BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN PHAN THẠCH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG TĂNG
HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH
NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP ĐANG ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH ĐỊNH, NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01
BUÔN MA THUỘT – 2015
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN PHAN THẠCH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG TĂNG
HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH
NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP ĐANG ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH ĐỊNH, NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01
TS.BS. BÙI THỊ TÚ QUYÊN
ii
2.12. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục ................................. 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................. 26
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ......................................................... 26
3.2. Kiến thức, thực hành của đối tượng nghiên cứu về tăng huyết áp và phòng biến
chứng tăng huyết áp .................................................................................................. 30
3.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về phòng biến chứng tăng huyết áp ..... 40
3.4. Một số yếu tố liên quan đến thực hành về phòng biến chứng tăng huyết áp .... 42
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ...................................................................................... 45
4.1. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ............................................ 45
4.2. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về tăng huyết áp và phòng biến chứng do
tăng huyết áp ............................................................................................................. 47
4.3. Thực hành của đối tượng nghiên cứu về phòng biến chứng do tăng huyết áp .. 51
4.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng biến chứng do tăng
huyết áp ..................................................................................................................... 54
4.5. Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp ... 56
4.6. Một số hạn chế cũng như điểm mạnh và tính ứng dụng của nghiên cứu........... 57
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 59
KHUYẾN NGHỊ...................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 61
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 64
Phụ lục 1: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu ........................................................... 64
Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn ....................................................................................... 65
Phụ lục 3: Tiêu chí đánh giá kiến thức và thực hành phòng biến chứng THA ......... 76
Phụ lục 4: Phân loại tăng huyết áp ............................................................................ 83
Phụ lục 5: Cách chọn cỡ mẫu nghiên cứu ................................................................. 84
ĐVPCTHA
Đơn vị phòng chống tăng huyết áp
HATT
Huyết áp tâm thu
HATTr
Huyết áp tâm trương
NMCT
Nhồi máu cơ tim
TBMMN
Tai biến mạch máu não
THA
Tăng huyết áp
WHO
Tổ chức y tế thế giới
Biểu đồ 3.3. Kiến thức của ĐTNC về cách xử trí khi gặp biến chứng ...................... 33
Biểu đồ 3.4. Kiến thức của ĐTNC về các biện pháp phòng biến chứng................... 34
Biểu đồ 3.5. Trình bày số liệu về đánh giá chung kiến thức của ĐTNC về phòng biến
chứng của THA.......................................................................................................... 35
Biểu đồ 3.6. Tần suất đo huyết áp của ĐTNC........................................................... 36
Biểu đồ 3.7. Thực hành của ĐTNC về tái khám định kỳ ........................................... 37
Biểu đồ 3.8. Trình bày số liệu về đánh giá chung thực hành của ĐTNC phòng biến
chứng của THA.......................................................................................................... 39
vi
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình về mọi
mặt của các thầy cô giáo đặc biệt là cô giáo hướng dẫn, quý cơ quan và đơn vị chủ
quản cùng các anh chị em đồng nghiệp, gia đình và bạn bè.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học và các
quý thầy cô giáo của Trường Đại học Y tế công cộng đã tạo điều kiện cũng như
truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, lãnh
đạo cũng như các anh chị em trong khoa Nội tim mạch cùng toàn thể các bệnh nhân
tham gia nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện tốt nhất và hợp tác trong quá trình thu
thập số liệu và thực hiện luận văn này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đặc biệt đến cô giáo hướng dẫn
trực tiếp TS.BS Bùi Thị Tú Quyên, người đã luôn theo sát, hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên tôi
hoàn thành tốt luận văn này.
