Bộ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
Bộ Y TE
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
TRẦN THỊ HUYÊN GIANG
THựC TRẠNG THỪA CÂN BÉO PHÌ
VÀ MỘT SÓ YÉU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC
SINH LÓP MỘT TẠI 2 HUYẼN/THÀNH PHỐ
TỈNH QUẢNG TRỊ NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC sĩ DINH DƯỠNG
THÁI BÌNH, 2017
Bộ YTÉ
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
TRẦN THỊ HUYỀN GIANG
THỰC TRẠNG THỪA CÂN BÉO PHÌ
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC
SINH LỚP MỘT TẠI 2 HUYẼN/THÀNH PHÓ
TỈNH QUẢNG TRỊ NĂM 2016
np
r
• *>
Tác giả
Trần Thị Huyền Giang
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực
hiện. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, luận văn
chưa được ai công bố trong bất kỳ chương trình nào khác.
rp r _
_• 2
Tác gia
Trần Thị Huyền Giang
CÁC KÝ HIỆU, CHỦ VIẾT TẮT
Kí hiêu
BAZ
Tiếng Việt
Zscore của chỉ số khối cơ thể theo tuổi
Cân nặng sơ sinh
ĐH
HAZ
Đại học
Zscore chiều cao theo tuổi
KTC 95%
NCHS
Khoảng tin cậy 95%
Trung tâm thống kê sức khoe Quốc gia Hoa Kỳ (National
centre for health statistic)
OR
NN
•> Á 1 A 1
SDD
TC
Tỷ SÔ chenh
Suy dinh dưỡng
Thừa cân
TPHCM
ĐẶT VẤN ĐÈ
Những nghiên cứu mới đây đêu cho thày, thừa cân và béo phì đã thực sự trở
thành một thách thức đối với dinh dưỡng và sức khỏe con người trên toàn cầu.
Thừa cân và béo phì không chỉ tăng cao ở các nước phát triển mà còn tăng nhanh ở
mức báo động ở các nước đang phát triển.
Tổ chức Y tế thế giới đã cảnh báo, thừa cân và béo phì cũng là một “Tứ
chứng nan Y” vì chưa có biện pháp hữu hiệu nào để chặn đứng sự gia tăng này.
Nguyên nhân của thừa cân và béo phì không chỉ do chế độ ăn uống thiếu khoa học
mà còn do nhiều yếu tố có liên quan như giảm hoạt động thể lực, stress, ô nhiễm
môi trường và những vấn đồ xã hội...[5].
Hiện nay, thừa cân và béo phì ở trẻ em đang được đặc biệt quan tâm vì nó
sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe khi trưởng thành do làm gia tăng nguy cơ đổi với các
bệnh như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tiểu đường, viêm xương khớp, ung thư,
sỏi mật v.v. Béo phì ở trẻ em còn làm ngừng tăng trưởng sớm, dần tới những ảnh
hưởng nặng nề về tâm lý như trẻ chậm chạp, nhút nhát, tự ti, kém hòa đồng và học
kém.
Béo phì ở trẻ em hôm nay có thể là nguồn gốc thảm họa cùa sức khỏe trong
tương lai. Dự báo đén năm 2020, Brazil sẽ có số lượng người béo phì đứng thứ 2
trên thé giới, khoảng 64 triệu người [42], Không chỉ ở các nước có thu nhập cao
mà ngay tại các nước có thu nhập trung bình và thấp thì tỷ lệ thừa cân, béo phì
cũng tăng, nhất là ở các khu vực đô thị.
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng quốc gia, tình trạng TC,
BP ở trẻ em, nhất là trẻ 6-11 tuổi đã tăng nhanh cùng với sự phát triển kinh tế.
Năm 1996 tỷ lệ trẻ em béo phì ở Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Nha Trang,
Hà Nội, Hải Phòng khoáng 1-2%, nhưng hiện nay, tỷ lệ này đã vượt qua ngưỡng
10% ở các thành phố lớn [5],
1.2.1.1.
