KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG LÂY NHIỄM VIÊM GAN B VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG 2015 - Pdf 28

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
*****
HOÀNG VĂN DOANH

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG LÂY
NHIỄM VIÊM GAN B VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN
QUAN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
HẢI PHÒNG 2015 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG HẢI PHÒNG - 2015
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG


quan và chưa từng được công bố trên bất cứ tài liệu nào.
Nếu có gì sai sót em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Sinh viên Hoàng Văn Doanh
ii

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự
tri ân sâu sắc đối với Ban giám hiệu, thầy chủ nhiệm cùng các thầy cô khoa Y
tế công cộng trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã quan tâm và chỉ bảo tận
tình trong quá trình thực hiện đề tài.
Đặc biệt với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cảm ơn
chân thành tới Thạc sĩ Hoàng Thị Giang khoa Y tế công cộng đã hết lòng giúp
đỡ, dạy bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Cuối cùng, em xin được cám ơn gia đình đã luôn ủng hộ, động viên và
tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành khóa luận này.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng trong quá trình thực hiện khóa
luận không thể tránh khỏi sai sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp của quý thầy cô và bạn bè.
Sinh viên Hoàng Văn Doanh

iii


1.5. Dự phòng bệnh viêm gan virus B 8
1.6. Tình hình nghiên cứu về kiến thức thái độ thực hành về viêm gan B trên
thế giới và Việt Nam 10
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
2.2. Phương pháp nghiên cứu 15
2.3. Đạo đức nghiên cứu 19
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng kiến thức thái độ phòng lây nhiễm VGB 20
3.2. Một số yếu tố liên quan đến phòng lây nhiễm HBV của sinh viên 31
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.1. Thực trạng kiến thức thái độ phòng lây nhiễm HBV 35
4.2. Một số yếu tố liên quan đến phòng lây nhiễm HBV của sinh viên 44
KẾT LUẬN 49
1. Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh viêm gan B của sinh viên 49
2. Một số yếu tố liên quan đến phòng lây nhiễm HBV của sinh viên 49
KHUYẾN NGHỊ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
v

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 20
Bảng 3.2: Kiến thức về đường lầy truyền của HBV 22
Bảng 3.3: Kiến thức về biện pháp phòng ngừa lây nhiễm HBV 23
Bảng 3.4: Kiến thức về nguồn mang HBV 24
Bảng 3.5: Kiến thức về các quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn phòng lây nhiễm
HBV 24
Bảng 3.6: Kiến thức về tiêm vaccin phòng HBV 25
Bảng 3.7: Thái độ phòng lây nhiễm HBV 26

nghiêm trọng. Đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh VGB.
Theo thống kê của WHO một phần ba dân số thế giới đã từng bị nhiễm
HBV, khoảng 350 triệu người mang HBV mạn tính. Mỗi năm có khoảng 2 triệu
người mang HBV mạn chết do hậu quả suy gan cấp, xơ gan, ung thư gan[34].
Tại Việt Nam, rất nhiều nghiên cứu về tần suất mắc bệnh VGB cho thấy
Việt Nam ở vào vùng dịch lưu hành cao[7]. Theo số liệu điều tra của Bộ Y tế
năm 2012, có khoảng 12 - 16 triệu người nhiễm HBV, trong đó tỉ lệ người có
HBsAg trong cộng đồng từ 14 - 26%, tuỳ theo những nghiên cứu khác nhau và
ở các nhóm dân cư địa lý khác nhau, số người nhiễm HBV mạn tính khoảng 10
triệu người.
Nhân viên y tế là lực lượng thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều yếu tố
tác hại nghề nghiệp, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường máu từ
bệnh nhân, trong đó có VGB[17]. Theo báo cáo của WHO, hàng năm có khoảng
2 triệu NVYT phơi nhiễm với các yếu tố gây bệnh truyền nhiễm lây truyền qua
đường máu tại nơi làm việc, trong số đó 2/3 là phơi nhiễm với HBV. Từ những
phơi nhiễm này có thể dẫn đến 70.000 trường hợp mắc VGB hàng năm, 90%
trong số đó là ở các nước đang phát triển (WHO, 2002)[35].
Sinh viên ngành y là nhóm đối tượng có nguy cơ cao do thường xuyên
phải tiếp xúc với người bệnh và các dịch cơ thể của họ trong quá trình
học lâm sàng. Nếu kiến thức, thái độ và thực hành phòng lây nhiễm HBV của
sinh viên không đúng, không những ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân sinh viên
mà còn ảnh hưởng đến việc lây truyền HBV giữa các bệnh nhân với nhau và
có thể làm lây lan HBV trong cộng đồng thông qua công việc và nghề nghiệp
2

