BÀI TẬP LỚN
Tên đề tài:
“Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và 1 số yếu tố liên quan của học sinh trường
THCS Thanh Tuyền, Phủ Lý, Hà Nam năm 2014”.
I.
Đặt vấn đề
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), lứa tuổi vị thành niên bắt đầu từ 10- 19. Ở độ tuổi
này, sự phát triển của hệ thần kinh và nội tiết, hoạt động của các hoocmon nam và nữ đã
làm cho con người có sự phát triển nhảy vọt về thể lực, hình thái cơ thể cũng như trí tuệ,
tình cảm và các đặc điểm tâm lí và các mối quan hệ xã hội [12].
Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ thơ sang giai đoạn trưởng thành,
sự thay đổi về tâm lý, chuẩn bị cho cho giai đoạn phát triển đầy đủ của cơ thể, hoàn thiện
các cơ quan nên yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng. Ngoài yếu tố gen di truyền, môi trường
tâm lý, rèn luyện thể lực thì dinh dưỡng đóng góp 32% vào sự quyết định tầm vóc của trẻ
trong tương lai [13]. Khi thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến khả năng học tập, tiềm năng
phát triển thể lực cũng như sức sáng tạo của trẻ trong tương lai [5]. Lứa tuổi này trẻ cũng
bắt đầu tự chủ hơn trong việc lựa chọn khẩu phẩn ăn cũng như tự quyết định thói quen sinh
hoạt, bớt phụ thuộc vào cha mẹ.
Có thể thấy sự quan tâm của cộng đồng và Nhà nước đối với lứa tuổi vị thành niên
thông qua các chương trình về dinh dưỡng trong đề án “Nâng cao tầm vóc và thể lực
người Việt Nam” hay việc đưa giáo dục dinh dưỡng vào trường học. Tuy vậy, các nghiên
cứu về dinh dưỡng lứa tuổi vị thành niên còn ít, các nghiên cứu chủ yếu về dinh dưỡng cho
lứa tuổi dưới 5 tuổi hoặc bà mẹ mang thai. Tại Hà Nam, nhóm sinh viên đã tiến hành cân
đo và đánh giá tình trạng dinh dưỡng của 51 học sinh ở trường THCS Thanh Tuyền, kết
quả thu được tỷ lệ SDD của 51 học sinh này là 23,5% cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ SDD
của học sinh tại một số trường trên địa bàn Hà Nội theo nghiên cứu của Trần Thị Xuân
Ngọc năm 2012 là 9,1% [6].
Do vậy, nhóm sinh viên chọn đề tài “Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và 1 số yếu tố
liên quan của học sinh trường THCS Thanh Tuyền, Phủ Lý, Hà Nam năm 2014”
nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên và nghiên cứu 1 số yếu tố
Ở nữ giới, tuổi vị thành niên hay dậy thì được bắt đầu tính từ lúc xuất hiện kinh
nguyệt, thường 8-13 tuổi, đồng nghĩa với việc trẻ nữ có khả năng mang thai. Đồng thời
phát triển của tuyến vú, lông mu, tuyến mồ hôi [14]. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho
thấy các thiếu nữ có tình trạng dinh dưỡng tốt thường có hành kinh sớm hơn so với cái
thiếu nữ có tình trạng dinh dưỡng kém. Tuy nhiên cả hai nhóm đủ và thiếu dinh dưỡng cuối
cùng đều đạt chiều cao tương tự trong thời kì vị thành niên. Mặc dù phát triển có thể xảy ra
sớm hay muộn hơn và thời gian phát triển cũng có sự khác nhau [19].
Dậy thì ở nam giới thì suất hiện muộn hơn nữ khoảng 2-3 năm, khoảng từ 14 đến 18
tuổi. Thời điểm này tinh hoàn bắt đầu hoàn thiện cùng các biểu hiện khác như phát triển
tuyến mồ hôi, bã nhờn, phát triển lông mu, lông, và râu đồng thời thay đổi giọng nói, chiều
cao 1 cách nhanh chóng [14]. Các bạn nam có tình trạng dinh dưỡng tốt sẽ có tầm vóc cao
hơn so với các bạn có tình trạng dinh dưỡng kém [19].
