Thái Nguyên........................................................................................................................................................................... 30
3.3. Các yếu tố liên quan ............................................................................................................................................................... 35
Chương 4. BÀN LUẬN

.............................................................................................................................................................

45

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu ............................................................. 45
4.1.1. Các đặc điểm chung về nhóm học sinh nghiên cứu ............................................................ 45
4.1.2. Các đặc điểm chung về nhóm cha mẹ học sinh ........................................................................ 46
4.2. Thực trạng stress ở học sinh trường THPT Lương Phú – Phú Bình –
Thái Nguyên........................................................................................................................................................................... 46
4.3. Một số yếu tố liên quan đến stress ở học sinh trường Trung học phổ
thông Lương Phú – Phú Bình – Thái Nguyên ....................................................................... 49
4.3.1. Liên quan theo khối học, giới tính và dân tộc ............................................................................. 49
4.3.2. Liên quan giữa yếu tố gia đình và stress ở học sinh ........................................................... 51


4.3.3. Liên quan giữa các yếu tố thuộc về nhà trường với stress ở học sinh....... 53
4.3.4. Liên quan giữa các hành vi sức khỏe và stress ở học sinh ........................................ 55
KẾT LUẬN .................................................................................................................................................................................................... 57
1. Về thực trạng stress ở học sinh trường THPT Lương Phú – Phú Bình –
Thái Nguyên........................................................................................................................................................................... 57
2. Một số yếu tố liên quan đến stress ở học sinh trường THPT Lương Phú
– Phú Bình – Thái Nguyên ................................................................................................................................ 57
KHUYẾN NGHỊ.................................................................................................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................................................................................
PHỤ LỤC..................................................................................................................................................................................................................


Biểu đồ 3.3. Đặc điểm kiến thức, thái độ, thực hành của cha mẹ học sinh
về chăm sóc rối loạn stress ở học sinh.................................................................... 38


DANH MỤC HỘP KẾT QUẢ ĐỊNH TÍNH

Hộp 3.1. Các ý kiến về rối loạn stress ở học sinh ......................................................................... 34
Hộp 3.2. Các ý kiến về mối quan hệ của học sinh tại lớp / trường............................. 43
Hộp 3.3. Ý kiến về các hoạt động ngoại khóa, thể thao, năng khiếu ....................... 44


1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Stress là một biểu hiện thường gặp trong cuộc sống và là một trong
những vấn đề sức khoẻ đáng kể nhất trong xã hội hiện đại và thế kỷ 21 [47].
Stress là mối tương quan giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể.
Nếu đáp ứng của cơ thể với các yếu tố stress không thích hợp và cơ thể không
tạo ra được một cân bằng mới, thì chức năng của cơ thể ít nhiều bị ảnh hưởng,
xuất hiện các dấu hiệu rối loạn tâm lý như: mất ngủ, đau đầu, buồn phiền, trầm
cảm, sợ hãi, lo âu, tức giận... thậm chí dẫn đến hành vi tự sát [5], [10], [12], [17].
Theo thống kê của Trung tâm phòng chống khủng khoảng tâm lý
(PCP), ở Việt Nam học sinh, sinh viên từ 15 - 24 tuổi là nhóm tuổi có ý định
tự tử cao nhất [27]. Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam
(năm 2010) đối với hơn 10.000 người trong nhóm tuổi này cho thấy có 4,1%
người nghĩ đến chuyện tự tử và 25% đã tìm cách kết thúc cuộc sống do căng
thẳng quá mức vì: không đạt được kết quả học tập như mong muốn; bị mất
danh dự, bị sỉ nhục trước trường, trước tập thể lớp; bị người thân xúc phạm,
vu oan, hiểu lầm; bị áp lực do gia đình, nhà trường kỳ vọng ở các em quá cao
trong học tập; gia đình có nhiều xung đột không thể giải quyết: cha mẹ

như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến tình trạng stress ở học sinh
trung học phổ thông?
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng stress và
một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học phổ thông Lương Phú
- Phú Bình - Thái Nguyên”
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả thực trạng stress ở học sinh trường Trung học phổ thông
Lương Phú - Phú Bình - Thái Nguyên, năm 2016.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến stress tâm lý ở học sinh trường
trung học phổ thông Lương Phú - Phú Bình - Thái Nguyên.


