BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ KIỀU TRANG
THỰC TRẠNG TAI NẠN LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN Ở CÔNG NHÂN THU GOM RÁC THẢI
ĐÔ THỊ THUỘC MỘT CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MTV
MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI NĂM 2016-2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ KIỀU TRANG
THỰC TRẠNG TAI NẠN LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN Ở CÔNG NHÂN THU GOM RÁC THẢI
ĐÔ THỊ THUỘC MỘT CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MTV
MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI NĂM 2016-2017
TS. LƯƠNG MAI ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
1.1.1. Một số khái niệm..............................................................................................3
1.1.2. Điều kiện lao động của công nhân thu gom rác thải .........................................4
1.2. Thực trạng Tai nạn lao động chung và Tai nạn lao động ở công nhân thu gom
rác thải .........................................................................................................................6
1.2.1.
Khái quát về thực trạng TNLĐ trên thế giới .................................................6
1.2.1.1.
Thực trạng TNLĐ nói chung ..................................................................6
1.2.1.2. Tai nạn lao động ở công nhân thu gom rác thải qua một số nghiên cứu
trên thế giới .............................................................................................................7
1.2.2.
Khái quát chung về thực trạng TNLĐ tại Việt Nam ...................................10
1.2.2.1.
Thực trạng TNLĐ nói chung ................................................................10
1.2.2.2.
TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải ....................................................10
1.3. Yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích ở công nhân thu gom rác thải .............11
1.3.1. Yếu tố liên quan đến điều kiện lao động .....................................................11
1.3.1.1. Thời gian làm việc................................................................................12
3.2. Thực trạng TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải...............................................27
3.3. Một số yếu tố liên quan đến TNLĐ ...................................................................38
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ........................................................................................44
4.1. Đặc điểm chung và điều kiện lao động của đối tượng nghiên cứu ....................44
4.2. Thực trạng TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải...............................................45
4.3. Một số yếu tố liên quan đến TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải ...................48
4.4. Bàn luận về một số hạn chế của nghiên cứu. .....................................................51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ........................................................................................52
CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ ................................................................................53
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................54
PHỤ LỤC ..................................................................................................................58
Phụ lục 1: Bảng chi tiết biến số nghiên cứu ..............................................................58
Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn sâu công nhân đã từng gặp TNLĐ ...............................62
Phụ lục 3: Phiếu phỏng vấn sâu công nhân thu gom rác thải (không bị TNLĐ trong
1 năm qua) .................................................................................................................63
Phụ lục 4: Phiếu phỏng vấn đối tượng nghiên cứu ...................................................65
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học – xã hội của người lao động (n=447)..................24
Bảng 2: Thông tin về bảo hiểm y tế/bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc của người
lao động (n=447) .......................................................................................................25
Bảng 3: Thông tin về sử dụng thiết bị bảo hộ lao động trong quá trình làm việc
(n=447) ......................................................................................................................26
Bảng 4: Tỷ lê ̣ TNLĐ theo giới tính và độ tuổi ở công nhân thu gom rác thải ..........28
Bảng 5: Tỷ lê ̣ TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải theo nguyên nhân ....................28
Bảng 6: Hoàn cảnh xảy ra TNLĐ .............................................................................31
Bảng 7: Tính chất tổn thương khi bị TNLĐ..............................................................34
Nghiên cứu viên
PV
Phỏng vấn
PVS
Phỏng vân sâu
TGRT
Thu gom rác thải
TNGT
Tai nạn giao thông
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TNLĐ
Tai nạn lao động
URENCO
Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, cùng với sự gia tăng dân số và tốc độ phát triển kinh tế - xã hội
là sự gia tăng về khối lượng rác thải sinh hoạt tại các đô thị lớn, đặc biệt là Thủ đô Hà
Nội [2]. Theo thống kê của Sở Tài nguyên và môi trường Hà Nội, trong giai đoạn
2011 - 2015, rác thải sinh hoạt chiếm khoảng 60% tỷ trọng các loại chất thải với tổng
khối lượng rác phát sinh khoảng 6.000 tấn/ngày [8], đòi hỏi một số lượng lớn người
lao động thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy rác, đảm bảo vệ sinh môi trường.