Y tế. Mặt khác chính những NVYT tương lai này sẽ là nguồn cung cấp kiến
thức đúng đắn cho cộng đồng, giúp mọi người thấy được sự nguy hiểm cũng
như cách phòng tránh. Chính vì điều đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Kiến
thức, thái độ, thực hành phòng lây nhiễm viêm gan B và một số yếu tố liên
quan của sinh viên Trường Đại học Y Dược Hải Phòng 2015” nhằm các mục

50 triệu trẻ em bị nhiễm virus VGB, 7-15 triệu sẽ bị chết do hậu quả nhiễm
trùng này khi đến tuổi trưởng thành [12], [16].
Châu Á và châu Phi có tỷ lệ mang virus VGB cao nhất chiếm khoảng
20% dân số. Châu Âu tỷ lệ ít hơn chiếm khoảng 1 - 5% dân số.
4

WHO đã chia thành 3 vùng lưu hành dịch bao gồm:
- Vùng lưu hành dịch cao( >7%): Gồm những nước có tỷ lệ mang virus
VGB trên 7% dân số như Đài Loan 14,5%, Trung Quốc 9,5%, Khu vực Đông
Nam Á 11,9%, vùng Amazon 8%, Bắc Phi 10%. Ở những vùng này phương
thức lây truyền từ mẹ sang con qua nhau thai đóng vai trò quan trọng. Tại châu
Phi có tới 90% trẻ em dưới 10 tuổi bị nhiễm virus VGB và 20% trong số này
trở thành người mang HBsAg mạn tính [12].
- Vùng lưu hành dịch trung bình (2-7%): Gồm những nước có tỷ lệ mang
virus VGB từ 2 - 7% dân số như Indonesia 5,2%, Ấn Độ 5%, Bắc Mỹ Latinh 2
- 2,5% [12].
- Vùng lưu hành dịch thấp (<2%): Là những quốc gia có tỷ lệ mang virus
VGB dưới 2%: Nhật Bản 1,3%, Australia 0,1%, vùng Caribe 0,1 - 1,6%, khu
vực Nam Mỹ - Latinh 0,5 - 1,6%. Tại vùng này sự lây nhiễm chủ yếu xảy ra ở
người lớn liên quan đến tuổi hoạt động tình dục [12].

Hình 1.1: Bản đồ phân vùng dịch tễ viêm gan virus B trên Thế giới
(Nguồn: Theo trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ)

5

1.2.2. Tình hình nhiễm virus VGB ở Việt Nam
Việt Nam cũng như các nước khu vực Đông Nam Á là quốc gia nằm
trong vùng có tỷ lệ nhiễm virus VGB cao trên thế giới, ước tính có khoảng 8,6
triệu người nhiễm HBV. Tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính được ước tính khoảng

dục. Người bị viêm gan cấp hay mang HBsAg mạn đều có thể truyền virus
VGB qua con đường này. Ở Mỹ và nhiều nước phát triển thì đây chính là con
đường lây truyền quan trọng. Trung tâm kiếm soát và phòng bệnh đã báo cáo
rằng lây truyền qua đường quan hệ tình dục là nguyên nhân chính chiếm khoảng
50% trường hợp bị VGB cấp tính ở những đối tượng có yếu tố nguy cơ trong
tiền sử [5]. Nguy cơ lây nhiễm tăng cao theo số bạn tình, số lần quan hệ tình
dục, trình độ văn hoá thấp, quan hệ với gái mại dâm và tiền sử bệnh lây truyền
qua đường tình dục khác. Lây nhiễm từ nam sang nữ nhiều hơn gấp 3 lần từ nữ
sang nam. Nguy cơ bị nhiễm virus VGB qua một lần tiếp xúc không được bảo
vệ khoảng 1-3%.
1.3.3. Từ mẹ sang con
Cho đến nay, người ta xác định virus gây viêm gan ở phụ nữ có thai là
virus VGA, virus VGB, virus VGD, virus VGE nhưng chỉ phát hiện thấy virus
VGB, virus VGD là có thể truyền từ mẹ sang con. Theo Krugman 40% người
mang HBsAg nhiễm trong thời kỳ chu sinh từ mẹ sang con, 20 - 40% nhiễm
trùng trong thời kỳ thơ ấu. Vậy có thể nói rằng lây truyền virus VGB từ mẹ
sang con là cơ chế lây truyền quan trọng, đặc biệt là những khu vực có tỷ lệ lưu
hành HBsAg cao [12], [6].
7