3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về stress
Trong cuộc sống hiện đại thuật ngữ stress xuất hiện ngày càng nhiều,
tuy nhiên mỗi tác giả sử dụng thuật ngữ này với những sắc thái khác nhau.
Walter Cannon, bác sĩ chuyên khoa thần kinh nổi tiếng của Mỹ, định nghĩa
stress là biểu hiện khó chịu hay những áp lực của đời sống cá nhân [37].
Hiện nay, stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi. Định nghĩa của
Han Selye đưa ra năm 1976 được cho là đầy đủ nhất: “Stress là tình trạng
căng thẳng thể hiện mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của
cơ thể” [12].
Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặt
tâm lý, sinh học và tập tính. Stress đặt con người vào quá trình dàn xếp, thích
ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một sự cân bằng mới sau khi
chịu đựng những tác động của môi trường. Nói cách khác, stress bình thường
đã góp phần làm cho cơ thể thích nghi. Nếu đáp ứng của cá nhân với stress

bạc…[3].
Các vấn đề về thể chất: Thay đổi cơ thể, không đủ chất dinh dưỡng, ốm
đau, bệnh tật.
Suy nghĩ của bản thân: Đôi khi, cách chúng ta suy nghĩ hay phiên giải
những điều đã hoặc sẽ xảy ra đem đến cho chính mình rất nhiều căng thẳng.
Thường đó là những suy nghĩ tiêu cực. Ví dụ, nếu trượt đại học, tương lai thật
mù mịt...[3], [17].
Nghiên cứu của Đỗ Thị Lệ Hằng năm 2009 cho thấy các tác nhân gây
stress ở trẻ vị thành niên bao gồm 4 nhóm tác nhân là học tập, mối quan hệ
với gia đình, mối quan hệ với bạn bè và các tình huống bất thường. Trong đó
tác nhân do các tình huống bất thường (trung bình là 1.6) cao hơn so với các


5
tác nhân khác như học tập (trung bình là 1.5), mối quan hệ với gia đình (trung
bình là 1.3) và bạn bè (trung bình là 1.2). Khi so sánh các tác nhân gây stress
cho học sinh theo cấp học thì học sinh cấp 3 chịu áp lực học tập cao hơn học
sinh cấp 2, do các em chuẩn bị cho việc lựa chọn nghề sau này và phải đối
mặt với nhiều kỳ thi quan trọng như tốt nghiệp Trung học phổ thông, thi đỗ
đại học… Cũng theo nghiên cứu này trẻ nam chịu ảnh hưởng từ áp lực học
tập cao hơn trẻ nữ [8].
Theo Nguyễn Thị Hằng Phương trong nghiên cứu “Thực trạng và
nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh THPT chuyên Quảng Bình” có 4
nhóm nguyên nhân chính dẫn đến rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ
thông là: nhóm nguyên nhân liên quan đến học tập, liên quan đến bản thân
học sinh, liên quan đến gia đình và liên quan đến các mối quan hệ xã hội [20].
Nghiên cứu của Phùng Đức Nhật và cộng sự phát hiện các yếu tố gây
stress ở học sinh như: lo lắng về kết qủa học tập, về tương lai; lo lắng về kinh
tế gia đình, về áp lực học tập, tình hình an ninh nơi ở và thiếu bạn chia sẻ khi
buồn. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ stress ở học sinh với