B é o p h ì đ ơ n t h u ầ n ( b é o p h ì n g o ạ i s i n h ) : Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh
học rõ ràng.
1.2.1.2.
B é o p h ì b ệ n h l ý ( b é o p h ì n ộ i s i n h ) : Là béo phì do các vấn đề bệnh lý liên quan tới béo
gây nên:
- Bco phì do nguycn nhân nội tiết.
- Bco phì do suy giáp trạng: Thường xuất hiện muộn, bco vừa, chậm lớn, da khô, táo bón và chậm phát triển
tinh thần.
- Béo phì do cường vỏ thượng thận: Có thể do tốn thương tuyến yên hoặc u tuyến thượng thận, tăng cortisol và
insulin huyết thanh, không dung nạp glucose, thường béo ở mặt và thân, kèm theo tăng huyết áp.
- Béo phì do thiếu hormon tăng trưởng: Béo phì thường nhẹ hơn so với các nguyên nhân khác, béo chủ yếu ớ
thân kèm theo chậm lớn.
- Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng: thường xuất hiện sau dậy thì. Người béo phì có các
dấu hiệu của rậm lông hoặc nam hóa sớm, kinh nguyệt không đều, thường gặp các u nang buồng trứng kèm theo.
- Béo phì trong thiếu năng sinh dục.
- Bco phì do các bệnh về não: Do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh.
Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát
nên thường kèm theo béo phì.
1.2.2. Phân loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì:
- Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): Là loại béo phì có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ.
- Béo phì bắt đầu ở người lớn: Là loại béo phì có tăng kích thước tế bào mỡ còn số lượng tế bào mỡ thì bình
thường.
- Bco phì xuất hiện sớm: Là loại bco phì xuất hiện trước 5 tuổi.
xơ.
So' đô 1.1. Mô hình nguyên nhân và CO’ chê sinh bệnh của béo phì
1.4. Phương pháp đánh giá thừa cân, béo phì ỏ’ trẻ em
Sự phát triển cơ thể thay đổi theo tuổi, vì vậy không thể áp dụng một chuẩn chung đế đánh giá tình trạng thừa
cân béo phì cho mọi lứa tuổi, nhất là ở trẻ em lứa tuổi học đường.
Tổ chức Y tế Thế giới chia 4 nhóm tuổi để đánh giá tình trạng dinh dưỡng: dưới 5 tuổi, từ 5-9 tuổi, từ 10-19
tuổi, trên 19 tuổi. Ở trẻ em, hai chỉ số thường dùng nhất đé đánh giá tình trạng thừa cân và béo phì của trẻ là chi số
cân nặng/chiều cao (CN/CC) và chỉ số BMI theo tuổi và giới [55],
Chi số cân nặng/chiều cao được phân loại theo khuyến nghị của Tổ chức Y tể Thế giới năm 2007 với quần thể
tham khảo NCHS. Chỉ số này được tính
trên trung bỉnh quần thể và có các mốc: lệch chuẩn -4SD, -3SD, -2SD, -1SD,
TB, + 1SD, +2SD, +3SD, +4SD. Bảng được lập riêng theo giới cho trẻ trai và
trẻ gái. Trẻ có chỉ số CN/CC thấp hơn -2SD được tính là trẻ suy dinh dưỡng
(SDD) thể gầy còm, trẻ có chỉ số CN/CC cao hơn +2SD được tính là trẻ TC,
BP. Trẻ có chỉ số CN/CC trong giới hạn -2SD đến +2SD là bình thường. Chỉ
