ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
NGÔ THỊ TRANG
THỰC TRẠNG STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN Ở HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG LƯƠNG PHÚ - PHÚ BÌNH THÁI
NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÁI NGUYÊN - NĂM 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
NGÔ THỊ TRANG
THỰC TRẠNG STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN Ở HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG LƯƠNG PHÚ - PHÚ BÌNH THÁI
NGUYÊN
Chuyên ngành: Y HỌC DỰ PHÒNG
Mã số : 60 72 01 63
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐÀM THỊ BẢO HOA
quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân
yêu trong gia đình đã luôn động viên, tạo mọi điều kiện thuân lợi cho tôi
trong quá trình học tập. Tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp đã
dành cho tôi những tình cảm tốt đẹp cũng như sự giúp đỡ tận tình để tôi vượt
qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017
Học viên
Ngô Thị Trang
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ĐTNC
: Đối tượng nghiên cứu
ĐTV
: Điều tra viên
KAP
: Knowledge – Attitudes - Practices
(Kiến thức, Thái độ, Thực hành)
PCP
: Trung tâm phòng chống khủng hoảng tâm lý
YSR
: Youth Self - Report
(Thang đo về hành vi)
DASS
: Depression – Anxiety – Stress Scale 21
(Thang đo Trầm cảm – Lo âu – Căng thẳng)
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN................................................................................3
1.1. Một số khái niệm cơ bản............................................................................ 3
1.1.1. Khái niệm về stress..................................................................................3
1.1.2. Các dấu hiệu của stress............................................................................3
1.1.3. Nguyên nhân của stress........................................................................... 4
1.1.4. Ảnh hưởng của stress...............................................................................6
1.2. Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông trên Thế giới và Việt Nam
........................................................................................................................... 8
1.2.1. Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông trên Thế giới................8
1.2.2. Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông tại Việt Nam................9
1.3. Các yếu tố liên quan đến rối loạn stress ở học sinh..................................12
1.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới..................................................................12
1.3.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam.................................................................15
1.4. Công cụ sử dụng nghiên cứu stress ở học sinh - sinh viên.......................18
1.5. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu..............................................................20
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............21
3.1.2. Thông tin chung về nhóm cha mẹ học sinh...........................................29
3.2. Thực trạng stress ở học sinh trường THPT Lương Phú - Phú Bình Thái Nguyên
30
3.3. Các yếu tố liên quan................................................................................. 35
Chương 4. BÀN LUẬN................................................................................. 45
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu............................... 45
4.1.1. Các đặc điểm chung về nhóm học sinh nghiên cứu...............................45
4.1.2. Các đặc điểm chung về nhóm cha mẹ học sinh.....................................46
4.2. Thực trạng stress ở học sinh trường THPT Lương Phú – Phú Bình –
Thái Nguyên
46
4.3. Một số yếu tố liên quan đến stress ở học sinh trường Trung học phổ
thông Lương Phú – Phú Bình – Thái Nguyên49
4.3.1. Liên quan theo khối học, giới tính và dân tộc....................................... 49
4.3.2. Liên quan giữa yếu tố gia đình và stress ở học sinh..............................51
4.3.3. Liên quan giữa các yếu tố thuộc về nhà trường với stress ở học sinh...53
4.3.4. Liên quan giữa các hành vi sức khỏe và stress ở học sinh.................... 55
KẾT LUẬN.....................................................................................................57
1.
Về thực trạng stress ở học sinh trường THPT Lương Phú – Phú Bình –
Thái Nguyên
2.