bè và gia đình xa lánh, những người bị stress gần như luôn đắm chìm trong
các hành vi tiêu cực như bỏ học đi chơi game, dễ có hành vi hung hãn dẫn tới
bạo lực học đường, bỏ nhà đi bụi, giao du với những người xấu trong xã hội,
có thể làm những người xung quanh và cả xã hội phải trả giá đắt. Áp lực học
hành đến từ chương trình học, sự kỳ vọng của cha mẹ vào con cái, tâm lý
bằng cấp, không đánh giá đúng năng lực của bản thân con cái để có những đòi
hỏi phù hợp,… cũng đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần trẻ
vị thành niên. Số lượng học sinh mắc chứng nhiễu tâm (lo âu, trầm cảm,
hoảng loạn, hung tính,…) do học tập ngày càng lớn. Thậm chí có những trẻ
dẫn tới hành vi tự sát do không biết cách vượt qua stress. Đây là những hậu
quả đáng tiếc do stress gây ra. Phản ứng gây stress thông thường có thể giúp
thanh thiếu niên phản ứng thích ứng với những thách thức của tuổi vị thành


7
niên, nhưng có thể dẫn đến sự căng thẳng trong số thanh thiếu niên có nguy
cơ cao, làm tăng khả năng bị bệnh tâm thần. Sự tăng nhạy cảm với kích thích
cảm xúc liên quan đến tuổi dậy thì có thể làm trầm trọng thêm các khuynh
hướng cá nhân đối với quá trình xử lý tình cảm phóng đại, có thể góp phần
vào sự xuất hiện các rối loạn tâm lý ở tuổi trẻ này [59].
Tác động của stress đối với cơ thể: Khi ở trong trạng thái stress, về mặt
cơ thể thường có các biểu hiện như: mệt mỏi, đau đầu, đau lưng đau cơ bắp,
chóng mặt, đổ mồ hôi, tức ngực khó thở, tay chân bủn rủn, ăn không ngon, ăn
quá nhiều hoặc quá ít, khó ngủ, mất ngủ, tim đập nhanh, thở gấp, bị tiêu chảy
hoặc táo bón …[3]. Khi rơi vào tình trạng stress tâm lý hay thể chất, cơ thể sẽ
gia tăng sản xuất các loại hormon như adrenaline và cortisol. Các hormon này
tạo ra các thay đổi rõ rệt ở nhịp tim, huyết áp, sự trao đổi chất và các hoạt
động thể chất khác. Mặc dù đôi khi phản ứng sinh học này giúp hoạt động
hiệu quả hơn trong những khoảng thời gian ngắn, nhưng nó cực kỳ nguy hại
cho cơ thể nếu xảy ra trong thời gian dài.

1.2.1. Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông trên Thế giới
Stress là một trong những vấn đề sức khỏe tâm thần cần được quan
tâm. Theo báo cáo của WHO (2003), khoảng 20% trẻ em và vị thành niên
đang mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần, tỷ lệ này khác biệt ở các quốc gia
khác nhau, do những khác biệt về kinh tế, xã hội nhưng cũng một phần do sử
dụng các công cụ đo đạc khác nhau và cách thức lấy mẫu khác nhau [56]. Các
điều tra dịch tễ học ở nhiều quốc gia trên thế giới đều cho thấy các rối loạn
tâm thần ở trẻ em và thanh thiếu niên rất phổ biến và chiếm tỷ lệ khoảng từ
13–29% [35], [36], [38], [39]. Nghiên cứu của tác giả Noelle R. Leonard về
căng thẳng, đối phó và sử dụng chất gây nghiện trong thanh thiếu niên các
trường tư thục, tỷ lệ học sinh bị stress là 31%, trong đó nữ bị stress cao hơn nam
(60% so với 41%) [54]. Trong phần tổng quan của tác giả Shilpa Taragar (2009),
nghiên cứu về yếu tố gây stress ở học sinh cho biết tỷ lệ học sinh 10 – 19 tuổi
bị stress là khoảng 10 – 20%, trong đó nguyên nhân chính gây ra stress ở học