Công nhân môi trường nói chung và công nhân TGRT nói riêng phải làm việc trong
điều kiện tồn tại nhiều yếu tố nguy hiểm dẫn đến nguy cơ cao bị TNLĐ. Làm việc
ngoài trời trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, làm việc ca đêm với nguy cơ bị tấn
công ảnh hưởng đến tâm lý [12], hay tư thế lao động gò bó là những điều kiện lao
động đặc thù dẫn đến nguy cơ TNLĐ trong đối tượng này. Hơn nữa, TGRT thủ công,
thiếu kiến thức về nguy cơ TNLĐ, thao tác lặp đi lặp lại và tiếp xúc trực tiếp với rác
thải cũng góp phần gây ra những sự cố khiến người lao động bị chấn thương do rác
thải sắc nhọn, trượt ngã/vấp ngã, say nóng/say nắng… [12]. Tại Việt Nam nói chung
và Hà Nội nói riêng chưa có nghiên cứu chuyên sâu về sức khỏe công nhân MTĐT,
đặc biệt trong vấn đề TNLĐ. Hiện tại, công ty MTĐT Hà Nội (URENCO) là một
trong những doanh nghiệp chính chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải ở các quận nội thành và một số quận huyện ngoại thành Hà Nội, với số lượng lớn
công nhân trực tiếp thu gom rác. Công ty có thực hiện thống kê báo cáo TNLĐ hàng
năm theo quy định tuy nhiên con số TNLĐ/ số vụ TNLĐ thực tế có thể cao hơn rất
nhiều so với số liệu thống kê vì nhiều trường hợp người lao động không biết hoặc
không báo cáo đầy đủ [7]. Vậy thực trạng tai nạn lao động hiện nay ở công nhân
TGRT thuộc công ty MTĐT Hà Nội như thế nào và các yếu tố liên quan là gì? Để trả
lời câu hỏi trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng tai nạn lao động và một
số yếu tố liên quan ở công nhân thu gom rác thải thuộc một chi nhánh công ty TNHH
MTV môi trường đô thị Hà Nội, 2016-2017”. Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để đề
xuất khuyến nghị phù hợp nhằm xây dựng một môi trường làm việc lành mạnh, hạn
chế nguy cơ tai nạn lao động ở công nhân môi trường đô thị.
Tai nạn lao động (TNLĐ): Theo điều 142 Bộ Luật lao động năm 2012,
TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể
người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc
thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (trong thời gian làm việc, chuẩn bị hoặc thu
dọn sau khi làm việc) [10]. Trong nghiên cứu này, TNLĐ ở công nhân thu gom rác
thải được ghi nhận thông qua phỏng vấn đối tượng nghiên cứu về số lượt TNLĐ
xảy ra trong vòng một năm trước thời điểm thu thập số liệu nghiên cứu.
Để đánh giá tình hình tai nạn lao động, Tổ chức lao động quốc tế sử dụng hệ
số tần suất tai nạn lao động, được tính bằng tỉ lệ phần nghìn của số ca bị TNLĐ trên
tổng số người lao động trong quần thể lao động được xem xét.
4
K
n.1000
N
Trong đó:
k là hệ số tần suất tai nạn lao động
n là số ca bị TNLĐ trong một năm
N là tổng số người lao động
1.1.2. Điều kiện lao động của công nhân thu gom rác thải
Các rủi ro nghề nghiệp với người lao động có thể xảy ra ở tất cả các bước
trong quá trình quản lý rác thải, từ thu gom rác thải tại hộ gia đình tới khi vận
chuyển đến địa điểm tái chế hoặc tiêu hủy. Tại Việt Nam, thu gom rác thải còn là
ngành thuộc nhóm IV trong các công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm theo
Thông tư 36/2012/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh và xã hội ban hành
năm 2012 [1].
MTĐT Hà Nội, công nhân TGRT được chia làm 3 ca làm việc: ca 1 từ 4h sáng đến
12h trưa, ca 2 từ 12h trưa đến 20h tối và ca 3 làm việc từ 18h tối 2h sáng. Do khối
lượng rác thải sinh hoạt phát sinh nhiều vào lúc chiều tối nên có sự giao nhau giữa
ca 2 và ca 3 để tăng cường công nhân.
