BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ THỊ ĐIỆP
THỰC TRẠNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHƯƠNG MỸ A,
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ THỊ ĐIỆP
THỰC TRẠNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHƯƠNG MỸ A,
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
PGS.TS. PHẠM VIỆT CƯỜNG
DANH MỤC VIẾT TẮT
Viết tắt
BLHĐ
CDC
ĐTNC
ĐHYTCC
ĐTV
GD – ĐT
Giải nghĩa
Bạo lực học đường
Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ
Đối tượng nghiên cứu
Đại học Y tế công cộng
Điều tra viên
Giáo dục – Đào tạo
NCV
Nghiên cứu viên
PVS
Phỏng vấn sâu
THPT
Trung học phổ thông
1.5.4. Yếu tố bạn bè ............................................................................................... 16
1.5.5. Yếu tố môi trường xã hội .............................................................................. 16
1.6. Quy định về xử lý bạo lực học đường tại Việt Nam…….................................. 17
1.7. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu..................................................................... 21
1.8. Khung lý thuyết .............................................................................................. 23
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 25
2.1. Đối tượng nghiên cứu: .................................................................................... 25
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn lựa..................................................................................... 25
2.1.2. Đối tượng loại trừ ........................................................................................ 25
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................... 25
2.3. Thiết kế nghiên cứu ........................................................................................ 25
iv
2.4. Cỡ mẫu ........................................................................................................... 25
2.4.1. Cỡ mẫu định lượng ...................................................................................... 25
2.4.2. Cỡ mẫu định tính ......................................................................................... 26
2.5. Phương pháp chọn mẫu ................................................................................... 26
2.5.1. Phương pháp chọn mẫu định lượng ............................................................. 26
2.5.2. Phương pháp chọn mẫu định tính: ............................................................... 27
2.6. Phương pháp thu thập số liệu .......................................................................... 28
2.6.1. Phương pháp thu thập số liệu định lượng .................................................... 28
2.6.2. Phương pháp thu thập số liệu định tính ........................................................ 29
2.7. Công cụ và biến số nghiên cứu ....................................................................... 29
2.7.1. Công cụ nghiên cứu ..................................................................................... 29
2.7.2. Biến số nghiên cứu ....................................................................................... 29
2.7.3. Các chủ đề nghiên cứu định tính .................................................................. 32
2.8. Thước đo ........................................................................................................ 33
2.9. Phân tích số liệu:............................................................................................. 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 83
PHỤ LỤC ............................................................................................................. 91
Phụ lục 1: Phiếu tình nguyện tham gia nghiên cứu ................................................. 91
Phụ lục 2: Bộ câu hỏi khảo sát. .............................................................................. 92
Phụ lục 3: Mẫu phiếu phỏng vấn sâu học sinh ..................................................... 108
Phụ lục 4: Nội dung phỏng vấn sâu Bí thư Đoàn Thanh niên ............................... 109
Phụ lục 5: Nội dung phỏng vấn sâu Giáo viên chủ nhiệm .............................. 109115
Phụ lục 6: Biến số nghiên cứu định lượng ..................................................... 109116
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số lượng học sinh của Trường THPT Chương Mỹ A năm học 2015-2016 ..... 21
Bảng 3.1: Mô tả thông tin chung của đối tượng nghiên cứu ................................... 37
Bảng 3.2: Thông tin chung về phụ huynh học sinh ............................................... 38