số khối cơ thể (Body Mass Index: BMI) theo tuổi và giới được sử dụng đế
đánh giá thừa cân béo phì theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới với
quần thể tham khảo từ 6 quốc gia: Brazil, Ghana, Án Độ, Na Uy, Oman và
Mỹ [54], BMI được tính theo công thức sau:
Cân nặng (kg)
BMI = --------—-----------Chiều cao (m)2
Xác định tỉnh trạng TC, BP theo chỉ số CN/CC: Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tình trạng TC, BP cùa trẻ được
tính theo chỉ số CN/CC nếu vượt quá +2SD là thừa cân, nếu vượt quá +3SD là béo phì. Đây là chỉ tiêu tốt đề đánh
giá quần thể, tuy nhiên nếu đánh giá cho cá nhân WHO khuyến cáo nên sử dụng thêm biện pháp đo dự trừ mỡ hay
đo lớp mờ dưới da ở hai vị trí cơ tam đầu và dưới xương bả vai đế tăng độ chính xác. Ngoài ra, cũng có thế sử dụng
biểu đồ tăng trưởng theo tuổi, giới để theo dõi và đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Xác định tình trạng TC, BP theo
chỉ số BMI theo tuổi và giới: Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tình trạng TC, BP cùa trẻ được tính theo chỉ số BMI theo
(63,2% ở nữ và 56,4% ở nam). Tỉ lệ TC, BP ở phụ nữ Lào khá cao do theo phong tục Lào thì hình ảnh phụ nữ mập
mạp là biếu hiện của sức khỏe và sự sung túc. Dự báo các nước khác trong khối ASEAN có hiện tượng nữ giới gia
tăng tỉ lệ TC, BP nhanh hơn nam giới. Philippine, Thái Lan, Indonesia, Malaysia tỉ lệ TC, BP ở nam giới không tăng
nhiều nhưng ở nữ giới lại tăng từ 28,5% lên 38,8%, 35,2% lên 44,7%; 22,7% lên 31,8%, 37,2% lên 47,2%, tương
ứng [56],
1.5.2. Tinh hình thừa cân, béo phì ở Việt Nam
Việt Nam đang phải đối đầu với gánh nặng kép về dinh dưỡng. Trong khi tỷ lệ trẻ SDD đang có xu hướng
giảm nhưng vần còn cao thì tỷ lệ trẻ TC, BP lại gia tăng nhanh chóng. Trong vài năm trở lại đây, vấn đề TC, BP
ngày càng được quan tâm, đặc biệt là ở đối tượng trẻ tiếu học.
Theo kết quả tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2010, tỷ lệ TC, BP ở trẻ dưới 5 tuổi ở nước ta là 5,6%
(ở thành phố 6,5% và ở nông thôn 4,2%). Tỷ lệ này đang có xu hướng gia tăng. So với năm 2000, tỷ lệ TC, BP ở trẻ
dưới 5 tuổi hiện cao hơn 6 lần [4], Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn năm 2030
khắng định nhiệm vụ cải thiện dinh dưỡng là trách nhiệm cùa các ngành, các cấp và mọi người dân. Cần phấn đấu
bảo đảm dinh dưỡng cân đối, hợp lý là yếu tố quan trọng nhằm hướng tới phát triền toàn diện về tầm vóc, thể chất,
trí tuệ của người Việt Nam và nâng cao chất lượng cuộc sống. Nội dung cụ thể của Chiến lược bao gồm 6 mục tiêu
cụ thế trong đỏ mục tiêu thứ tư là từng bước kiếm soát có hiệu quả tình trạng TC, BP [6].