Bảng 3.13. Phân bố stress theo đặc điểm của cha mẹ học sinh......................37
Bảng 3.14. Phân bố stress theo các yếu tố gia đình........................................39
Bảng 3.15. Phân bố stress theo cảm nhận của học sinh về nhà trường..........40
Bảng 3.16. Phân bố stress theo các yếu tố về nhà trường.............................. 41
Bảng 3.17. Phân bố stress theo các hành vi sức khỏe.................................... 42
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ stress ở học sinh................................................................30
Biểu đồ 3.2. Mức độ stress ở học sinh............................................................30
Biểu đồ 3.3. Đặc điểm kiến thức, thái độ, thực hành của cha mẹ học sinh
về chăm sóc rối loạn stress ở học sinh 38
DANH MỤC HỘP KẾT QUẢ ĐỊNH TÍNH
Hộp 3.1. Các ý kiến về rối loạn stress ở học sinh...........................................34
Hộp 3.2. Các ý kiến về mối quan hệ của học sinh tại lớp / trường.................43
Hộp 3.3. Ý kiến về các hoạt động ngoại khóa, thể thao, năng khiếu..............44
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Stress là một biểu hiện thường gặp trong cuộc sống và là một trong những
vấn đề sức khoẻ đáng kể nhất trong xã hội hiện đại và thế kỷ 21 [47]. Stress là
mối tương quan giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể. Nếu đáp ứng
của cơ thể với các yếu tố stress không thích hợp và cơ thể không tạo ra được một
cân bằng mới, thì chức năng của cơ thể ít nhiều bị ảnh hưởng, xuất hiện các dấu
của lứa tuổi cũng làm gia tăng căng thẳng cho học sinh [13]. Theo nghiên cứu
cắt ngang của Khoa nhân văn và xã hội học Viện công nghệ New Delhi, Ấn
Độ, tỷ lệ mắc các rối loạn tâm lý ở thanh thiếu niên Ấn Độ khoảng 14,431,7%, trong đó rối loạn stress là 20% [58]. Tại Việt Nam, Nghiên cứu của tác
giả Trần Thị Hồng Vân tại trường THPT Phan Đình Phùng, Hà Nội cho kết
quả 46,1% học sinh bị stress ở các mức độ khác nhau [29].
Hiện nay tại Thái Nguyên chưa có nhiều nghiên cứu về stress ở học
sinh trung học phổ thông trong khi đây là đối tượng chịu nhiều tác động từ
các yếu tố khác nhau như gia đình, nhà trường, xã hội… Đặc biệt là học sinh
ở
các vùng nông thôn như Trường trung học phổ thông Lương Phú - Phú Bình
- Thái Nguyên ngoài việc học các em còn phải phụ giúp gia đình tăng gia sản
xuất. Vậy câu hỏi đặt ra là: Thực trạng stress ở học sinh trung học phổ thông
như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến tình trạng stress ở học sinh
trung học phổ thông?
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng stress và
một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học phổ thông Lương Phú
-
Phú Bình - Thái Nguyên”
Mục tiêu nghiên cứu:
1.
Mô tả thực trạng stress ở học sinh trường Trung học phổ thông
Lương Phú - Phú Bình - Thái Nguyên, năm 2016.
2.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến stress tâm lý ở học sinh trường
những biểu hiện khó chịu khác cũng là dấu hiệu của stress. Stress còn đi kèm
với cảm giác bất an, giận dữ hoặc sợ hãi. Người bị stress thường có biểu hiện
4
là tăng nhịp tim, tăng huyết áp, nhức đầu, mệt mỏi, hơi thở ngắn, ra mồ hôi.
Biểu hiện cảm xúc là cảm thấy khó chịu, dễ cáu gắt, lo âu, trầm cảm, buồn bã,
chán nản, thờ ơ, không thân thiện, sa sút tinh thần… Có những hành vi như
lạm dụng chất kích thích (rượu, thuốc lá), dễ gây hấn, bất cần đời, xáo trộn
các sinh hoạt hàng ngày (ăn uống, giấc ngủ), mất tập trung, hay quên, xa lánh
mọi người, có vấn đề về tình dục… Stress trầm trọng và kéo dài có thề làm
tổn hại hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng
chống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi trùng và làm tăng
nguy cơ tử vong [10], [19].
1.1.3. Nguyên nhân của stress
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra stress nhưng thông thường bao gồm 4
nguyên nhân cơ bản sau:
Môi trường bên ngoài: Thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, giao thông, bụi và sự
ô nhiễm…
Những căng thẳng từ xã hội và gia đình: Các vấn đề về tài chính, do sự
mất mát của người thân, mâu thuẫn trong gia đình (cha mẹ ly hôn, tranh chấp,
xích mích, bất hòa…), quan hệ bạn bè không tốt, tình yêu tan vỡ hay bị phụ
bạc…[3].
Các vấn đề về thể chất: Thay đổi cơ thể, không đủ chất dinh dưỡng, ốm
đau, bệnh tật.