Bảng 3.3: Mô tả đặc điểm về gia đình của đối tượng nghiên cứu ........................... 39
Bảng 3.4: Mô tả đặc điểm liên quan đến bạn bè của đối tượng nghiên cứu ............ 40
Bảng 3.5: Hành vi bạo lực theo một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 44
Bảng 3.6: Hành vi bạo lực theo một số đặc điểm của gia đình ............................... 45
Bảng 3.7: Hành vi bạo lực theo một số đặc điểm về bạn bè ................................... 46
Bảng 3.8: Hành vi bạo lực học đường theo một số đặc điểm về nhà trường ........... 47
Bảng 3.9: Hành vi bạo lực theo một số đặc điểm về môi trường xã hội .................. 48
Bảng 3.10: Hành vi bạo lực theo một số hành vi nguy cơ ...................................... 49
Bảng 3.11: Hành vi bạo lực theo một số vấn đề khác của đối tượng nghiên cứu .... 50
Bảng 3.12: Lý do thực hiện hành vi bạo lực học đường và người thực hiện
hành vi bạo lực ..................................................................................................... 51
Bảng 3.13: Bị bạo lực theo một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ....... 52
Bảng 3.14: Bị bạo lực học đường theo một số đặc điểm của gia đình .................... 53
Bảng 3.15: Bị bạo lực học đường theo một số đặc điểm về bạn bè ........................ 54
Biểu đồ 3.6: Phân bố tỷ lệ người học sinh chia sẻ khi bị bạo lực………………….66
Biểu đồ: 3.7: Phản ứng của học sinh khi chứng kiến hành vi bạo lực học đường…67
1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Bạo lực học đường hiện nay thực sự đang trở thành mối lo lắng và quan tâm
lớn của toàn xã hội bởi hậu quả và tính chất ngày càng nghiêm trọng. Nghiên cứu
cắt ngang mô tả kết hợp định lượng và định tính được thực hiện trên 406 học sinh
nhằm tìm hiểu thực trạng bạo lực học đường và một số yếu tố liên quan ở học sinh
trường trung học phổ thông Chương Mỹ A, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội
năm 2016.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong vòng 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu,
41,9% số học sinh đã từng có hành vi bạo lực học đường, trong đó bạo lực về lời
nói chiếm tỷ lệ cao nhất (35,5%), tiếp theo là bạo lực xã hội (26,8%), bạo lực thể
chất (14%) và thấp nhất là bạo lực điện tử (12,6%). Các yếu tố chính được xác định
liên quan đến hành vi bạo lực bao gồm: Giới tính, khối lớp, từng bị người nhà gây
thương tích, có bạn thân từng có hành vi bạo lực học đường và từng nghĩ đến tử tự.
Về bị bạo lực học đường, tỷ lệ học sinh từng bị ít nhất một hành vi bạo lực
trong vòng 6 tháng qua là 32%, trong đó bị bạo lực lời nói chiếm tỷ lệ cao nhất với
25,4%, tiếp đến là bị bạo lực xã hội (16%), bị bạo lực thể chất (12,3%) và thấp nhất
là bị bạo lực điện tử (10,1%). Các yếu tố chính được xác định liên quan đến bị bạo
lực bao gồm: Giới tính, khối lớp, từng bị người nhà gây thương tích, học sinh biết
về việc bị nhà trường kỷ luật do hành vi bạo lực học đường, từng hút thuốc lá, từng
mang hung khí trong người trong năm học qua và từng chứng kiến các vụ bạo lực
xảy ra tại nơi sinh sống.
Từ kết quả nghiên cứu, nhà trường nên tăng cường tuyên truyền về phòng
chống bạo lực học đường qua các buổi sinh hoạt tập thể hoặc hoạt động ngoại khóa;
tăng cường gắn kết giữa giáo viên và học sinh để giúp giáo viên hiểu được tâm tư,
không ít vụ bạo lực đã cướp đi sinh mạng của các em [10]. Đặc biệt theo thống kê
của Cục Quản lý môi trường y tế tại 63 tỉnh/thành phố, riêng trong năm 2014 có tới
88 trường hợp ở học đường (trẻ dưới 19 tuổi) tử vong liên quan vấn đề bạo lực [2].
Bạo lực học đường ngày càng diễn ra dưới nhiều hình thức như: chửi thề, nói
xấu, chia rẽ bè phía, miệt thị; Nhắn tin hoặc gửi thư uy hiếp, bắt nạt, trấn lột đồ đạc
hoặc tiền bạc; Uy hiếp bằng hình ảnh, thông tin mang tính chất bạo lực, đồi trụy
trên mạng internet; Dùng vũ lực như tát, đá, đấm, đánh, giật tóc, lột quần áo; Quay
video clip các hành vi bạo lực và đưa lên mạng internet…và các phương tiện sử
3
dụng cũng đa dạng hơn như: dao, mã tấu, giày dép, sách vở, bút, kiếm, ống sắt, dao
lam, thư truyền tay, mạng internet, điện thoại di động…. [1]. Những đối tượng có
hành vi bạo lực bao gồm cả lứa tuổi tiểu học cho tới trung học và thậm chí ở những
bậc học cao hơn. Tuy nhiên, vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng ở nhóm học sinh
THPT. Đây là lứa tuổi mà cơ thể các em đang có nhiều biến đổi về mặt tâm sinh lý,
suy nghĩ nông nổi, cho rằng mình đã là người lớn, muốn tự bản thân giải quyết các
mâu thuẫn, đặc biệt dễ bị bạn bè rủ rê, lôi kéo, kích động, thích thể hiện “bản lĩnh”
bằng vũ lực. Đó chính là những yếu tố thúc đẩy các em dễ có những hành vi thiếu
kiểm soát bản thân, dẫn tới bạo lực [1].