1.4. Hậu quả lâu dài của viêm gan virus B
1.4.1. Người mang kháng nguyên HBsAg (+)
Tình trạng người mang kháng nguyên HBsAg (+) là một hiện tượng đặc
biệt trong bệnh học về nhiễm khuẩn. Nhiễm virus VGB có thể gây bệnh cấp
tính tử vong trong vòng 6-10 ngày, có thể gây ung thư gan nguyên phát và cũng
có thể là người lành mang kháng nguyên HBsAg (+). Tỷ lệ HBsAg (+) ở nước
ta rất cao (16 - 25%), khi những người mang HBsAg (+) có thêm HBeAg (+)
thì có khả năng truyền bệnh rất lớn. Chẳng hạn phụ nữ mang thai mà có cả
HBsAg(+) và HBeAg (+) thì hầu hết con của họ bị nhiễm virus VGB (96,5%).
Lý do họ đều là những người có bệnh gan mạn tính hoạt động. Biểu hiện tổn

các tháng 0, 1, 6 hoặc 4 mũi 0, 1, 2, 12 hoặc 0, 1, 2, 6. Tiêm bắp tại cơ delta,
không nên tiêm trong da hoặc dưới da. Nếu sau khi tiêm một liều mà bị gián
đoạn thì lập tức tiêm liều hai khi nào có thể, liều ba phải cách liều hai ít nhất
hai tháng, nếu liều ba bị chậm thì có thể tiêm bất cứ khi nào có thể [4], [5].
Hiệu lực bảo vệ của kháng thể chống lại HBV (anti-HBs) trên các đối
tượng chủng ngừa HBV có liên quan đến tuổi, giới, cân nặng. Ngoài ra, thời
gian tồn tại của anti-HBs sau khi tiêm chủng khác nhau, tùy thuộc đối tượng
tiêm, lứa tuổi, liều tiêm và mức độ tiếp xúc với HBV của người được tiêm
chủng. Ngưỡng đánh giá anti-HBs có hiệu quả sau chủng ngừa là lớn hơn 10
UI/L . Tỷ lệ đáp ứng sau chủng ngừa cũng thay đổi theo từng nghiên cứu của
các tác giả: Theo Nguyễn Hữu Chí từ 50% đến 70% [5].
Nhiều khảo sát cho thấy kháng thể có thể duy trì ở nồng độ đủ phòng
ngừa từ 9 đến 15 năm trên những người có tình trạng miễn dịch bình thường.
9

Tuy nhiên trên những người bị suy giảm miễn dịch có nồng độ kháng thể thấp
nên rất dễ bị nhiễm HBV.
Trong trường hợp bà mẹ dương tính với HBsAg và HBeAg, việc dùng
phác đồ kết hợp với Globulin miễn dịch HBV và bắt đầu đợt tiêm vaccin HBV
ngay khi bé sinh ra sẽ có hiệu quả phòng nhiễm HBV từ 85% đến 95% [4].
Vaccin tiêm phòng HBV rất an toàn cho mọi đối tượng kể cả trẻ sơ sinh
và trẻ em. Đến năm 2000 tại Hoa Kỳ đã có hơn 100 triệu người đã được tiêm
phòng HBV. Chương trình tiêm phòng HBV đã được thực hiện đại trà ở nhiều
nơi như Đài Loan, Alaska và ghi nhận không có mối liên quan giữa tiêm chủng
và các phản ứng nghiêm trọng xảy ra do tiêm phòng HBV. Phản ứng thường
gặp nhất do tiêm phòng là đau nơi chích và sốt nhẹ [4].
Sinh viên ngành Y tế khi đi thực tập thường xuyên tiếp xúc với máu và
các dịch tiết của người bệnh mà chưa được miễn dịch với HBV có nguy cơ cao
bị nhiễm HBV nên rất cần được tiêm vaccin phòng HBV. Biện pháp hiệu quả
nhất để phòng chống lây nhiễm HBV cho sinh viên ngành Y là chủng ngừa