Tư thế làm việc
Đây là công việc yêu cầu thể lực cao, động tác lặp đi lặp lại như nhấc túi rác
bỏ vào xe hoặc thông qua hệ thống ròng rọc. Đôi khi họ phải nâng nhấc vật nặng
hoặc có kích thước lớn, như đồ nội thất hoặc các thiết bị nhà bếp lớn. Bên cạnh đó,
công nhân duy trì tư thế đứng trong phần lớn thời gian làm việc. Tuy đây là tư thế
khá linh hoạt cho phép người lao động vận động cơ xương khớp chi dưới khi làm
việc nhưng đứng và di chuyển trong thời gian dài gây co cơ, giảm lưu thông máu,
dồn máu xuống chân gây phù, sưng ở bàn chân, cẳng chân và mỏi cơ vào cuối ngày
[45]. Ngoài ra, tư thế bất lợi còn xuất phát từ công cụ lao động không phù hợp với
nhân trắc của người lao động. Các công ty thường trang bị cho công nhân những xe
rác có thùng quá cao hoặc nặng khiến cho việc nâng, kéo và đẩy xe trở nên khó
khăn [34].
Thao tác công việc chủ yếu bằng tay
Tại các nước phát triển, hầu như các quá trình làm sạch đường phố đã được
cơ giới hóa [35]. Trong khi ở các nước đang phát triển, rác thải cần thu gom ít khi
được lưu trữ trong thùng kín mà thường đổ trực tiếp trên mặt đường. Với nguồn lực
6
hạn chế, hầu hết các quá trình làm sạch trên địa bàn đô thị vẫn được thực hiện bằng
lao động thủ công với chổi, xẻng,...Vì thế, công nhân ở các quốc gia này tiếp xúc
trực tiếp với rác nhiều hơn một cách đáng kể so với các đồng nghiệp của họ ở các
nước phát triển, những nơi đã xử lý niêm phong rác bằng túi nhựa và thùng rác
được đậy nắp kín [35]. Với thao tác làm việc chủ yếu với đôi tay, công nhân VSMT
phải đối mặt với nguy cơ gặp chấn thương ở vị trí bàn tay, ngón tay do tiếp xúc trực
7
rằng 270 triệu tai nạn lao động xảy ra mỗi năm và trong số đó đã có khoảng 2,3
triệu lao động tử vong [44]. Theo đó, chi phí y tế cho các ca tai nạn lao động chiếm
khoảng 2,6% đến 3,8% tại Châu Âu. Tỷ lệ xuất hiện TNLĐ đứng đầu là Châu Phi,
theo sau là Châu Á [23]. Tại các nước Đông Nam Á, số người bị TNLĐ cũng rất
lớn. TNLĐ không chỉ gây tổn thất về tính mạng của người lao động mà nó còn gây
ra nhiều tổn thất khác như các thương tổn trên thân thể người lao động làm giảm
sức lao động. Các chi phí trực tiếp và gián tiếp để điều trị, ảnh hưởng tâm lý, số
ngày phải nghỉ làm do tai nạn lao động cũng là một tổn thất rất lớn cho người lao
động và cộng đồng.
1.2.1.2.
Tai nạn lao động ở công nhân thu gom rác thải qua một số nghiên cứu
trên thế giới
TNLĐ góp phần đáng kể vào gánh nặng bệnh tật và tử vong trên toàn thế
giới, ở cả các nước phát triển và nước đang phát triển [50]. Công nhân làm việc
trong lĩnh vực thu gom, xử lý rác có nguy cơ nghề nghiệp đặc thù và tỷ lệ TNLĐ
cao hơn công nhân làm việc ngành nghề khác [54].
Năm 2010, trong báo cáo của Liên hiệp lao động làm việc công Canada về
công nhân làm nghề thu gom rác, TNLĐ tác động lên 35% số công nhân [23]. Cũng
trong năm này, một nghiên cứu tại Hoa Kỳ đã đánh giá TGRT là một trong những
nghề nguy hiểm nhất, có tỷ lệ tử vong là 30/100.000 công nhân. TGRT tưởng chừng
như không nguy hiểm đối với người lao động, nhưng những người làm trong ngành
công nghiệp tại Canada nhận định, đây là một ngành có thể gây nhiều rủi ro về sức
khỏe, khiến cho gần 35000 công nhân ngành này trên nhiều quốc gia bỏ việc bất cứ
lúc nào do tình trạng sức khỏe không đảm bảo [23].