Quy Nhơn, ngày 25 tháng 10 năm 2015
Học viên
Từ những kết quả trên khuyến nghị chính của nghiên cứu được đưa ra là:
khuyến khích tất cả các bệnh nhân THA đều tham gia CLB để từ đó nâng cao được
kiến thức cũng như thực hành cho mình nhằm phòng chống các biến chứng có thể
xảy ra bất kỳ lúc nào do THA.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mãn tính không lây, đang tăng lên ngày
càng nhiều. THA là yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch ở các nước phát triển
và ngày càng tăng ở các nước đang phát triển như nước ta. WHO ước tính có
khoảng 7,1 triệu người trẻ tuổi tử vong do THA và bệnh THA chiếm 4,5% gánh
nặng bệnh tật trên toàn cầu [29],[31]. Hiện nay, ở Việt Nam, tỷ lệ người bị bệnh
THA ngày càng gia tăng: năm 2002, tỷ lệ này là 16,3% đến năm 2009 thì lên đến
25,1% với người trên 25 tuổi. Như vậy ước tính đến năm 2007, Việt Nam có khoảng
6,85 triệu người bị THA và đến năm 2025 sẽ có khoảng 10 triệu người bị THA, nếu
không có các biện pháp phòng chống kịp thời[5].
Các biến chứng của THA là rất nặng nề như: tai biến mạch máu não, nhồi máu
cơ tim, suy tim, suy thận, mù lòa, bệnh động mạch ngoại vi… Những biến chứng
này có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh, gây tàn phế thậm chí là tử vong và
trở thành gánh nặng về tinh thần cũng như vật chất cho gia đình bệnh nhân cũng
như toàn xã hội. Bệnh THA là nguyên nhân chính (chiếm 59,3% các nguyên nhân)
gây ra tai biến mạch máu não[4]. Như vậy, hằng năm chúng ta phải chi một khoản
kinh phí rất lớn, tới cả ngàn tỷ đồng để trực tiếp điều trị bệnh và phục vụ những
người bị liệt, tàn phế, mất sức lao động do TBMMN, nhồi máu cơ tim, suy tim…
Trong vòng khoảng 30 năm qua, việc điều trị bệnh THA đã có nhiều tiến bộ.
Tuy nhiên để giảm tỷ lệ tử vong và gánh nặng bệnh tật trên thế giới, cần phải có các
chiến lược quản lý THA và các yếu tố nguy cơ trong cộng đồng. Ở nước ta, tỷ lệ
bệnh nhân THA không biết bị bệnh, hoặc biết bị bệnh nhưng chưa được điều trị
cuộc khảo sát nhanh 05 bệnh nhân bị THA đến khám thì chỉ có 02 người hiểu đúng
về bệnh THA, các yếu tố nguy cơ và mức độ nguy hiểm của bệnh. Ngay cả khi có
những hiểu biết nhất định về bệnh THA thì việc phòng biến chứng của người bị
THA cũng chưa tốt. Chính vì vậy để góp phần vào công tác quản lý bệnh nhân THA
thật tốt và phòng ngừa các biến chứng do THA cho người dân toàn tỉnh đạt hiệu
quả cao hơn tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Kiến thức, thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp và một số yếu tố liên
quan ở bệnh nhân tăng huyết áp đang được quản lý tại Bệnh viện đa khoa tỉnh
Bình Định, năm 2015”
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1/ Mô tả kiến thức và thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp của bệnh nhân
tăng huyết áp đang được quản lý tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2015
2/ Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng biến chứng
do tăng huyết áp của bệnh nhân tăng huyết áp đang được quản lý tại Bệnh viện đa
khoa tỉnh Bình Định, năm 2015.
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp
1.1.1. Định nghĩa tăng huyết áp
Theo WHO, một người lớn bị THA thực sự khi huyết áp tâm thu (HA tối đa) ≥
140 mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương (HA tối thiểu) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều
trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA. Định
nghĩa này đơn giản nhưng có nhược điểm là trị số huyết áp không hoàn toàn ổn định
THA ở người lớn chủ yếu là không có căn nguyên, chỉ có một số nhỏ dưới 5%
là THA có căn nguyên (tức là người bệnh bị THA do hậu quả của những bệnh lý
khác). Người ta chia nguyên nhân của THA thành hai loại là THA nguyên phát và
THA thứ phát.