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về bạo lực và các hành vi nguy cơ liên quan
đến bạo lực học đường không nhiều, đặc biệt là trên đối tượng học sinh THPT vùng
nông thôn. Đi sâu vào nghiên cứu vấn đề bạo lực học đường và các yếu tố liên quan
sẽ là cơ sở đề xuất cho nhà trường các biện pháp phòng chống bạo lực ở học sinh
một cách phù hợp nhất.
Qua phỏng vấn nhanh Ban giám hiệu Trường THPT Chương Mỹ A, giáo
viên chủ nhiệm và một số học sinh cho thấy bạo lực học đường trên địa bàn huyện
Chương Mỹ nói chung và tại Trường THPT Chương Mỹ A nói riêng có xu hướng
gia tăng cả về số lượng, loại hình và mức độ nghiêm trọng. Chỉ riêng trong kỳ I,
hành vi, không chỉ là những hành vi thể chất mà còn bao gồm các mối đe dọa và đe
dọa. Ngoài tử vong và thương tật, bạo lực còn dẫn đến vô số những hậu quả không
rõ ràng như tổn hại về tâm lý, thiếu thốn và kém phát triển, gây tổn hại đến phúc lợi
của cá nhân, gia đình và cộng đồng.
1.2. Phân loại bạo lực
Có nhiều cách phân loại bạo lực, tuy nhiên theo Báo cáo thế giới về bạo lực
và sức khỏe năm 2002, Tổ chức Y tế thế giới chia bạo lực ra làm 3 lĩnh vực chính
tùy thuộc vào đặc điểm hành động của bạo lực [64], bao gồm:
1) Bạo lực tự thân
2) Bạo lực giữa các cá nhân
3) Bạo lực nhóm, tập thể
Sự phân loại ban đầu dựa trên sự khác nhau giữa bạo lực của người tự gây ra
cho chính mình hay gây ra bởi người khác, bởi một nhóm ít người hay bởi nhiều
người như các tổ chức chính trị, tổ chức khủng bố, nhóm quân sự.
Dưới 3 dạng bạo lực chính ở trên, mỗi loại bạo lực còn được chia nhỏ hơn
phản ánh nhiều dạng bạo lực chi tiết hơn nữa.
Bạo lực tự thân
Bạo lực cá nhân được chia làm 2 dạng chính là hành vi tự sát và tự hành hạ
bản thân. Thể thứ nhất bao gồm các hành vi nghĩ đến tự sát, cố gắng tự sát nhưng
chưa thành và tự sát thành công. Thể thứ hai là các hành động tự hành hạ bản thân
6
Bạo lực giữa các cá nhân: cũng chia làm hai thể
Bạo lực gia đình và bạo lực tình dục: Loại hình bạo lực này rất phổ biến giữa
các thành viên trong gia đình và với đối tác quan hệ tình dục, thông thương (nhưng
không phải luôn luôn) xảy ra trong nhà. Loại hình bạo lực này bao gồm các hình
thức như lạm dụng trẻ em, bạo lực tình dục và hành hạ người cao tuổi.
Bạo lực cộng đồng: Bạo lực xảy ra giữa các cá nhân không có mối quan hệ
Hành hạ
bản thân
Gia đình/
đối tác
Trẻ
em
Đối
tác
Bạo lực
tập thể
Xã
hội
Cộng
đồng
Người
già
Ngườ
i lạ
Người
tát, đánh – thường gây tổn hại về tâm lý nhiều hơn so với thể chất. Một số hình thức
khác như bạo lực băng đảng và tấn công vũ lực (có hoặc không sử dụng vũ khí) có
thể dẫn đến những chấn thương nghiêm trọng, thậm chí tử vong [23, 65].