Suy nghĩ của bản thân: Đôi khi, cách chúng ta suy nghĩ hay phiên giải
những điều đã hoặc sẽ xảy ra đem đến cho chính mình rất nhiều căng thẳng.
Thường đó là những suy nghĩ tiêu cực. Ví dụ, nếu trượt đại học, tương lai thật
mù mịt...[3], [17].
Nghiên cứu của Đỗ Thị Lệ Hằng năm 2009 cho thấy các tác nhân gây
giả Edem Maxwell Azila-Gbettor cho rằng stress có ảnh hưởng đến kết quả
học tập của học sinh, sinh viên và stress là hậu quả của việc học tập vượt quá
khả năng của cơ thể [40].
6
Tổng quan nghiên cứu “Hiệu quả của việc quản lý căng thẳng về các
vấn đề sức khoẻ tâm thần ở thanh thiếu niên vị thành niên và thanh thiếu
niên” của tác giả Zhang Jiapeng Casper, đối với thanh thiếu niên, kiểm tra ở
trường học, xung đột gia đình và mối quan hệ bạn bè bất hòa là một yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến stress và trầm cảm [61].
1.1.4. Ảnh hưởng của stress
Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu cho thấy, stress có thể gây nhiều tác
động xấu cho bản thân những người mang nó, đồng thời cũng gây ra những
bất lợi cho những người xung quanh và xã hội nói chung. Sau đây là những
tác động chính mà stress có thể gây ra:
Tác động của stress đối với cảm xúc, tâm lý: Trạng thái stress thường
biểu hiện rõ ở mặt cảm xúc với các biểu hiện thường gặp như: lo âu, dễ nổi
nóng, nổi cáu, hồi hộp, chán nản, sợ hãi, không hài lòng về bản thân (tự đổ lỗi
cho bản thân), cảm thấy trống rỗng mất phương hướng, cảm thấy dễ bị tổn
thương, căng thẳng…[3]. Đây là những ảnh hưởng ban đầu của stress với các
dấu hiệu cơ bản như tinh thần dao động, hành vi thất thường có thể làm bạn
bè và gia đình xa lánh, những người bị stress gần như luôn đắm chìm trong
các hành vi tiêu cực như bỏ học đi chơi game, dễ có hành vi hung hãn dẫn tới
bạo lực học đường, bỏ nhà đi bụi, giao du với những người xấu trong xã hội,
có thể làm những người xung quanh và cả xã hội phải trả giá đắt. Áp lực học
hành đến từ chương trình học, sự kỳ vọng của cha mẹ vào con cái, tâm lý
bằng cấp, không đánh giá đúng năng lực của bản thân con cái để có những đòi
hỏi phù hợp,… cũng đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần trẻ
vị thành niên. Số lượng học sinh mắc chứng nhiễu tâm (lo âu, trầm cảm,
hiện cũng cho thấy rằng cần sa thường được sử dụng như là một chiến lược
ứng phó với căng thẳng. Khi cơ thể phải chịu quá mức tình trạng stress, nguy
cơ bị lệ thuộc vào rượu là rất cao [3], [54], [43]. Việc sử dụng rượu quá nhiều
sẽ làm tinh thần bấn loạn và vì thế làm cho các mối quan hệ cá nhân thêm
căng thẳng, cả trong gia đình lẫn nơi công sở.
8
Tác động của stress đối với khả năng ra quyết định: Stress ảnh hưởng
khá nghiêm trọng đến mặt trí tuệ của mỗi người, các biểu hiện thường thấy
như: mất khả năng tập trung, liên tưởng chậm, phán đoán không chính xác, trí
nhớ giảm sút, khả năng nhận định, đánh giá kém. Stress ở mức độ nào cũng
nhanh chóng làm cho con người mất khả năng đưa ra các quyết định chính
xác, nhất là khi sự tự tin mất đi [19], [45].
Trong nghiên cứu Mức độ căng thẳng về tâm lý xã hội kinh niên cao có
thể dẫn đến sự gia tăng BMI đối với những cô gái thừa cân và béo phì, nghiên
cứu cũng cho thấy thanh thiếu niên nữ nhạy cảm với stress do tâm lý xã hội
hơn là thanh thiếu niên nam [50].