9
sinh chủ yếu là do các yếu tố gia đình [57]. Hay trong nghiên cứu của tác giả
Kouzma NM (2004), tại Australia cũng chỉ ra rằng có 10 – 15% học sinh
trung học phổ thông bị căng thẳng [46]. Tổng quan nghiên cứu của tác giả
Zhang Jiapeng Casper (2012), có tới 25 – 30% học sinh Mỹ chịu ảnh hưởng
của stress và Hiệp hội Y tế Hoa Kỳ nghiên cứu về stress trên 16 nghìn sinh
viên thì có 33,7% sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng bị stress [61]. Tại
Goa, Ấn Độ, theo Pillai và cộng sự (2008) nghiên cứu ở lứa tuổi 12-16 tuổi,
tỷ lệ stress thấp là 1,8% [29]. Nghiên cứu cắt ngang của Khoa nhân văn và xã
hội học Viện công nghệ New Dehi, Ấn Độ (2015), tỷ lệ mắc các rối loạn tâm
thần ở thanh thiếu niên Ấn Độ khoảng 14,4-31,7% [58]. Trong phần tổng
quan của tác giả Trần Thị Hồng Vân và cộng sự cho biết tại Israel, theo
Farbstein và cộng sự (2009) nghiên cứu ở lứa tuổi 14-17 tuổi, tỷ lệ stress là
11,7% còn tại Puerto Rico, theo Canino và cộng sự (2004) nghiên cứu ở độ

Nội) và Vân Tảo (Hà Tây) cho thấy các trường hợp mắc vấn đề sức khỏe tâm
thần (trong đó có stress) là 25.76% [14].
Một nghiên cứu được thực hiện tại các tỉnh miền Bắc trên trẻ vị thành
niên (2012) sử dụng thang đo YSR (Youth Self - Report) cho kết quả đáng
báo động khi so sánh kết quả nghiên cứu với các quốc gia khác, thấy rằng
Việt Nam xếp cao nhất trong các quốc gia được nghiên cứu, nghiên cứu chỉ ra
rằng có 18% trẻ trong nghiên cứu gặp ít nhất 1 trong 8 triệu chứng về rối
nhiễu tâm lý được đề cập trong thang đo YSR: Lo âu/trầm cảm, Thu
mình/trầm cảm, bệnh tâm cảm, vấn đề xã hội, vấn đề suy nghĩ, vấn đề chú ý,
hành vi hung tính, phá bỏ qui tắc [16]. Nghiên cứu “Đánh giá mức độ căng
thẳng tâm lý của học sinh tiểu học ở Hà Nội” có 25.8% học sinh bị stress ở
mức độ vừa và 29% học sinh lo âu ở mức độ vừa và nhẹ [31]. Tuy nhiên một
nghiên cứu năm 2007 trên 2 tỉnh miền trung lại cho kết quả tỷ lệ trẻ vị thành
niên mắc các bệnh tâm thần là 9% [29]. Một nghiên cứu khác tại Hội thảo
quốc gia “Sức khỏe tâm thần trong trường học” do Quỹ tài năng trẻ tâm lý
học - giáo dục học (Hội Khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam) tổ chức tại


11
Đồng Nai, nhiều chuyên gia tâm lý - SKTT đã lên tiếng cảnh báo về tình
trạng SKTT ngày càng sa sút của học sinh. Tâm lý lo sợ không hoàn thành bài
vở mới là nỗi ám ảnh với các học sinh lứa tuổi THPT, nhất là các em lớp 12.
Từ đó, học sinh cảm thấy căng thẳng trong việc học, 13,6% học sinh khá thấy
ăn không ngon, 17,6% chỉ muốn uống nước hoặc sữa và gần 20% thường
xuyên bỏ bữa. Thậm chí, một số em tâm sự đang đối mặt với một kỳ thi quan
trọng, sợ làm bài không tốt, sợ gia đình sẽ thất vọng và khi nghĩ đến những
điều đó thì các em chỉ muốn... “nổ tung” [1].
Kết quả khảo sát của một nhóm nghiên cứu xác định: có gần 27% học
sinh Tây Ninh có tâm lý buồn phiền từ nhẹ đến nặng. Tỷ lệ này được nhìn
nhận là thấp hơn TP. Hồ Chí Minh và Long An, song nếu so sánh với các tiêu