Trường hợp bạo lực học đường: được định nghĩa là các hành vi bạo lực ở độ
tuổi 10-18, xảy ra trong khuôn viên nhà trường, trên đường tới trường hoặc từ
trường về nhà, và trong các hoạt động do nhà trường tổ chức [25].
Bắt nạt học đường: là một hành động đối xử thô bạo trong giới học sinh với
nhau. Các hành vi bắt nạt bao gồm từ các hành động bạo lực về thể chất (đá, xô
đẩy) cho đến việc sử dụng lời nói (đặt tên hay đe dọa), và bạo lực tinh thần như gây
lời đồn, xa lánh/cô lập [57].
1.3.2. Phân loại bạo lực học đường
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, bạo lực học đường được phân loại dựa
trên phân loại của một số nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam [8, 61, 68].
Trong đó bạo lực học đường được chia thành 4 nhóm sau:
-
Bạo lực thể chất: bao gồm các hành vi như đánh, đấm, đá, đẩy, tát, dứt tóc,
kéo tai, xé quần áo, trấn lột, cướp đồ vật của một/một nhóm học sinh khác;
-
Bạo lực bằng lời nói: bao gồm các hành vi như gán/gọi biệt danh (mang ý
nghĩa xấu), chế nhạo làm tổn thương nhau, sỉ nhục, dùng lời nói đe doạ/ép
buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình;
-
Bạo lực xã hội: bao gồm các hành vi như phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay,
tạo/phát tán tin đồn (mang ý nghĩa xấu) cho một/một nhóm học sinh khác;
năm 2015 của CDC, có 7,8% học sinh cho biết đã từng tham gia đánh nhau, 20,2 %
học sinh từng bị cướp đồ, 15,5% từng bị bạo lực điện tử trong vòng một năm qua,
4,1% học sinh từng mang vũ khí (sung, dao) đến trường trong vòng 1 tháng trước
thời điểm nghiên cứu. Đặc biệt có tới 5,6% học sinh cho biết đã không đi học một
hoặc nhiều ngày trong vòng 1 tháng qua vì cảm thấy ở trường hoặc trên đường đến
trường/từ trường về nhà không an toàn [37].
Một nghiên cứu trên quy mô quốc gia về bạo lực học đường quy mô quốc gia
trên 5.939 học sinh của 121 trường THPT tại Nam Phi năm 2012 cho thấy, 22,2%
học sinh cho biết đã bị từng bị đe doạ hoặc là nạn nhân của một cuộc tấn công, cướp
10
tài sản hoặc tấn công tình dục tại trường trong năm qua. Trong đó 12,2% từng bị đe
dọa bằng bạo lực, 6.3% từng bị tấn công, 4,7% từng bị tấn công tình dục hoặc
cưỡng hiếp và 4,5% từng bị cướp ở trường [46].
Một nghiên cứu khác tiến hành trong nhóm học sinh THPT tại Thổ Nhĩ Kỳ
năm 2011 cũng cho kết quả tương tự khi một tỷ lệ rất cao (83%) học sinh trả lời
từng liên quan đến các hành vi bạo lực trong trường học, trong đó, có 17% là nằm
trong vòng quay của bạo lực (violence/bullying cycle) nghĩa là từng là nạn nhân của
bạo lực và sau đó đi thực hiện hành vi bạo lực với các học sinh khác [49].
Nghiên cứu Qiao YJ và cộng sự năm 2010 khi tiến hành điều tra tỷ lệ và các
yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực thể chất trên 5.718 học sinh từ lớp 7 đến 12 tại
Bắc Kinh cho thấy trong số học sinh tham gia nghiên cứu, thì có 14,3% học sinh
cho rằng đã tham gia hành vi bạo lực thể chất trong vòng 12 tháng qua [49].