Hiện nay Việt Nam có khoảng 15,2 triệu trẻ vị thành niên, chiếm 17,4% tổng dân số
[2]. Lứa tuổi này chiếm một tỷ lệ khá cao trong dân số, trong tương lai trẻ vị thành niên là
nguồn lao động chính rất cần cho sự phát triển của đất nước. Tình trạng dinh dưỡng của lứa
tuổi vị thanh niên là yếu tố quan trọng góp phần làm sớm, muộn hay ổn định các dấu hiệu
phát triển sinh lý của trẻ.
2.
Dinh dưỡng tuổi vị thành niênThiếu dinh dưỡng
Lứa tuổi vị thành niên là thời kì phát triển rất nhanh cân nặng cũng như chiều cao, cả
về cơ bắp lẫn dự trữ mỡ…vì vậy nếu bị thiếu ăn, thiếu chăm sóc cũng dễ bị thiếu dinh
dưỡng. Người ta cho rằng 25% chiều cao có được của con người đạt ở lứa tuổi vị thành
niên, kết thúc tuổi dậy thì cũng là kết thúc tăng trưởng về chiều cao [10]. Trẻ em ở lứa tuổi
học đường ít gặp tình trạng thiếu dinh dưỡng nặng, trừ khi nạn đói xảy ra ở lứa tuổi này, trẻ
phát triển chậm hơn với thời kì dưới 5 tuổi. Theo báo cáo 11/2003 của Bộ y tế, vị thành
niên việt nam ở độ tuổi 15 cao trung bình 155cm và nặng 40,9kg, tuy đã có sự cải thiện so
với trước nhưng vẫn thấp hơn tiêu chuẩn của WHO (169cm và 56kg) [1].
Thừa cân, béo phì
Tổng hợp số liệu nghiên cứu từ 450 nghiên cứu cắt ngang của 144 quốc gia vềtình
hình thừa cân béo phì ở trẻ tiền học đường đến năm 2010 có 43 triệu trẻ, trongđó 35 triệu
trẻ bị thừa cân béo phì ở các nước đang phát triển, với tỉ lệ 6,7% [20].
Năm 2011, Trịnh Thị Thanh Thủy nghiên cứu ở trẻ 6 đến 11 tuổi tại quậnĐống Đa,
Hà Nội và có kết quả lệ thừa cân béo phì là 12,9%, trẻ trai là 17,9% và trẻ gái là 7,4% [9].
Nghiên cứu 8561 học sinh từ 6-14 tuổi của Trần Thị Xuân Ngọc (2012) thấy tỉ lệ thừa
cân, béo phì là 10.7%. Trong đó tỷ lệ thừa cân, béo phì cao nhất ở nhóm 10 tuổi (18.2%) và
thấp nhất ở nhóm 14 tuổi (6.4%). Kết quả tỷ lệ thừa cân, béo phì của trường THCS thấy
giảm dần từ 11-14 tuổi. Tỷ lệ cao nhất ở nhóm 11 tuổi (13,0%), nhóm 12 tuổi (10,8%),
nhóm 13 tuổi (7,7%) và nhóm 14 tuổi là (6,4%). Tỷ lệ béo phì của nam (4.9%) cao hơn của
nữ (1.2%) [6].
Những người thừa cân, béo phì dễ mắc các bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch, đái
đường hay bị rối lọa dạ dày, ruột, sỏi mật…Thừa cân béo phì ảnh hưởng tâm lý trẻ: trẻ bị
bạn bè trong lớp trêu chọc, bị chê cười, bị đặt các biệt danh làm cho trẻ cảm thấy mặc cảm
và chịu áp lực tâm lý. Nghiên cứu tại Mỹ của Deckelbaum cho thấy trẻ thừa cân béo phì bị
mặc cảm, kém tự tin, ngại giao tiếp với bạn, lo lắng, trầm cảm, và thường xuyên có cảm
giác bị bỏ rơi hơn trẻ bình thường [18]. Năm 2005, nghiên cứu tại Bình Định của Hà
VănThiệu ở trẻ 6 đến 15 tuổi có 16% trẻ thừa cân béo phì bị tổn thương tâm lý [11].
4.