Nghiên cứu của tác giả Linda WP về chủ động và thụ động trong ứng
phó với sự căng thẳng với ý tưởng tự sát ở những người căng thẳng cho thấy
có mối liên quan giữa stress và ý tưởng tự tử ở mức cao và trung bình [49].
1.2. Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1. Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông trên Thế giới
Stress là một trong những vấn đề sức khỏe tâm thần cần được quan tâm.
Theo báo cáo của WHO (2003), khoảng 20% trẻ em và vị thành niên đang mắc
các vấn đề về sức khỏe tâm thần, tỷ lệ này khác biệt ở các quốc gia khác nhau,
do những khác biệt về kinh tế, xã hội nhưng cũng một phần do sử dụng các công
cụ đo đạc khác nhau và cách thức lấy mẫu khác nhau [56]. Các điều tra dịch tễ
học ở nhiều quốc gia trên thế giới đều cho thấy các rối loạn tâm thần ở trẻ em và
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương trong tổng số 600 em tham
gia điều tra thì tất cả các em đều có biểu hiện bất thường về sức khỏe và tâm
lý trong vòng 2 tháng trở lại đây [20]. Một nghiên cứu của viện Tâm thần Mai
Hương năm 2005 cho thấy tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần
chung là 19,46% [5].
Một số nghiên cứu điển hình về stress như nghiên cứu của tác giả Trần
Thị Hồng Vân và cộng sự (2014), tại trường THPT Phan Đình Phùng - Hà
Nội, cho thấy có đến 46,1% học sinh bị stress, trong đó nhẹ là 18,9%, vừa là
10
20,1%, nặng là 5,2% và rất nặng là 2,5% (tính trên tổng số học sinh tham gia
nghiên cứu) [29]. Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Phụ nữ - Đại học
Quốc gia Hà Nội (2008), khảo sát trên 200 học sinh lớp 12 đã chỉ ra rằng 47%
học sinh bị stress ở các mức độ nhẹ, vừa và nặng [24]. Theo nghiên cứu mức
độ stress của học sinh lớp 12 trường THPT Đông Hà – Quảng Trị nhìn từ góc
độ tổng quát phần lớn học sinh ở trong trạng thái stress cấp tính chiếm 69.6%
và 30.4% học sinh ở mức độ bắt đầu quá tải vì stress, không đủ năng lực kiểm
soát các trở ngại gặp phải, cần được hỗ trợ để vượt qua [3]. Nghiên cứu của
tác giả Hồ Hữu Tính và Nguyễn Doãn Thành (2009) ở học sinh THPT Phan
Bội Châu, Phan Thiết, Bình Thuận trên học sinh lớp 12 cho kết quả 38% học
sinh có biểu hiện stress [25]. Theo tác giả Hoàng Cẩm Tú và Đặng Hoàng
Minh (2010) nghiên cứu trên học sinh của 2 trường THPT Nguyễn Trãi (Hà
Nội) và Vân Tảo (Hà Tây) cho thấy các trường hợp mắc vấn đề sức khỏe tâm
thần (trong đó có stress) là 25.76% [14].
Một nghiên cứu được thực hiện tại các tỉnh miền Bắc trên trẻ vị thành
niên (2012) sử dụng thang đo YSR (Youth Self - Report) cho kết quả đáng báo
động khi so sánh kết quả nghiên cứu với các quốc gia khác, thấy rằng Việt
Nam xếp cao nhất trong các quốc gia được nghiên cứu, nghiên cứu chỉ ra rằng
có 18% trẻ trong nghiên cứu gặp ít nhất 1 trong 8 triệu chứng về rối nhiễu tâm
trong độ tuổi 10-16 tuổi, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần chung là
19,46% [15]. Còn nghiên cứu gần đây nhất của Đặng Hoàng Minh, Bahr Weiss
và Nguyễn Cao Minh năm 2013 đã điều tra dịch tễ trên 1.314 trẻ em từ 6 – 16
tuổi ở 10 tỉnh, thành phố Việt Nam đã cho thấy có 9,6% trẻ có các vấn đề hướng
nội ở mức lâm sàng. Trong đó, lo âu/ trầm cảm chiếm 1,8%, thu mình chiếm
2,1%, than phiền cơ thể chiếm 4,1%. Tỉ lệ này ở mức ranh giới là 18,3%. Bên
cạnh đó, tỉ lệ trẻ em từ 6 – 16 tuổi có các bất thường về tình cảm là 16,29%, ở
mức ranh giới là 11,59%, kết quả nghiên cứu cũng gợi ý rằng có từ 12-13% trẻ
em Việt Nam (trong độ tuổi 6-16) gặp phải những vấn đề SKTT một cách rõ rệt.