Nghiên cứu của Đặng Văn Khôi trên 2050 trẻ em 6-11 tuối tại 6 trường tiểu học nội thành, thành phố Thái
Bình năm 2004 thấy: có 3,3% trẻ em thừa cân, béo phì. Tỷ lệ thừa cân BP ở nam cao hơn nữ, tỷ lệ TC, BP tăng dần
theo tuổi [20], Nghiên cứu tại Đà Nang ở trẻ tiểu học năm 2006 - 2007 thấy tỷ lệ TC là 4,9% và nguy cơ TC là 8,7%
[30], Một nghiên cứu tại Thành phố Huế năm 2008 thấy tỷ lệ TC, BP ở trẻ từ 11 - 15 tuổi là 8,3% [16]. Theo báo cáo
giám sát dinh dưỡng học đường của Sở Giáo dục - đào tạo TP.HCM thì tỷ lệ TC, BP của trẻ ở các trường tiểu học tại
thành phố khoảng 30 - 40% [8], đặc biệt tỷ lệ béo phì ở trẻ 9 - 11 tuổi tại trường Kết Đoàn, quận 1, Thành phố Hồ
Chí Minh năm 2008 đã là 41,1% [9], Theo Bùi Đức Văn, Hoàng Khánh tiến hành nghiên cứu tình trạng thừa cân,
béo phì của trẻ tiếu học huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau năm 2009 cho thấy tỷ lệ TC, BP là 7,26% [38], Kết quả
nghiên cứu năm 2009 tại trường tiểu học Kim Đồng, tỉnh Tây Ninh của tác giả Vương Thuận An và cộng sự cho
thấy tỷ lệ thừa cân là 20,3%, béo phì là 13,7% [1], Theo Nghiên cứu của Đặng Oanh và cộng sự về tình trạng thừa
cân, béo phì của trên 1800 trẻ tiểu học tại 4 thành phố thuộc khu vực Tây Nguyên năm 2010 cho thấy tỷ lệ thừa cân,
béo phì là 6,1% (trong đó tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ tiểu học tại Buôn Ma Thuột là 9,4%, PleiKu là 7,8%, thị xã
và BMI của cha mẹ, tình trạng TC, BP giũa chị em sinh đôi. Cha và mẹ thừa cân thì 40% con có khả năng thừa cânbéo phì. Theo Trần Thị Hồng Loan, trẻ có cha thừa cân có nguy cơ thừa cân gấp 6,2 lần so với trẻ có cha mẹ bình
thuờng [21]. Trịnh Thị Thanh Thủy nghiên cứu TC, BP ở trẻ 6 đến 11 tuổi tại Hà Nội năm 2011 cũng thấy trẻ có cha
hoặc mẹ thừa cân béo phì có nguy cơ tăng 2,5 lần và trẻ có cả cha lẫn mẹ TC, BP có nguy cơ tăng 3,2 lần so với trẻ
nhóm chứng [36],
1.6.3. Yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng tới thừa cân và béo phì ở trẻ em
Thức ăn cung cấp năng luợng cho cơ thể duới dạng glucid, lipid và
protcin. Sau khi chuyến hoá khoảng 50% năng luợng biến thành nhiệt luợng đế duy trì thân nhiệt, 45% năng luợng
biến thành năng luợng hóa học cung cấp cho sự hoạt động cần thiết cho các tổ chức tế bào sống. Khẩu phần ăn giàu
năng luợng vuợt quá năng luợng tiêu hao tạo nên một cân bàng duơng tính và phần du thừa đuợc chuyến thành mỡ
tích trữ trong các tổ chức. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi trẻ em ăn vào một luợng calo quá nhiều so với
nhu cầu hàng ngày sẽ gây nên bệnh béo phì do sự bất thuờng cùa các tế bào mỡ. Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn
cũng cho thấy, luợng chất béo cũng nhu tỷ lệ chất béo trong khấu phần ở nhóm trẻ thừa cân cao hơn hắn so với
nhóm chứng [35],
Trên thực tê có nhiêu yêu tô ảnh hưởng tới quá trình thu nhận thức ăn như: tâm lý ăn nhiều để chống chọi với