Các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng lứa là kinh tế xã hội; yếu tố môi
trường; khẩu phần; kiến thức, thực hành về dinh dưỡng và tập quán của trẻ…
Một trong những biểu hiện của tình trạng kinh tế - xã hội đó là thu thập. Thu nhập cao,
cuộc sống bớt khổ cực nên con người có điều kiện chăm sóc, cải thiện bữa cơm gia đình,
có điều kiện mua vật dụng hỗ trợ làm việc nhà... Một nghiên cứu ở Malaysia (1997) cho
thấy các gia đình có thu nhập thấp thì có nguy cơ nhẹ cân và thấp còi hơn gia đình có thu
Z-Scores=
Ngưỡng đánh giá:
Bình thường: -2SD ≤ BMI ≤ +1SD
SDD: BMI < -2SD
SDD nặng: BMI < -3SD
Thừa cân: BMI > +1SD
Béo phì: BMI > +2SD
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Chọn mẫu:
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức n= Z2-1-α/2
•
•
•
•
•
IV.
1.
2.
Trong đó:
n: là số học sinh điều tra
α: mức ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95% (α=0.05)
Z: hệ số để đạt độ tin cậy, ứng với α=0.05 thì Z=1,96
p: tỷ lệ đự đoán kết quả đo lường (ước lượng đựa trên các nghiên cứu khác) nghiên
phỏng vấn thử 5 học sinh trường THCS Nguyễn Trãi, mỗi học sinh được điều tra
hai lần với bộ câu hỏi này để tìm sai sót và chỉnh sửa nội dung bộ câu hỏi cho phù
•
4.2.
hợp.
Đo Cchỉ số nhân trắc
Thước đo gỗ.
Cân điện tử Karandascan.
Thực hiện thu thập số liệu
Nhóm lập kế hoạch cân đo, xin giấy giới thiệu của TTYTDP Hà Nam, đồng thời
đề xuất hỗ trợ từ khoa Dinh dưỡng đặt lịch hẹn với trường trung học cơ sở THCS Thanh
Tuyền, nêu rõ mục đích cân đo là đánh giá tình trạng dinh dưỡng và tìm hiểu một số yếu
tố liên quan nhằm mục đích học tập cho đợt thực địa.
Hoạt động cân đo học sinh được tiến hành vào ngày 26/11/2014. Nhóm sử dụng 2
cân loại 100kg và 2 thước đo chiều cao đứng của khoa Dinh dưỡng để thực hiện cân, đo
học sinh. Nhóm tiến hành cân đo tại 4 lớp 6A, 7C, 8B, 9A. Nhóm sinh viên chia thành 2
nhóm mỗi nhóm 2 thành viên, phụ trách cân, đo.
Tiến hành phát phiếu câu hỏi cho các em học sinh để các em trả lời câu hỏi trong phiếu
câu hỏi. Sau đó trong lúc các em trả lời phiếu, nhóm sinh viên gọi lần lượt từng em theo
thứ tự chỗ ngồi để tiến hành cân đo. Điền kết quả cân đo vào phiếu trả lời của các em
Phương pháp nhân trắc:
Cân
- Sử dụng cân điện tử Karandascan.
- Đơn vị đo cân nặng là kg, kết quả được ghi với 1 số lẻ. Ví dụ 35,4kg.
- Kỹ thuật cân:
6. Xử lý và phân tích số liệu:
- Các số liệu nhân trắc sẽ nhập vào phần mềm antro để tính BMI theo tuổi và giới.
- Các thông tin trong phiếu phát vấn, BMI theo tuổi và giới sẽ kiểm tra làm sạch số
liệu thô và mã hóa,xây dựng chương trình nhập số liệu thích hợp và xử lý trên
phần mềm SPSS.
7. Các biến số nghiên cứu
STT
Tên chỉ số
Định nghĩa
Chỉ số đánh giá
Phân loại
Thông tin chung
1
Tuổi
Là số năm dương lịch
từ khi sinh ra tới năm
thực hiện nghiên cứu
của đối tượng. Theo
quy định của WHO, 1
năm 1 tuổi
Liên tục
Tính theo WHO, từ
tuổi 6-19 tuổi tính
BMI theo tuổi và
giới.
Chỉ số BMI theo
tuổi và giới
Tỷ lệ học sinh
phân loại tình
trạng dinh dưỡng:
-
Liên tục
Liên tục
Suy dinh
dưỡng
Bình
thường
Thừa cân,
béo phì.