Điều này có nghĩa là có khoảng 2.7 triệu trẻ em
12
và vị thành niên trên toàn quốc gặp phải vấn đề SKTT (trong đó có stress)
[33].
Nghiên cứu tại trường THPT Yên Mô B Ninh Bình (2007) của Phạm
Thanh Bình sử dụng thang đo mức độ lo âu của Soly-Bensabel (60-90 điểm)
cho kết quả số lượng học sinh trong mức điểm 70-80 điểm chiếm số lượng
nhiều nhất, tiếp đến là số lượng học sinh 80-90 điểm, điều này có nghĩa có
một số lượng lớn học sinh được điều tra đang ở mức độ stress cao [4].
Học sinh, sinh viên là những chuyên gia tương lai của đất nước, có vai
trò quan trọng đến chất lượng của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế tri thức
và sự bền vững của xã hội. Trong quá trình học tập, họ tích cực trau dồi, phát
triển các phẩm chất tâm lý, để thực sự làm chủ bản thân, làm chủ xã hội văn
minh, hiện đại. Do đó, hiện tượng stress luôn nảy sinh, ảnh hưởng mạnh mẽ
đến sự thành công, hay thất bại của quá trình hoàn thiện nhân cách cũng như
phẩm chất tâm lý nghề nghiệp của họ [11]
Đã có nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của trẻ vị thành niên và
tập về nhà thường xuyên làm họ mất ngủ [61]. Trong cuộc thăm dò năm 2005
thực hiện bởi The Washington Post, Quỹ Kaiser Family và Đại học Harvard,
khảo sát hơn một nửa số thanh thiếu niên khu vực Washington the District, trong
đó 58% nói rằng các yếu tố trường học là nguyên nhân lớn nhất gây stress [29].
Tuy nhiên một nghiên cứu trường hợp ở Bangkok, Thái Lan (2010) của
Youjaiyen M, Sirimai W, Thongsai S trên 300 học sinh trung học phổ thông lại
cho kết quả các em học sinh có kết quả học tập thấp có căng thẳng cao hơn so
với những em có thành tích học tập cao hơn [53]. Trong một nghiên cứu thực
nghiệm về stress ở học sinh trung học phổ thông của Ezila Gbettor tại một
trường ở khu vực ngoại ô New York, Mỹ cho kết quả rằng học sinh có điểm
trung bình cao thường có mức stress cao hơn những học sinh có điểm trung bình
thấp hơn, những học sinh tham gia các lớp chuyên thường có mức độ stress cao
hơn các lớp bình thường. Những học sinh nữ có mức độ stress trong học tập
nhiều hơn nam [40].
14
Nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến stress ở học sinh trung học
phổ thông tham gia chương trình học dự bị đại học và học sinh bình thường
của Suldo SM, Shaunessy E, Thalji A, và cộng sự (2009) tại Mỹ trên 319 học
sinh cấp 3 (162 học sinh trong chương trình dự bị đại học và 157 học sinh
bình thường) cho kết quả: Nguyên nhân chính dẫn đến stress của những học
sinh tham gia chương trình dự bị đại học là yêu cầu học tập. Trái lại, các học
sinh bình thường thì có xu hướng bị stress bởi quan hệ bố mẹ con cái, khó
khăn trong học tập, xung đột trong gia đình và quan hệ bạn bè cũng như quá
trình chuyển đổi các vai trò trong xã hội. So với học sinh bình thường, học
sinh tham gia chương trình dự bị Đại học có nhiều biểu hiện tâm thần hơn, và
giảm khả năng học tập khi họ đối diện với stress ở mức độ cao. Cụ thể là
stress liên quan đến yêu cầu học tập, sự thay đổi vai trò và các vấn đề xã hội,
khó khăn trong học tập và các hoạt động ngoại khóa [60].