1.4.2. Bạo lực học đường tại Việt Nam
Theo báo cáo Thống kê của Vụ Công tác học sinh sinh viên, thống kê từ 38
Sở Giáo dục & Đào tạo gửi về Bộ, từ năm 2003 đến cuối năm 2010 có tới hơn
8.000 vụ học sinh tham gia đánh nhau và bị xử lý kỷ luật. Cụ thể là nữ sinh tụ tập
đánh nhau, đánh hội đồng, làm nhục bạn; nam sinh dùng dao, kiếm, mã tấu chém
Trong hội thảo "Trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng - Thực trạng
và giải pháp" diễn ra tại Hà Nội ngày 26/11/2014, do Sở GD-ĐT Thành phố Hà Nội
tổ chức, các báo cáo của Viện nghiên cứu Y - Xã hội và Tổ chức từ thiện Plan Việt
Nam, đã công bố kết quả nghiên cứu về bạo lực giới trong trường học. Nghiên cứu
được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2014, với 3.000 học sinh của 30 trường
THCS, THPT trên địa bàn Hà Nội, sử dụng phương pháp bảng hỏi và phỏng vấn
sâu. Kết quả cho thấy, khoảng 80% học sinh cho biết từ trước đến nay đã bị bạo lực
giới trong trường học ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua. Trong
đó, bạo lực tinh thần (mắng chửi, đe dọa, bắt phạt, đặt điều, sỉ nhục...) chiếm tỷ lệ
cao nhất 73%, bạo lực thể chất (tát, đá, xô đẩy, kéo tóc, bạt tai, đánh đập...) là 41%
và bạo lực tình dục (tin nhắn với nội dung tình dục, sờ, hôn, hiếp dâm, yêu cầu
chạm vào bộ phận sinh dục, lan truyền tin đồn tình dục...) chiếm 19% [6].
Một khảo sát khác trên 297 học sinh một số trường phổ thông tại TP Hồ Chí
Minh năm 2014 (39,4% là học sinh THCS và 60,6% là học sinh THPT) cho thấy
52,1% học sinh trả lời đã từng là nạn nhân của bạo lực học đường. Hành động mà
học sinh thường làm nhất khi bị bạo lực là báo với giáo viên (41,2%), phản ứng tức
12
thời bằng cách nói lại bạn chiếm 38,8% và về nhà nói chuyện với người thân trong
gia đình chiếm 36,7%. Phản ứng bạo lực nhất là đánh lại bạn chiếm 29,6 % [14].
1.5. Một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực học đường.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố bao gồm: yếu tố cá nhân, yếu tố gia
đình, yếu tố nhà trường/thầy cô, yếu tố bạn bè và môi trường xã hội có liên quan với
các hành vi bạo lực học đường ở học sinh.
1.6.1. Yếu tố cá nhân học sinh
Có nhiều yếu tố dẫn đến hành vi bạo lực học đường, trong đó có yếu tố liên
quan đến cá nhân học sinh bao gồm tuổi, giới, kết quả học tập, thiếu hụt kỹ năng
sống, các vấn đề sức khỏe tâm thần và các hành vi nguy cơ khác của học sinh…
thiếu kỹ năng sống ở học sinh.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, “Kỹ năng sống là khả năng thích nghi một cách
tích cực của hành vi, cho phép các cá nhân ứng phó một cách có hiệu quả với những
yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày” [66].
Một thực trạng đáng lo ngại là giới trẻ hiện nay, đặc biệt là học sinh THPT
chưa được trang bị các kỹ năng sống cơ bản một cách toàn diện và hệ thống, dẫn
đến việc các em bị thiếu hụt rất nhiều kỹ năng cần thiết như kỹ năng tự nhận thức,
kỹ năng đối phó với căng thẳng, kỹ năng giải quyết vấn đề, và kỹ năng ứng xử với
các mối quan hệ bạn bè, các mâu thuẫn ở lứa tuổi học trò, dễ bị kích động bạo lực
[10].
Bên cạnh các yếu tố liên quan đến tâm sinh lý phát triển lứa tuổi, một số yếu
tố về sức khỏe tâm thần và trầm cảm cũng được các nghiên cứu chỉ ra là có ảnh
hưởng làm tăng hành vi bạo lực ở học sinh, bao gồm việc từng có ý định tử tự [8],
cảm giác bất an, buồn chán cả ngày, cảm giác bực bội, dễ cáu giận và mất kiểm
soát. Đây cũng chính là một biểu hiện của việc chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng
sống cũng như khả năng đối phó và giải quyết các vấn đề ở học sinh [40].