THA nguyên phát: là các trường hợp THA không tìm thấy nguyên nhân, chiếm
90 - 95% các trường hợp THA, cơ chế bệnh sinh đến nay chưa được rõ ràng. Yếu tố
nguy cơ của THA nguyên phát có thể kể đến như: chế độ ăn nhiều muối, nhiều mỡ
động vật, hút thuốc lá/ thuốc lào, uống rượu/ bia, lối sống tĩnh tại, lười vận động…
Ngoài ra THA nguyên phát có thể xảy ra do các yếu tố di truyền, bệnh mang tính
chất gia đình hoặc do các yếu tố tâm lý xã hội, tình trạng căng thẳng stress thường
xuyên[8]. Các yếu tố này có thể phối hợp với nhau trên cùng một bệnh nhân và càng
nhiều yếu tố nguy cơ kết hợp với nhau thì tiến triển của bệnh và nguy cơ bị biến
chứng do THA càng nhiều, tiên lượng của bệnh nhân càng xấu.
THA thứ phát: là những trường hợp bị THA do hậu quả của một bệnh lý khác.
Một số bệnh có thể là nguyên nhân gây ra THA như: các bệnh về thận (viêm cầu
thận, bệnh thận đa nang, suy thận,…), bệnh về nội tiết (u tủy thượng thận,…), bệnh
tim mạch (hẹp eo động mạch chủ, hở van động mạch chủ,…), do thuốc (sử dụng các
hormone ngừa thai, cam thảo, corticoid,…), hoặc do một số nguyên nhân khác như
ngộ độc thai nghén, bệnh cường giáp, bệnh đa hồng cầu,…[8]
Đa số bệnh nhân bị THA không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện ra
bệnh, dấu hiệu thể hiện bệnh THA của họ không có gì khác biệt so với người bình
thường. Rất nhiều trường hợp người bệnh đến khi bị biến chứng của THA, thậm chí
tử vong mới biết mình bị THA hoặc mới hiểu rõ tầm quan trọng của việc kiểm soát
tốt THA. Một số biểu hiện có thể có ở bệnh nhân THA như: đau đầu vùng chẩm và
hai bên thái dương, ngoài ra người bệnh có thể cảm thấy hồi hộp, mệt, khó thở, mờ
mắt,… nhưng không đặc hiệu. Một số triệu chứng khác của THA tùy thuộc vào
nguyên nhân THA hoặc biến chứng của THA. THA nếu không được điều trị đúng
6
thấy tỷ lệ THA là 21,3%[23]. Một nghiên cứu ở Brazil, tỷ lệ THA trong nhóm tuổi
7
từ 20 – 69 là 23,6%[21]. Nghiên cứu này cũng cho thấy tỷ lệ THA tăng nhanh, đặc
biệt trong nhóm những người trẻ tuổi. Theo một nghiên cứu khác tại Ấn Độ, tỷ lệ
THA ở người dân thành thị là 20%, chiếm 1/5 dân số miền Nam Ấn Độ. Trong số
những người bị THA chỉ có 32,8% quan tâm đến tình trạng THA của họ và trong số
70,8% người bệnh THA được điều trị chỉ có 45,9% người bệnh kiểm soát được
huyết áp của họ[26].
1.3.2.Tình hình tăng huyết áp tại Việt Nam
Ở Việt Nam, tỷ lệ phần trăm người bị THA ngày càng gia tăng khi nền kinh tế
phát triển. Theo kết quả điều tra dịch tễ học bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam năm
1992 của GS. Trần Đỗ Trinh trên 39,3 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc 20 tỉnh
thành thì tỷ lệ THA chung là 11,7% trong đó tỷ lệ mắc ở nam giới cao hơn so với nữ
giới và tỷ lệ THA ở vùng 3 (Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Huế) cao hơn hẳn các vùng
khác và các tỉnh đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ THA thấp nhất trong các vùng[15].