Duy trì nghiêm ngặt và thường xuyên các biện pháp khử trùng dụng cụ
y tế, các chất thải gồm máu và các dịch thể từ bệnh nhân nhiễm virus VGB.
Quản lý chặt chẽ các dụng cụ sắc nhọn, có khả năng xuyên da, nhất là
khi chúng có nhiễm máu và dịch cơ thể bệnh nhân.
Các biện pháp tình dục an toàn để chống lây nhiễm qua đường tình dục [12].
1.6. Tình hình nghiên cứu về kiến thức thái độ thực hành về viêm gan B
trên thế giới và Việt Nam
1.6.1. Nghiên cứu trên thế giới:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Mesfm YM và Kibret KT, năm 2013, ở
Đại học Haramaya, Ethiopia về mô tả kiến thức và thực hành phòng bệnh VGB
11

trên 322 sinh viên y khoa. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng đa số sinh viên
không được tiêm chủng đầy đủ chống lại bệnh VGB chiếm 95.3 %. Nghiên cứu
cũng chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức thực hành [30].
Nghiên cứu mô tả cắt ngang của UI Haq N và cộng sự, năm 2012, tại Đại
học Baluchistan, Quetta , Pakistan về kiến thức, thái độ và thực hành phòng
bệnh viêm gan siêu vi B, trên một ngàn người dân khỏe mạnh, độ tuổi từ 18 trở
lên của thành phố Quetta, Pakistan. Kết quả chỉ ra rằng: Kiến thức, thái độ, thực
hành của người dân còn kém; có mối liên giữa kiến thức và thái độ, kiến thức
và thực hành, thái độ và thực hành [33].
Nghiên cứu của Al-Tawil MM và cộng sự, năm 2013, tại bệnh viện nhi,
Đại học Ain Shams, Cairo, Ai Cập về tác động của chiến lược kiểm soát lây
nhiễm đến kiến thức, thái độ và thực hành, về lây dự phòng lây truyền VGB
trong quần thể dễ bị tốn thương. Nghiên cứu được tiến hành trên 2 nhóm đối
tượng gồm: 184 y tá và 210 trẻ em và thanh thiếu niên bị bệnh về máu. Kết quả
chỉ ra rằng kiến thức cơ bản về đường lây truyền, biến chứng và biện pháp
phòng ngừa bệnh VGB là thấp ở cả hai nhóm, chỉ có 38 % bệnh nhân và 40%
y tá được chủng ngừa bệnh VGB [33].
Nghiên cứu của Juon HS và Park BJ, năm 2013, về hiệu quả của việc

HBsAg(+) 6,2% cao hơn so với những người có kiến thức đúng về VGB
(2,2%). Chưa tìm thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ HBsAg (+) ở những người sử dụng
chung và không sử dụng chung đồ dùng cá nhân [19].
Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Lý Văn Xuân và Phan Thị Quỳnh Trâm,
năm 2009, tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bĩnh Phước về kiến thức, thái độ, thực
hành phòng bệnh VGB, trên 373 bệnh nhân đến khám tại bệnh viện. Kết quả
cho thấy có 29,2% bệnh nhân có kiến thức đạt, 38,3% có thái độ đúng và 32,7%
có thực hành đúng; có mối liên quan về kiến thức phòng bệnh VGB giữa những
13