những vết thương tâm thần hay tình cảm, điều kiện kinh tế của từng gia đình, thói quen ăn uống của trẻ, tập quán ăn
uống của từng địa phương và nhất là quan điểm nuôi dưỡng trẻ của ông, bà, bố, mẹ. Một số nghiên cứu cho thấy thói
quen ăn uống không hợp lý như ăn nhiều bánh kẹo, đồ ngọt, uống nhiều nước giải khát công nghiệp, ăn nhiều thức
ăn ớ dạng lát mỏng rán ròn... là nguyên nhân dẫn tới béo phì ở trẻ. Những thức ăn hấp thu nhanh, đặc biệt là
carbonhydrat còn làm tăng nhanh glucose, insulin máu, kế đó là giảm glucose và gây thèm ăn nhiều hơn. Ngoài ra,
uổng nhiều nước ngọt làm tăng nguy cơ béo phì ở trẻ em. cần lưu ý rằng, không chì ăn thức ăn nhiều mỡ mới gây
béo mà thức ăn nhiều chất bột đường cũng có thổ gây bco [19]. Trong cơ thể, các chất protein, glucid đều có thể
chuyến hoá thành lipid, vì vậy ăn nhiều cơm, nhiều mỳ, nhiều mía, nhiều bánh kẹo đều béo. Trẻ cũng có thế béo phì
do ăn uống vô độ, ăn quà vặt, ăn thêm bừa phụ vào buổi tối. Nghiên cứu của Vũ Hưng Hiếu cho thấy, trẻ có ăn thêm
bừa phụ vào buôi tối trước khi đi ngủ thì nguy cơ trẻ mắc thừa cân cao gấp 5,16 lần [17],
Chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc của gia đình đối với trẻ cũng góp phần tạo nên những hành vi, thói quen ăn
uống không họp lý ngay từ khi còn nhỏ. Nhiều ông bố, bà mẹ quá quan tâm bồi dưỡng cho trẻ với suy nghĩ trẻ càng
ăn nhiều chất bố càng tốt, càng lớn nhanh, càng béo khoẻ càng tốt nên thường cho trẻ ăn nhừng thức ăn có nguồn
gốc động vật nhiều đạm, chất bco như thịt, trứng, sữa, giò, chả... . Ngoài ra, đối với trẻ là con một, con út, con đầu
hình hoạt động thể lực. Tình trạng thừa năng lượng của trẻ không chỉ do khâu phần ăn quá nhiều mà còn do tình
trạng không tham gia các hoạt động thể lực, thời gian xem vô tuyến nhiều đã làm giảm tiêu hao năng lượng ở trẻ và
tăng nguy cơ mắc TC, BP ở lứa tuổi này. Hoạt động thể lực bao gồm những hoạt động hàng ngày, các công việc liên
quan với hoạt động thề lực và luyện tập thể dục thể thao. Trẻ em hoạt động thế lực nhiều thì càng có cơ thể khoẻ
mạnh, sẽ ít liên quan đến tăng huyết áp nhất là trẻ dưới 5 tuổi và càng có ít nguy cơ trở thành béo phì khi lớn. Hoạt
động thể thao có vai trò trong giảm tích mỡ, tăng khối nạc, tuy nhiên sau khi ngừng tập luyện quá trình này đảo lại.
Thay đổi giữa khối mỡ và nạc có thể xảy ra mà không thay đồi về cân nặng, nhưng nếu hoạt động thể lực được duy
trì thường xuyên trong suốt cuộc đời thì việc tăng khối mỡ có thố bị ngăn chặn. Ngày nay xã hội càng phát triển,
chương trình vô tuyến dành cho trẻ em càng đa dạng và hấp dẫn, số giờ phát sóng lại liên tục trong ngày do đó trẻ
càng có nhiều cơ hội tiếp cận với vô tuyến. Xem vô tuyến làm giảm hoạt động thể lực, giảm chuyển hoá cơ bản,
tăng ăn vặt đặc biệt là thức ăn giàu béo. Có tới 54,2% trẻ em 10 tuổi ở Singapore ăn ở các quán bán rong ngoài
đường, 65% trẻ tiêu thụ 2 - 3 lần thức ăn giàu béo trong một ngày như mì tôm, nước ngọt, bánh ngọt, thức ăn rán.