Nhưng đến năm 2002, theo kết quả điều tra tần suất mắc THA ở người trưởng thành
(từ 25 tuổi trở lên) ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam của GS. Phạm Gia Khải, tần suất
THA ở miền Bắc Việt Nam là 16,32%, tần suất THA ở các địa phương có sự khác
biệt đáng kể trong đó cao nhất ở vùng thành thị (23,2%), sau đó tới vùng duyên hải
(16,6%) và cuối cùng là hai vùng đồng bằng và trung du (12,4% và 13,9%). Tần
suất THA cộng gộp của khu vực thành thị miền Bắc Việt Nam là 22,72% cao hơn
nhiều so với khu vực nông thôn và tỷ lệ THA ở nam giới cao hơn nữ giới (19% và
14,6%)[14]. Kết quả khảo sát năm 2005 trên những người dân sống tại Thành phố
Cần Thơ trong độ tuổi từ 25 đến 64, tỷ lệ THA của người dân Thành phố Cần Thơ
là 21,5% trong đó tỷ lệ nam bị THA cao hơn nhiều so với nữ giới (27,3% và
16,2%)[28]. Và đến năm 2008, theo kết quả điều tra dịch tễ THA ở những người
trưởng thành từ 25 tuổi trở lên tại 8 tỉnh và thành phố của Việt Nam của GS.
hướng to ra. Dày thất trái là biến chứng sớm do dày cơ tim trái để đối phó với sức
cản ngoại vi nên gia tăng sức co bóp làm công tim tăng lên và vách cơ tim dày ra.
Dần dần suy tim trái với các triệu chứng khó thở khi gắng sức và về sau với gắng
sức vừa cũng khó thở và đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi đi ngủ, hen
tim và phù phổi cấp sau đó chuyển sang suy tim toàn bộ với các triệu chứng: phù,
gan to, tĩnh mạch cổ nổi, X -quang và điện tim thấy có dấu hiệu dày thất phải. Suy
mạch vành biểu hiện bằng các cơn đau thắt ngực điển hình, loạn nhịp tim.
- Biến chứng về não: là những biến chứng rất thường gặp và thường là nặng nề với
các bệnh nhân THA. Tai biến mạch máu não bao gồm cả xuất huyết não và nhồi
9
máu não với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não do
THA với lú lẫn, hôn mê kèm theo co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội. Đây là biến
chứng có thể xảy ra đột ngột vào bất cứ thời gian nào trong ngày nhưng chủ yếu là
vào ban đêm hoặc khi thời tiết thay đổi, mùa đông kéo dài. Chính vì vậy việc kiểm
soát tốt huyết áp nhằm tránh các cơn THA kịch phát là ưu tiên hàng đầu của các nhà
lâm sàng để giảm thiểu biến chứng này.
- Biến chứng về thận: vữa xơ động mạch sớm và nhanh; xơ thận gây suy thận dần
dần; hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính. Giai đoạn cuối
thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ renin và angiotensin II trong máu
gây cường aldosteron thứ phát. Khi bệnh nhân đã bị bệnh thận mạn do THA đến
giai đoạn không thể điều chỉnh bằng thuốc sẽ dẫn đến chi phí điều trị tăng lên rất
nhiều do phải chạy thận nhân tạo định kỳ dẫn đến nhiều bệnh nhân nghèo không có
khả năng chi trả phải ngưng điều trị ảnh hưởng đến tính mạng.
- Biến chứng về mắt tiến triển theo giai đoạn, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa. Khi
soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt. Biến chứng này tuy ít gặp nhưng dễ
nhầm với các bệnh về mắt hoặc biến chứng mắt do đái tháo đường.
- Biến chứng về mạch ngoại vi, trong đó đặc biệt nguy hiểm là biến chứng tách
+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi, các loại ngũ cốc và gạo chế biến thô,
thực phẩm nhiều chất xơ.
+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no,nên ăn thịt gia cầm
không da, thịt nạc, ăn cá (nhất là các loại cá có nhiều Omega 3 như cá hồi, cá
trích,...) ít nhất 2 lần/tuần.
+ Hạn chế ăn thêm đường ngọt.
- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể
(BMI) dao động từ 18,5 đến 22,9 kg/m2. Rất nhiều người THA bị thừa cân và
thường thì khi giảm cân, huyết áp của người bệnh sẽ có thể giảm xuống một cách
đáng kể. Bên cạnh đó, thừa cân còn là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch.
- Hạn chế uống rượu, bia: vì rượu rất ít dinh dưỡng và giàu năng lượng nên có thể
làm tăng nguy cơ béo phì, khó kiểm soát THA và làm tăng nguy cơ TBMMN. Số
lượng rượu/bia được khuyến cáo là nên uống ít hơn 3 cốc/ngày(nam), ít hơn 2
cốc/ngày(nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc/tuần(nam),ít hơn 9 cốc/tuần(nữ): cốc tiêu
chuẩn tương đương với 330ml bia hoặc 140ml rượu vang, hoặc 40ml rượu mạnh.
- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá, thuốc lào: các bằng chứng nghiên cứu cho thấy
rõ nguy cơ của hút thuốc lá với THA và các biến cố tim mạch, người THA mà hút
11
thuốc lá sẽ làm nguy cơ tim mạch tăng gấp nhiều lần. Việc bỏ hút thuốc lá cũng làm
giảm đáng kể các nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân THA.
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở
mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày. Tập luyện thể lực là một
phần không thể thiếu được của chương trình điều trị hàng ngày. Tập thể dục giúp
giảm huyết áp và giảm cân nặng hoặc giữ cho cơ thể ở mức cân nặng lý tưởng.
- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần có chế độ thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý.
- Tránh bị lạnh hoặc thay đổi tư thế đột ngột.
Ngoài ra, người bị THA phải dùng thuốc đúng, đầy đủ và liên tục theo chỉ định của
55,2% BN có thực hành không đạt về tuân thủ điều trị bệnh THA[12]. Điều này cho
thấy còn rất nhiều người trong cộng đồng không biết được tầm quan trọng của việc
phát hiện sớm bệnh THA cũng như việc tuân thủ điều trị tốt sẽ giúp cho thầy thuốc
kiểm soát sớm huyết ápmục tiêu góp phần giảm đáng kể nguy cơ bị biến chứng do
THA. Theo nghiên cứu của Đinh Văn Sơn thực hiện năm 2012 tại Vĩnh Phúc cho
thấy tỷ lệ người có kiến thức về phòng biến chứng THA đạt là 38%, tỷ lệ này ở nam
là 48,5% và ở nữ là 27,5%, tỷ lệ người có thực hành đúng về phòng biến chứng là
61,5%, tỷ lệ này ở nam chiếm 61,2% và nữ là 61,8%[13]. Nghiên cứu khác của Bùi
Thị Thanh Hòa thực hiện tại bệnh viện E Hà Nội năm 2012 cũng cho kết quả tỷ lệ
người có kiến thức về phòng biến chứng THA đạt là 51,7%, tỷ lệ này ở nam là
50,9% còn nữ là 53,1%, tỷ lệ người có thực hành đúng về phòng biến chứng là 60%,
tỷ lệ này ở nam chiếm 48,4% và nữ là 66,9%[7]. Trong khi nghiên cứu của Ngô Thị
Hương Giang đối với các bệnh nhân của huyện Thanh Trì lại có kết quả tỷ lệ người
có kiến thức phòng biến chứng THA đạt là 41,2%, tỷ lệ người có thực hành phòng
biến chứng đạt là 34%[6], điều này cho thấy không phải bệnh nhân ở các thành phố
lớn sẽ có kiến thức và thực hành tốt về phòng biến chứng do THA.
Một số các yếu tố liên quan được đề cập trong các nghiên cứu như sau:
- Giới: các nghiên cứu đều cho thấy giới tính có liên quan đến kiến thức và thực
hành phòng biến chứng THA, cụ thể là nam có kiến thức không đạt chỉ bằng 0,4 lần
so với nữ[13] tuy nhiên nữ lại có thực hành đạt cao hơn nam 2,1 lần[7].