năm 1989 đến 1992 cho thấy tỷ lệ TNLĐ ở công nhân thu gom rác là 99 trên 1000
công nhân, trong khi tỷ lệ này ở công nhân trong ngành công nghiệp nói chung là 17
trên 1000 người [17]. Như vậy, tỷ lệ TNLĐ ở công nhân thu gom rác tại Đan Mạch
cao hơn 5,6 lần công nhân làm việc tại Đan Mạch nói chung. Verbeek (1991) thấy
rằng tỷ lệ mắc khuyết tật do công việc ở công nhân TGRT tại thủ đô của Hà Lan
cao hơn bốn lần so với tỷ lệ này ở công nhân cùng công ty môi trường đó nhưng chỉ
làm việc tại văn phòng [55]. Một nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi Yang
(2001) cho người thu gom rác tại Đài Loan [20]. Nguy cơ chấn thương ở lưng và
khuỷnh tay/bàn tay của các công nhân thu gom rác cao hơn 2 lần so với các đồng
nghiệp của họ chỉ làm việc ở văn phòng. Một nghiên cứu cũ hơn của Cmino (1975)
9
so sánh tần suất TNLĐ và sự nghiêm trọng của TNLĐ (số ngày nghỉ việc do gặp
TNLĐ) ở công nhân MTĐT thành phố New York so với công nhân các ngành công
nghiệp khác: công nhân MTĐT có tần suất TNLĐ cao hơn 5 lần so với công nhân
ngành nghề khác, mặc dù tính chất nghiêm trọng của tai nạn thì thấp hơn (1205
ngày nghỉ so với 4846 ngày nghỉ) [33].
Theo nghiên cứu của Ivens và cộng sự (1998), vị trí thương tổn thường gặp ở
công nhân thu gom rác là lưng (15%), đầu gối (12%), và tay (12%) [53]. Thông
thường, chấn thương xảy ra khi người công nhân va chạm với phương tiện giao
thông khi làm việc trên đường phố hay bị ngã do mặt đường trơn trượt. Chấn
thương cũng gắn liền với cường độ làm việc cao và mang, vận chuyển các loại
thùng rác khác nhau [53]. Ở một nghiên cứu khác, trong tổng số 482 công nhân
TGRT tại thành phố Bahir Dar được điều tra, chấn thương thường gặp nhất là tay
(22,7%), sau đó là chân (21,8%) và các bộ phận khác: vai và cổ, lưng, mắt, mũi
[25]. Tương tự, về vị trí thường gặp khi xảy ra TNLĐ, nghiên cứu thực hiện trên
công nhân thu gom rác ở Australia báo cáo kết quả chấn thương gặp ở tay: 9 %,
chân: 20%, lưng: 25%, vai/cổ: 21%. Sự khác nhau giữa tỷ lệ chấn thương ở tay,
và thương binh xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Cục Y tế dự phòng,
Trung tâm y tế, từ điều tra cộng đồng, từ báo cáo của các Doanh nghiệp sử dụng
người lao động. Tuy nhiên số liệu báo cáo thường không đầy đủ và bỏ sót các
trường hợp TNLĐ có thể do liên quan đến cơ chế bồi thường hay thỏa thuận giữa
người lao động và người chủ sử dụng. Ước tính của Tổ chức Lao động thế giới
(ILO) cho thấy, một vụ tai nạn lao động chết người được điều tra đầy đủ có thể
phòng ngừa 600 vụ tai nạn tương tự có thể xảy ra tiếp theo. Nhưng thực tế, con số
báo cáo về TNLĐ luôn chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm” nên tác dụng phòng
ngừa rất hạn chế. Do đó, tăng cường và thu thập, sử dụng dữ liệu TNLĐ có ý nghĩa
rất quan trọng đối với việc xây dựng môi trường an toàn và sức khỏe cho người lao
động [57].
1.2.2.2.
TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải
Các nghiên cứu về thực trạng sức khỏe công nhân TGRT trên cả nước nói
chung và Hà Nội nói riêng hiện nay vẫn còn bị bỏ ngỏ. Đặc biệt, dữ liệu về thực
trạng tai nạn lao động trên đối tượng công nhân TGRT hầu như chưa có. Có một vài
nghiên cứu trên đối tượng công nhân thu gom rác đô thị như nghiên cứu của Viện
khoa học lao động và các vấn đề xã hội năm 1994 trong đề tài “Nghiên cứu điều
kiện lao động của nữ công nhân thu gom rác đô thị, khuyến nghị và giải pháp”. Khi
nói tới vị trí, tư thế lao động và đi lại trong ca làm việc, công nhân thu gom rác đô
thị chủ yếu làm việc ở các ngõ, phố. Tư thế lao động vừa đi vừa làm, xoay người
11
sang phải, sang trái để thu gom rác; cúi khom hoặc ngửa người phía sau hoặc vặn
người sang phải sang trái để xúc đất, rác lên ô tô, thùng xe [12]. Công nhân làm
việc sau nhiều giờ ngoài trời dẫn đến mệt mỏi, ảnh hưởng đến các thao tác làm việc,
Một vài nghiên cứu ở công nhân thu gom rác đô thị chỉ ra rằng tỷ lệ TNLĐ
khác nhau giữa các thời điểm làm việc. Tại Đan Mạch, tỷ lệ TNLĐ tăng cao điểm
vào tháng 5 và tháng 9 [53], và nhiều TNLĐ xảy ra hơn vào thứ 2 và thứ 5. Một xu
hướng tương tự, tai nạn xảy ra nhiều hơn vào thứ 2 được tìm thấy trong nghiên cứu
của Aarhus (1992). Nghiên cứu tại Brazin cũng cho thấy các TNLĐ hầu hết liên
quan đến ngày thứ hai và thứ 3 của tuần làm việc [48].
Thời gian làm việc ca kíp, bên cạnh các yếu tố nguy cơ bệnh tật, người lao
động với đặc thù làm việc ca đêm có nhiều yếu tố nguy cơ, trong đó có nguy cơ bị
kẻ lạ vô cớ tấn công khiến các công nhân làm ca đêm hoang mang, lo lắng. Không
chỉ bị đánh gây thương tích, có nhiều trường hợp họ gặp phải đối tượng quấy rối
tình dục, sàm sỡ hay đe dọa. Bên cạnh đó các vấn đề về tai nạn giao thông buổi đêm
cũng là nguy cơ lớn đối với họ. Công nhân thường làm việc 6 ngày một tuần bất kể
tình hình thời tiết và giao thông. Họ được phân chia công việc TGRT theo khu vực,
có thể về nhà miễn là hoàn thành công việc tại nơi được phân công. Mặc dù qui
định này cho phép công nhân nghỉ ngơi sau khi hoàn thành công việc song có thể
khiến một số công nhân cố gắng làm việc với cường độ cao để hoàn thành công việc
sớm. Việc bỏ qua việc sử dụng các thiết bị bảo hộ khi làm việc với cường độ nhanh
có thể là nguy cơ dẫn đến TNLĐ [55]. Tại Brazin, nghiên cứu của Camadaa (2012)
ghi nhận rằng mặc dù không phải là yêu cầu nhưng công nhân thường từ bỏ thời
gian một giờ nghỉ ngơi ăn trưa để không làm trì hoãn tiến độ công việc [21]. Lúc
này, mệt mỏi và khả năng kiểm soát kém có thể ảnh hưởng đến an toàn lao động.
1.3.1.2. Phương tiện lao động
Một trong những yếu tố có khả năng cao gây TNLĐ cho công nhân thu gom
rác trong quá trình lao động là xe TGRT. Trung bình, một nhóm công nhân dành từ
4 đến 5 giờ một ngày để chất rác đã thu gom lên các xe tải. Hệ thống giám sát tử
vong và chấn thương nghề nghiệp Hoa Kỳ (NTOF) báo cáo từ năm 1980 đến 1992,
303 công nhân từ 16 tuổi trở lên đã tử vong trong tai nạn liên quan đến xe chở rác.
110 công nhân trong số này tử vong do trượt chân/ngã từ chiếc xe thu gom rác, hoặc
do bị đâm bởi chính chiếc xe [42].
chấn thương với chân xảy ra trong tình huống nâng và đổ thùng rác vào xe tải chở
rác [32].
14
1.3.1.3. Thao tác lao động thủ công
Nâng nhấc vật bằng tay là bao gồm tất cả các hoạt động đòi hỏi con người
phải dùng lực tay để nâng, hạ, kéo, mang, vác, di chuyển, nắm giữ một vật bất kỳ.
Tai nạn chủ yếu là chấn thương vùng lưng do mang vác vật nặng hoặc bị vật đè, kẹp
vào chân tay [14].