bệnh nhân có thu nhập khác nhau, bệnh nhân có kiến thức đúng thì thực hành
đúng gấp 3,7 lần so với bệnh nhân không có kiến thức đúng [26].
Nghiên cứu của Trịnh Văn Nghinh, năm 2009, về kiến thức, thái độ, thực
hành phòng bệnh VGB của người dân thị trấn Yên Viên, Gia Lâm Hà Nội,
nghiên cứu được tiến hành trên 300 người độ tuổi từ 18 đến 60. Kết quả đã chỉ
ra rằng: Chỉ có 22,9% đối tượng nghiên cứu đạt về kiến thức, 24,2% đạt về thực
hành, trong đó hiếu biết đúng về nguyên nhân gây bệnh 59,2%, lây qua đường
máu 61,4%, quan hệ tình dục không an toàn 51,3%, từ mẹ sang con 42,2%, còn
các đường lây khác rất thấp. Hiểu biết về cách phòng bệnh VGB còn thấp như
tiêm phòng chiếm 61,8%, quan hệ tình dục an toàn chiếm 44,1%, sử dụng bơm
kim tiêm riêng 24,2%, truyền máu an toàn 46,1%. Người dân chủ động đi tiêm
chủng còn thấp chiếm 33,0% [15].
Nghiên cứu phối hợp định lượng và định tính của Nguyễn Thị Thúy
Vinh, năm 2007, nghiên cứu mô tả kiến thức, thái độ và thực hành về phòng
bệnh VGB trên 384 đối tượng sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội và xác định một số yếu tố liên quan đến lây nhiễm virus VGB.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 66,7% sinh viên có kiến thức đạt, về thái độ tích
cực (92,1%), tỷ lệ sinh viên thực hành đúng (60,2%), nhưng tỷ lệ tiêm phòng
và xét nghiệm viêm gan thấp chiếm 32,6% và 31,5%; kênh thông tin có hiệu
quả đối với sinh viên là loa đài, sách báo, vô tuyến, nhân viên y tế; nghiên cứu

Hậu về tỷ lệ nhiễm virus VGB ở nhân viên Y tế tại 3 bệnh viện huyện của tỉnh
Quảng Bình, năm 2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ nhiễm virus VGB
là 13,9%, trong đó tỷ lệ mang HBsAg (+) là 8,7% và tỷ lệ có kháng thể anti-
HBs (+) trong số đối tượng chưa tiêm phòng vaccin VGB là 5,2% [21].

15

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Sinh viên theo học bác sĩ đa khoa hệ chính quy tại trường Đại học Y dược Hải
Phòng.
2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015 tại trường Đại học Y dược
Hải Phòng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2. Cỡ mẫu
Tính theo công thức tính cỡ mẫu ước lượng tỷ lệ p
  
 






Trong đó:

đã từng đi hiến máu hay chưa, quan hệ tình dục, tình trạng hôn nhân, có người
nhà bị viêm gan B hay không.
- Nhóm biến về kiến thức của đối tượng nghiên cứu bao gồm các biến về kiến
thức về nguyên nhân gây bệnh, hậu quả, về đường lây truyền của bệnh, về
17

nguồn mang bệnh, các biện pháp phòng bệnh, các quy trình kiểm soát bệnh, về
tiêm vaccin phòng bệnh.
- Nhóm biến về thái độ được đánh giá bao gồm các thái độ khi biết người thân
bị nhiễm VGB, về việc người bị bệnh VGB có khả năng cống hiến công việc,
bệnh có thể phòng tránh, không nên tiếp xúc với người bệnh, việc xử trí ban
đầu, sự quan tâm tới người bệnh và có sẵn sàng làm tình nguyện viên về bệnh
hay không.
- Nhóm biến về thực hành phòng bệnh gồm các biến dùng chung các dụng cụ
cá nhân, thực hành xét nghiệm và tiêm phòng HBV, về các yêu cầu vô khuẩn
khi được thực hiện thủ thuật.
2.2.6. Tiêu chuẩn đánh giá
2.2.6.1. Đánh giá về kiến thức phòng lây nhiễm HBV
Kiến thức của sinh viên về phòng chống HBV gồm 13 câu hỏi (C1-C13).
Việc đánh giá kiến thức bằng cách cho điếm và điếm được tính theo từng lựa chọn
cho mỗi câu, mỗi lựa chọn đúng được 1 điểm, sai được 0 điểm.
Tổng điểm kiến thức tối đa của sinh viên là 39 điểm, số điểm càng cao
thì kiến thức phòng chống lây nhiễm HBV của sinh viên càng cao.
Kiến thức của sinh viên có tổng điểm ≥19 điểm (50% tổng số điểm tối đa) sẽ
được coi là đạt về kiến thức. Sinh viên có tổng điểm kiến thức <19 điểm được
coi là không đạt về kiến thức.
2.2.6.2. Đánh giá về thái độ phòng chống lây nhiễm HBV
Sử dụng thang đo thái độ Likert 5 mức độ và tham khảo thang đo thái độ
của một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng lây nhiễm HBV
trước đây [15], [24]. Nghiên cứu này có 8 quan điếm được sử dụng để đo lường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status