minh, hiện đại. Do đó, hiện tượng stress luôn nảy sinh, ảnh hưởng mạnh mẽ
đến sự thành công, hay thất bại của quá trình hoàn thiện nhân cách cũng như
phẩm chất tâm lý nghề nghiệp của họ [11]
Đã có nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của trẻ vị thành niên và
thanh niên Việt Nam nói chung, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về
vấn đề rối loạn stress ở học sinh, đặc biệt là học sinh Trung học phổ thông,
trong khi đây là đối tượng chịu nhiều áp lực từ gia đình, nhà trường và xã
hội.... Mặc dù các nghiên cứu không hoàn toàn nhất quán, nhưng các nghiên
cứu đều cho thấy một xu hướng rõ ràng, tỷ lệ trẻ vị thành niên, thanh niên,
học sinh Việt Nam gặp các vấn đề về rối loạn stress là đáng kể.
1.3. Các yếu tố liên quan đến rối loạn stress ở học sinh
1.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu tự đánh giá nguyên nhân stress ở học sinh cuối cấp 3
(2004) của Kouzma NM, Kennedy GA chỉ ra rằng nguyên nhân chính dẫn đến
stress bao gồm các kì kiểm tra, điểm số, lo lắng cho tương lai, lựa chọn nghề
nghiệp, ôn thi, khối lượng kiến thức, kỳ vọng của gia đình và bản thân [46].
Một tổng quan về nguyên nhân stress ở thanh thiếu niên vị thành niên và
thanh thiếu niên của tác giả Zhang Jiapeng Casper (2012), phần lớn học sinh cho


13
biết mức căng thẳng về tinh thần và lo lắng là do tham gia các kỳ thi. Các nghiên
cứu ở Hoa Kỳ ước tính rằng một tỷ lệ lớn trẻ em đã được báo cáo bị stress do
kiểm tra. Trong đó Hill nhận thấy rằng từ 25% đến 30% sinh viên Hoa Kỳ bị ảnh
hưởng bất lợi do stress vì những khiếm khuyết liên quan đến lo lắng. Cũng theo
đó ảnh hưởng của stress đối với sinh viên đại học là rất lớn. Hiệp hội Y tế
Trường Cao đẳng Hoa Kỳ đã khảo sát hơn 16.000 sinh viên đại học cho thấy
33.7% cho rằng stress đã can thiệp vào thành tích học tập của họ [61]. Những
học sinh có điểm trung bình cao thường gặp stress khi phải liên tục học tập để
đạt được kì vọng cao của cha mẹ, thầy cô. Đôi khi những học sinh này tự đặt áp

sinh tham gia chương trình dự bị Đại học có nhiều biểu hiện tâm thần hơn, và
giảm khả năng học tập khi họ đối diện với stress ở mức độ cao. Cụ thể là
stress liên quan đến yêu cầu học tập, sự thay đổi vai trò và các vấn đề xã hội,
khó khăn trong học tập và các hoạt động ngoại khóa [60].
Nghiên cứu của Shilpa Taragar về căng thẳng ở học sinh cấp 3 (2009)
tại Ấn Độ cho rằng không có mối liên quan giữa một số thông tin cá nhân của
đối tượng (tuổi, số lượng anh chị em, kích cỡ gia đình, nghề nghiệp của cha,
nghề nghiệp của mẹ) với stress ở học sinh, nhưng có mối liên quan giữa nơi
sống với stress, những trẻ ở vùng ngoại thành có tỷ lệ stress ở mức độ nhẹ và
vừa thấp hơn so với thành thị, tuy nhiên đối với mức độ stress nặng thì ở khu
vực thành thị lại cao hơn nhiều so với nông thôn (22,4% so với 9,9%). Có mối
liên quan giữa giới và stress, các học sinh nam có xu hướng cao hơn các học
sinh nữ, tuy nhiên ở mức độ stress nhẹ và vừa thì nữ có xu hướng cao hơn
nam (71,7% và 21,9% so với 66% và 8,5%) [57]. Kết quả nghiên cứu của
Finkelstein DM chỉ ra rằng so với thanh thiếu niên có cha mẹ có trình độ học
vấn cao thì thanh thiếu niên có cha mẹ có trình độ học vấn thấp hơn có mức
stress cao hơn (E3 beta = 1.70, p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status