Bên cạnh đó, quy trình lao động sử dụng bàn tay tiếp xúc trực tiếp với rác
thải sắc nhọn tăng nguy cơ tai nạn lao động cho công nhân. Rác thải sắc nhọn gây ra
nhiều chấn thương đặc biệt đối với bàn tay và ngón tay. Trong đó kim tiêm và chấn
thương do kim tiêm đâm gây nguy hiểm đặc hiểm cho công nhân TGRT. Nguyên
nhân là người dùng đã không vứt bỏ kim tiêm một cách thích hợp và đầu nhọn của
kim tiêm có thể xuất hiện lẫn trong rác thải sinh hoạt. Nghiên cứu của tác giả Janice
Tibbetts về những tai nạn thường gặp phải khi TGRT của công nhân vệ sinh môi
trường báo cáo rằng đã có nhiều công nhân bị bơm kim tiêm chọc vào tay có nguy
cơ cao bị lây nhiễm HIV, phải điều trị bằng thuốc Azidothymidine (AZT) để giảm
nguy cơ lây nhiễm. Cũng trong nghiên cứu này đã mô tả trường hợp một công nhân
bị đâm thủng tay do chạm phải một ly rượu vang vỡ trong túi rác vứt bên lề đường.
Anh bị tổn thương tĩnh mạch tay và phải khâu sáu mũi, nghỉ việc trong 2 tuần để
phục hồi sức khỏe [51]. Một nghiên cứu khác trên 482 công nhân TGRT tại thành
phố Bahir Dar, 308 người chiếm 63,9% trả lời có bị chấn thương liên quan đến công
việc trong vòng 12 tháng. Nguyên nhân phổ biến nhất là tiếp xúc với rác thải sắc
nhọn (23,7%); kéo/đẩy/di chuyển thùng rác nặng (12%), ngã/trượt (3,5%) [25].
Viện Sức khỏe và an toàn Hoàng gia Anh đã khuyến nghị một loạt các biện pháp
kiểm soát rủi ro cho công nhân môi trường bao gồm sử dụng găng tay phù hợp, mặc
quần áo chống đâm thủng, mang thiết bị cấp cứu đầy đủ để đảm bảo các vết thương
không sử dụng khi làm việc và dẫn đến tăng tỷ lệ rách da/ chảy máu khi tiế p xúc với
vâ ̣t sắ c nho ̣n. Nhiều nhà nghiên cứu đã khuyến nghị tăng tỷ lệ sử dụng các thiết bị
bảo hộ trong công nhân MTĐT. Rahkonen (1987) khuyến nghị công nhân MTĐT
nên mặc trang phục được thiết kế chống thấ m nước và chống bám bụi, đồng thời có
màu sắc phản quang để phòng tránh TNLĐ.
1.3.2.3. Tình trạng con nhỏ
Một nghiên cứu cắt ngang đánh giá thương tích nghề nghiệp của công nhân
TGRT đô thị thành phố Addis Ababa, Ethiopia cho thấy qui mô của gia đình người
công nhân là yếu tố liên quan tới thương tích. Những công nhân có có 1-2 người
16
con có nguy cơ TNLĐ bằng một nửa những công nhân có từ 4 người con trở lên
[18]. Giải thích tác giả đưa ra là những người có nhiều con hơn có thể bận rộn hơn
nghĩ về con cái của họ dẫn đến sao lãng khi làm việc, tăng nguy cơ TNLĐ. Một lý
do khác có thể là những người mà qui mô gia đình lớn không đủ khả năng mua thiết
bị bảo hộ cá nhân để dùng thường xuyên khi làm việc.
1.3.2.4. Căng thẳng tâm lý
Căng thẳng tâm lý ở công nhân khiến cơ thể họ luôn ở trạng thái căng cơ bắp
dẫn đến dễ mệt mỏi, thiếu tập trung chú ý và dễ xảy ra sai sót trong quá trình thao
tác, làm việc. Kim (2013) và cộng sự đã nghiên cứu mối quan hệ giữa căng thẳng
trong công việc và các thương tích liên quan đến công việc. Họ kết luận rằng căng
thẳng công việc có thể là một lý do dẫn đến các TNLĐ [27]. Một nghiên cứu trên
561 công nhân thu gom rác tại 4 thị trấn phía Bắc Ethiopia cũng cho thấy căng
thẳng nghề nghiệp có mối liên quan với TNLĐ, những công nhân cho biết họ cảm
thấy căng thẳng trong công việc có tỷ lệ TNLĐ cao hơn 1,94 lần so với công nhân
nói rằng không bị căng thẳng do công việc [24].
1.4. Giới thiệu tóm tắt địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty TNHH MTV MTĐT Hà Nội