5
Kinh nguyệt
Nữ giới bắt đầu thấy
xuất hiện kinh nguyệt
Con duy nhất
2 người
≥ 3 người
Nghề hiện đang làm
phụ huynh
tạo thu nhập chính:
-
Cán bộ
Công nhân
Làm ruộng
Nghề khác
II. Thói quen ăn uống của đối tượng
8
Thói quen ăn sáng
Mức độ bỏ bữa sáng
của đối tượng:
-
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
(1-2 lần/tuần)
Thói quen ăn những
thức ăn khác ngoài
các bữa chính.
Tỷ lệ học sinh ăn
vặt của đối tượng.
Nhị phân
11
Uống sữa
Mức độ uống sữa của
đối tượng trong 1
tuần.
Tỷ lệ mức độ học
sinh uống sữa.
Định tính
Tỷ lệ phương tiện
Định danh
III. Thông tin thói quen sinh hoạt
12
Phương tiện tới
đối tượng.
thêm và tự học tại
nhà
Liên tục
15
Thói quen tham gia
các hoạt động thể
dục thể thao
Mức độ tham gia hoạt
động thể dục thể thao
của đối tượng: Hiếm
khi, thỉnh thoảng,
thường xuyên
Tỷ lệ mức độ học
sinh tham gia hoạt
động thể dục thể
thao
Định tính
16
Thói quen rửa tay
trước khi ăn và sau
khi đi vệ sinh
Nhị phân
18
Quan tâm của phụ
Trong 1 năm qua, bố
Tỷ lệ học sinh
Nhị phân
huynh đối tượng tới
tình trạng dinh
dưỡng
mẹ đối tượng có hỏi
thăm về cân nặng,
chiều cao của đối
tượng không.
được phụ huynh
hỏi về cân nặng,
chiều cao.
19
Quan tâm của phụ
21
Tiếp cận thông tin
Các nguồn:
Tỷ lệ các nguồn
thông tin được tiếp
cận
Định danh
-
Ti vi
Sách, báo
Loa, đài
Mạng internet
Trường học
V.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Một số đặc điểm về trường nghiên cứu
Trường THCS Thanh Tuyền nằm trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà
Nam. Trường. Trường THCS Thanh Tuyền đạt chuẩn từ năm 2011 với tổng số cán
bộ là 29 và 306 học sinh, có 10 lớp học. Cơ sở vật chất của trường tương đối khang
trang có đầy đủ các phòng chức năng (phòng thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học
tiếng anh và phòng y tế…). Tuy nhiên trường không có cán bộ y tế, phụ trách phòng
13
16
19
14
17
18
Tổng
66
74
Nhận xét:
Tổng số đối tượng nghiên cứu gồm cả nam và nữ từ 12- 15 tuổi là 140 người,Tỷ lệ
nam nữ đồng đều,cụ thể số đối tượng nam là 66 và nữ là 74.
Bảng 4: Nghề nghiệp của bố mẹ
Mẹ (n=140)
Nghề nghiệp
N
3
2.2
Công nhân
15
10.9
Làm ruộng
110
78.6
Khác
9
6.4
Nhận xét: Nghề nghiệp của cha mẹ đối tượng nghiên cứu chủ yếu là làm ruộng.
Trong đó 77.9% số bà mẹ lảm ruộng, 15% làm công nhân và chỉ có 2.1% làm cán bộ viên
chức.
Bảng 5: Số con trong gia đình và vị trí của đối tượng
Số con (n=140)
Con thứ
44
32.4
Con út
49
35
Nhận xét: Gia đình của đối tượng chủ yếu có 2 anh chị em, chiếm 49.3%. Số gia
đình có từ 3 người con trở lên là 47.9% và chỉ có 4 em là con một, chiếm 2.9%.
3. Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng
Bảng 6: Giá trị trung bình về cân nặng, chiều cao của học sinh 12-15 tuổi
Lớp
12
Cân nặng
Chiều cao
N
Nam
145.73±7.00
143.96±5.97
14
16
40.82±10.29 41.73±5.00
19
151.61±9.3
151.15±4.40
15
17
44.37±8.26
18
160.02±7.99
151.21±4.49
40.68±5.84
tính
12
13
14
15
Chung
n
%
n
%
n
%
Nam
17
1
1
2.9%
33
94.2%
1
2.9%
Nam
16
1
6.2%
13
81.2%
2
12.5%
Nữ
Nam
16
4
25%
8
50%
4
25%
Nữ
19
2
10.5%
15
78.9%
2
0
0
Nữ
18
4
22.2%
14
77.1%
0
0
Chung
35
8
22.9%
27
63
85.1%
2
2.7%
Chung
140
19
13.6%
112
80%
9
6.4%
Nhận xét:
Tỷ lệ SDD ở đối tượng nam trong nghiên cứu là 15.2% ,ở đối tượng nữ là 12.2%.
Trong khi đó, tỷ lệ thừa cân ở nam là 10.6% còn ở nữ tỷ lệ này là 2.7%.
Ở các nhóm trong nghiên cứu thấy nhóm nam học sinh lứa tuổi 14 có tỷ lệ SDD cao
Bảng 9: Chiều cao trung bình của nữ có kinh và chưa có kinh
12 tuổi
13 tuổi
14 tuổi
15 tuổi
Có kinh nguyệt
148 cm
147cm
152,.3cm
151,.3cm
Chưa có kinh
nguyệt
141cm
141.1cm
150.9cm
kinh cao hơn những em chưa có là 6 kg,sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p
4 bữa
10
7.1
≥4 bữa
1
0.7
Nhận xét:
Phần lớn (75.7%) học sinh ăn 3 bữa 1 ngày, 15.7% ăn 2 bữa một ngày và chỉ có 7.1% số
học sinh ăn hơn 4 bữa một ngày.
Bảng 13: Thói quen bỏ bữa sáng và tình trạng dinh dưỡng
Bỏ bữa sáng
(n=140)
%
SDD
Thừa cân, béo phì
Hiếm khi
45%
Bảng 13: Ăn quà vặt và tình trạng dinh dưỡng
Ăn quà vặt
Bình thường
SDD
Thừa cân
Tổng
Có
80.4%
89.5%
100%
82.9%
Không
19.6%
10.5%
0%
50
Bim bim, bỏng
ngô
51
Nước ngọt, nước
có ga
43
Hoa quả
52
Uống sữa (n=138) Hiếm khi
Đồ ăn vặt
Khác
Nhận xét:
Tỷ lệ thường xuyên uống sữa của đối tượng nghiên cứu không cao, chỉ có khoảng 15.7%
các em thường xuyên uống sữa và đến 50.7% số học sinh trong nghiên cứu hiếm khi
uống sữa.
Trong khi đó, trẻ ăn vặt khá nhiều và phong phú, đồng đều các loại như: Bánh kẹo, bim
bim, bỏng ngô, nước ngọt, hoa quả
Bảng 15: Tần suất được tiền tiêu vặt
Bảng 16: Phương tiện tới trường và khoảng cách từ nhà tới trường
N
%
Khoảng cách tới trường
Người thân
chở tới
4
2.9%
1.2km
Xe đạp
109
79.0%
1.7 km
Đi bộ
25
22.8%
Nhận xét:
Phần lớn học sinh trong nghiên cứu ngủ khoảng 7-8 tiếng mỗi đêm. Chỉ có số ít học sinh
ngủ ít hơn 6 tiếng chiếm 13.6% và 22.8% học sinh ngủ nhiều hơn 9 tiếng.
Bảng 18: Thời gian học trung bình với tình trạng dinh dưỡng
N
Thời gian học trung bình
(tiếng)
Bình thường
112
2.35
Suy dinh dưỡng
17
2.03
Thừa cân, béo phì
9
3.0
11.7%
Hiếm khi
68
49.6
Thỉnh thoảng
58
42.3
Thường xuyên
11
8.0
Khác
Hoạt động thể
dục thể thao
(n=137)
Nhận xét:
Các em thường phụ giúp gia đình làm công việc nhà như quét nhà,rửa bát,…Có 11.7%
tổng số học sinh giúp gia đình làm ruộng,còn 1 số ít làm các công việc khác như bán
17.1%
Thỉnh thoảng
36
25.7%
Thường xuyên
78
56.9%
9
6.6%
Thỉnh thoảng
11
8.0%
Thường xuyên
137
85.4%