Việc tiêp xúc nhiêu với quảng cáo thực phẩm trcn vô tuyến làm tăng sở thích của trẻ đối với thức ăn như đường
ngọt, bánh kẹo dẫn đến tăng tiêu thụ các sản phấm này và là những yếu tố nguy cơ dc gây TC, BP [53]. Việc tập
luyện nên bắt đầu từ nhỏ, nếu đi kèm với dinh dường thích hợp sẽ tạo ra lợi ích sức khoẻ tốt nhất, tập luyện lúc nhỏ
tuổi còn ngăn chặn được BP đặc biệt trong giai đoạn trẻ phát triển nhanh. Người ta còn thấy những trẻ hay hoạt động
thể lực có điểm thể dục cao hơn trẻ ít hoạt động thế lực. Những trẻ em BP thường ít hoạt động hơn nhũng trẻ cùng
lứa tuổi, chúng dường như kém nhanh nhẹn và đôi khi còn xấu hổ hoặc gặp khó khăn khi tham gia các hoạt động thể
thao.
1.6.5. Những yếu tố nguy cơ khác gây thừa cân và héo phì
TC, BP liên quan các yếu tố kinh tế - văn hoá - xã hội khi các yếu tố này tạo thuận lợi cho việc gia tăng tiêu
thụ thực phẩm giàu năng lượng, nhiều hàm lượng chất béo và lối sống tĩnh tại ít vận động.
Tuổi: Một số nghiên cứu cho thấy tuổi xuất hiện TC, BP rất sớm (từ 1- 5 tuổi), tuy nhiên độ tuổi xuất hiện
phổ biến là lứa tuổi học đường.
Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội: Các yếu tố văn hoá, dân tộc, tầng lớp xã hội, tôn giáo cũng là những yếu
tố môi trường làm ánh hưởng đến lượng thức ăn đưa vào theo nhiều cách khác nhau. Người ta thấy ở những nước đã
vữa và thuyên tắc mạch vành, nhồi máu cơ tim, bệnh tăng huyết áp [47].
7.7.3. Tác hại của thừa cân và hẻo phì ở trẻ em
Trẻ TC, BP và Hội chứng thông khí kém: Trẻ TC, BP đc mắc phải hội chứng thông khí kém do mờ tập trung
trong khoang bụng và bên ngoài lồng ngực làm cho cử động hô hấp và chuyển động cơ hoành hạn chế. Trẻ dỗ có
cảm giác loạn nhịp thở, thở gấp và rối loạn thông khí khi gia tăng vận động. Ban ngày trẻ mệt mòi, ít vận động, ngáp
vặt, thở ngắn. Ánh hưởng của TC, BP lên hô hấp cần được quan tâm, nhất là khả năng gây ngưng thở lúc ngủ. TC,
BP ảnh hưởng đến chức năng hô hấp bằng cách giảm suất đàn hồi của phổi và lồng ngực đưa đến giám thông khí
phế bào và gây hội chứng ngưng thở lúc ngủ. Hội chứng ngưng thở lúc ngủ được định nghĩa là sự xuất hiện đột ngột
sự dừng thở ít nhất 10 giây và hơn 5 lần mồi giờ. Hội chứng này đưa đến thiếu khí về đcm và thường xảy ra ở người
béo phì có BMI >35. Tuy nhiên, hội chứng này không đặc hiệu cho TC, BP [18].
1.8. Phòng ngừa thừa cân và béo phì ở lứa tuổi học đường
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có hai cách tiếp cận chính trong phòng chống TC, BP là phòng ngừa tăng cân và
thúc đẩy giám cân. Biện pháp phòng ngừa tăng cân áp dụng chung cho tất cả cư dân trong cộng đồng, biện pháp này
cũng áp dụng được cho người TC, BP. Biện pháp thúc đây giảm cân chỉ áp dụng cho người TC, BP [55]. Phòng
chống TC, BP thực hiện theo các nguyên tắc: tập trung làm giảm các yếu tố môi trường tạo thuận lợi cho thừa cân
béo phì, làm giảm các yếu tố nguy cơ tác động đến các cá nhân hay nhóm có nguy cơ, đồng thời quàn lý từng trường
hợp cho các đối tượng đã bị TC, BP. Riêng đối với quản lý từng trường hợp cho bệnh nhân TC, BP bao gồm 4 chiến
lược: phòng ngừa tăng cân, thúc đấy việc duy trì cân nặng, quản lý và điều trị các bệnh liên quan với TC, BP, thúc
đấy việc giảm cân. Do vậy, phòng chống TC, BP không chi là phòng ngừa không để người có cân nặng bình thường
bị TC, BP mà còn bao gồm: phòng bệnh cho người TC, BP, phòng ngừa không để người thừa cân chuyến sang béo
phì, phòng ngừa việc tái tăng trọng của người TC, BP đã giảm cân.