- Trình độ học vấn: kết quả các nghiên cứu đều phù hợp với giả thiết khi cho rằng
trình độ học vấn càng cao thì tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức và thực hành đúng càng
cao, đặc biệt là với các bệnh nhân có trình độ trên cấp 3 sẽ có kiến thức đạt gấp 2,8
lần so với trình độ học vấn dưới cấp 3[7].
13
- Cơ cấu gia đình: việc các bệnh nhân sống một mình có tỷ lệ thực hành phòng biến
chứng không đạt cao hơn 6 lần so với những người sống cùng những người khác
14
cho đến nay chưa có hệ thống quản lý và dự phòng đối với bệnh THA. Các hoạt
động y tế mới chỉ tập trung vào công tác điều trị bệnh nhân tại các bệnh viện, chưa
có mô hình dự phòng, ghi nhận và quản lý bệnh THA tại cộng đồng. Công tác tuyên
truyền bệnh THA tại cộng đồng chưa sâu rộng, các hoạt động điều tra dịch tễ, đào
tạo cán bộ cho công tác phòng chống THA tại các cơ sở còn nhiều hạn chế nên việc
nghiên cứu thực trạng kiến thức và thực hành của người bệnh THA về phòng các
biến chứng của THA và các yếu tố liên quan ở các địa phương là rất cần thiết cho
công tác phòng và chống bệnh THA cũng như những biến chứng của THA ở cộng
đồng.
1.7. Thông tin về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc tỉnh,
là tuyến khám chữa bệnh sau cùng của tỉnh. Bệnh viện có 1050 giường kế hoạch với
40 khoa, phòng. Trong nhiều năm qua bệnh viện đã phát triển nhiều kỹ thuật chẩn
đoán và điều trị mới như mổ tim hở, tim mạch can thiệp,đặt máy tạo nhịp, phẫu
thuật nội soi, CT Scanner, MRI, xạ trị…đáp ứng phần lớn nhu cầu khám chữa bệnh
cho nhân dân trong tỉnh. Riêng khoa Nội tim mạch có chỉ tiêu giường bệnh theo kế
hoạch là 50 với 7 bác sỹ, 21 điều dưỡng và 4 hộ lý nhưng hầu như vẫn không đủ
đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh về tim mạch nói chung và bệnh tăng huyết áp nói
riêng với công suất sử dụng giường bệnh luôn đạt trung bình trên 110%. Khoa đã
thu dung và điều trị hiệu quả cho phần lớn các bệnh tim mạch đặc biệt đã áp dụng
được các kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị như điện tim và siêu âm tim gắng
sức, đặt máy tạo nhịp tạm thời và vĩnh viễn, can thiệp mạch vành qua da trong 3
năm qua với nhiều thành công to lớn, đem lại niềm tin tưởng lớn lao không những
cho nhân dân trong tỉnh mà còn cả trong khu vực miền Trung – Tây nguyên. Mặc
dù nguồn nhân lực hạn chế và chi phối bởi nhiều dịch vụ kỹ thuật cao khoa vẫn phải
đảm nhận trọng trách thành lập đơn vị phòng chống tăng huyết áp (ĐVPCTHA)
trong chương trình phòng chống tăng huyết áp quốc gia do Bộ Y tế triển khai.
Chương trình Phòng chống bệnh THA là một trong các chương trình y tế quốc
các biến chứng của THA vẫn còn rất nhiều vấn đề tồn tại.
16
KHUNG LÝ THUYẾT
Yếu tố cá nhân
- Tuổi
- Giới
- Trình độ học vấn
- Nghề nghiệp
- Cơ cấu gia đình
- Thời gian phát hiện
THA
- Bệnh mạn tính
- Đã từng bị biến chứng
THA
Yếu tố xã hội
- Cộng đồng dân cư
- Nơi cư trú
Kiến thức về THA và
phòng biến chứng THA
- Kiến thức về bệnh THA
và cách điều trị.
- Kiến thức về cách phòng
biến chứng THA.
- Tự nhận biết các dấu hiệu
của biến chứng.