Việc sử dụng rượu bia và chất kích thích cũng được một số nghiên cứu
chứng minh là một trong những yếu tố có mối liên quan với hành vi bạo lực ở học
sinh. Các chất này không chỉ tạo ảo giác, khiến con người cảm thấy hưng phấn mà
nó còn làm cho họ mất khả năng kiểm soát hành vi, muốn thể hiện cái tôi của bản
thân. Ngoài ra, việc sử dụng các chất gây nghiện cũng làm trầm trọng thêm hành vi
bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên, làm tăng thêm tình trạng mang hung
khí và tính bốc đồng của giới trẻ [8,66].
14
1.5.2. Yếu tố gia đình
Gia đình chính là nơi hình thành cho các em nhân cách sống và cách ứng xử
trong xã hội văn minh, nơi giáo dục cho các em những cảm nhận đầu tiên về quan
Bộ GD-ĐT Việt Nam đã chỉ ra rằng những gia đình khá giả, kiếm được nhiều tiền
thì một trong những cách thể hiện sự giàu sang của bố mẹ là nuông chiều con cái,
cho tiền, mua sắm cho con không thiếu thứ gì để họ cảm thấy hãnh diện vì con mình
không thua kém người khác. Tuy nhiên, họ không hiểu rằng đấy là một trong những
nguyên nhân dẫn đến hành vi lệch chuẩn của trẻ, thích hơn người, và sẵn sàng bắt
nạt người khác để khẳng định mình [4, 52].
1.5.3. Yếu tố trường học/thầy cô
Một thực tế nhức nhối là có rất nhiều vụ bạo lực xảy ra chính từ nhân cách
của những người thầy, người cô khi đứng trước những hành vi lệch chuẩn của trẻ,
thay vì thầy cô nên giữ thái độ bình tĩnh, ân cần chỉ bảo để các em dần dần nhận ra
sự không đúng đắn và từ bỏ nó thì các thầy, cô lại quát tháo, đánh đập, nhiếc móc
hoặc trừng phạt các em, điều đó không những làm các em không thay đổi mà chỉ
làm tăng thêm những hành vi đó ở học sinh. Bên cạnh đó, nhà trường thiếu hoặc ít
quan tâm đến những xích mích, những mâu thuẫn của học sinh cũng là nguyên nhân
dẫn đến bạo lực học đường ngày càng tăng. Hơn nữa, giáo viên chủ nhiệm lớp, thầy
cô bộ môn ít quan tâm, theo sát để nắm bắt tâm tư, tình cảm của các em học sinh
[7]. Điều này được chứng minh qua các vụ việc các “clip” nữ sinh đánh nhau được
đưa lên các trang mạng xã hội thì nhà trường mới biết và biện pháp cuối cùng để xử
lý bao giờ cũng là đình chỉ hoặc buộc thôi học.
Nghiên cứu tổng quan của Sarah Lindstom Johnson (2009) cũng đã đưa ra
nhận định học sinh có nhận thức quy tắc của trường và tin tưởng họ càng tốt thì
càng ít có xu hướng bạo lực học đường diễn ra. Khi đó, học sinh sẽ có mối quan hệ
tích cực với giáo viên, cảm thấy thân thiện với ngôi trường của họ, cảm thấy môi
trường tích cực và trật tự [54]. Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Phương Thảo,
Cao Hàn Thi năm 2012 được thực hiện trên 340 học sinh từ lớp 8-12 của 8 trường
trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Nhóm
tác giả này đã kết luận rằng, sự kém tuân thủ quy định ở trường, ấn tượng tiêu cực
về trường học là một trong những nhân tố tác động đến hành vi bạo lực học đường
của học sinh hiện nay [9].
ở nông thôn và ngoại ô do học sinh thành thị có nguy cơ bị stress và phải đối mặt
với các vấn đề về học hành và xã hội cao hơn học sinh ở nông thôn. Bên cạnh đó,
những học sinh sống cạnh hàng xóm có tỷ lệ phạm tội cao thường có xu hướng dễ