Nguyên tắc phòng chống TC, BP ở cộng đồng theo Tổ chức Y tế Thế giới là phải phối hợp hoạt động các bên
liên quan và có nhiều thành phần tham gia như cơ quan chính phủ, ngành thương mại, ngành công nghiệp sản xuất
thực phẩm, truyền thông đại chúng và người tiêu dùng [55], Tố chức Y tế Thế giới khuyến cáo nên phối hợp phòng
chống TC, BP trong chương trình phòng chống bệnh không lây của quốc gia và đề xuất mô hình phòng chống TC,
BP theo mô hình chia sẻ trách nhiệm như sơ đồ:
càn)
gia cộng đồng
Luật lệ về thực phẩm
Hướng dẫn dinh dưỡng hợp lý
Cam kết quốc gia về kiểm soát thừa cân béo phì
Tư vắn Tồ chức Y tế Thế giới về thừa cân béo phi
Sođồ 1.2. Mô hình chia sẻ trách nhiêm
#
Nguồn: Mô hình chia sẻ trách nhiệm, Tô chức Y tế Thế giới [54].
Can thiệp sớm ở trẻ TC, BP là cần thiết để tránh tình trạng TC, BP kéo dài đến khi trẻ trướng thành, tránh các
tác hại và biến chứng do các bệnh có nguồn gốc từ TC, BP.Các can thiệp dựa vào trường học đều nhằm mục tiêu cải
thiện kiến thức và các hành vi sức khỏe. Chương trình can thiệp trong nhà trường sẽ giúp trẻ có được kiến thức, thái
độ về cách ăn cân bằng dinh dưỡng và kỹ năng sống phù hợp để có lối sống lành mạnh, ví dụ: thói quen vận động
hàng ngày, giảm thời gian hoạt động tĩnh tại như xem truyền hình, chơi trò chơi vi tính, sử dụng máy vi tính [49],
Các can thiệp phòng ngừa TC, BP có thế làm thay đối hành vi nhưng hiệu quả của việc làm giảm tỉ lệ TC, BP vẫn
chưa rõ rệt. Qua tổng hợp các nghiên cứu can thiệp, WHO đề xuất chương trình can thiệp nên kéo dài ít nhất 6 tháng
để có thế đánh giá tác động tích cực của can thiệp [55].
Một trong 6 mục tiêu dinh dưỡng toàn cầu đến năm 2015 của Tổ chức Y tế thế giới là không tăng tỷ lệ TC, BP.
Tuy nhiên, tại Việt Nam sau 10 năm tỷ lệ này tăng đến 9,2 lần, xáy ra ớ mọi lứa tuổi. Nghicn cứu về thực trạng chăm
sóc dinh dưỡng trẻ em đô thị Việt Nam tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh của Viện nghiên cứu y xã hội học cho thấy
phần lớn các bà mẹ chưa có hiểu biết về cân nặng nên có của trẻ. Có 30% bà mẹ có con bị thừa cân mà không biết
trẻ đã thừa cân, 15% bà mẹ có con thừa cân vần mong muốn con mình tiếp tục tăng cân [39], Nhiều bà mẹ muốn con
dư cân, béo khỏe để có thể lực cho phát triển và dự phòng những lúc trẻ bị ốm [43],
Can thiệp cho kết quả tốt nhất khi điều trị cho trẻ TC, BP là kết hợp giữa nhà trường, gia đình và trẻ em. Tuy
vậy, vẫn còn các rào cản văn hóa xã hội cho các chương trình can thiệp tại gia đình. Các nghiên cứu này tập trung