Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống lây nhiễm HIVAIDS của sinh viên trường đại học y dược hải phòng năm học 2014 – 2015 - Pdf 35

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đã hơn 2 thập kỷ trôi qua kể từ khi trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được
phát hiện tại Mỹ, loài người vẫn đã và đang đứng trước hiểm họa của đại dịch
HIV/AIDS. Những năm gần đây tình hình dịch HIV/AIDS có vẻ lắng xuống,
số ca nhiễm mới và tử vong đều giảm nhưng theo báo cáo của Chương trình
phối hợp phòng chống HIV/AIDS của Liên Hiệp Quốc ( UNAIDS) năm 2013
vẫn có khoảng 35 triệu người đang chung sống với HIV trên toàn cầu, trong
đó có khoảng 19 triệu người không biết mình đang nhiễm HIV. Ước tính mỗi
ngày trên thế giới có khoảng 14.000 người nhiễm mới, số người nhiễm mới
chủ yếu là thanh niên trong độ tuổi 15 – 24 và tập trung chủ yếu ở những nước
đang phát triển.
Ở Việt Nam, sau khi trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào
tháng 12/1990 dịch nhanh chóng lan rộng ra khắp các tỉnh, thành phố trong cả
nước[1]. Tính đến hết 30/11/2013, số lũy tích các trường hợp báo cáo hiện
nhiễm HIV là 216.254 trường hợp, số bệnh nhân AIDS là 66.533 và đã có
68.977 trường hợp tử vong do AIDS. Các tỉnh có số người nhiễm HIV còn
sống hiện nay nhiều nhất cả nước: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải
Phòng, Thái Nguyên, Sơn La, Nghệ An…….Tập trung chủ yếu ở những đối
tượng nghiện chích ma túy (NCMT), nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM),
phụ nữ bán dâm ( PNBD) và ở lứa tuổi trẻ 20- 39 tuổi chiếm tới 79% tổng số
những người nhiễm.
Nằm trên địa bàn thành phố Hải Phòng - cửa ngõ giao thông quan trọng trong
tam giác Hà Nội — Hải Phòng - Quảng Ninh, cũng là nơi tập trung nhiều tệ
nạn xã hội trong đó phải kể đến tệ nạn ma tuý, mại dâm trường Đại học Y
Dược Hải Phòng sau 36 năm xây dựng và phát triển góp phần to lớn cho sự
nghiệp giáo dục và sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.
1


Trường đào tạo nhiều đối tượng khác nhau và gồm nhiều lứa tuổi khác nhau
nhưng số lượng lớn sinh viên trong độ tuổi thanh niên. Những sinh viên này

truyền máu nhiều lần. Tiêm chích ma túy cũng có dấu hiệu của suy giảm miễn
dịch [3].
Sau khi phát hiện ra những ca bệnh đầu tiên, nó nhanh chóng lan rộng ra
khắp toàn cầu và trở thành đại dịch nguy hiểm nhất trong lịch sử loài người.
Theo UNAIDS công bố: đến cuối năm 2013 có 35 triệu người sống chung với
virus HIV trên toàn cầu ( 19 triệu người không biết mình bị lây nhiễm) trong
đó có 1,5 triệu người đã tử vong do AIDS đưa con số tử vong do AIDS trên
toàn cầu do AIDS lên 39 triệu người tính từ đầu vụ dịch HIV. Số ca lây nhiễm
mới là 2,1 triệu người lớn và 240.000 trẻ em giảm 38% so với mức trên 3 triệu
ca so với năm 2011 [4].
Khu vực cận Sahara của Châu Phi vẫn là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất
với gần 25 triệu người nhiễm HIV chiếm khoảng 2/3 tổng số người hiện
nhiễm HIV/AIDS đang còn sống trên thế giới. số ca lây nhiễm mới được phát
hiện 1,5 triệu người và 1,1 triệu người tử vong mỗi năm do AIDS. Trong đó,
tập trung chủ yếu ở Nam Phi và sau đó là Nigeria [4].
3


So với các châu lục khác trên thế giới thì ở Châu Á HIV/AIDS xuất hiện
muộn hơn và mức độ nhiễm ở từng nước trong khu vực cho đến nay vẫn được
ghi nhận là tương đối thấp. Tuy nhiên, do dân số của nhiều nước Châu Á rất
đông nên thậm chí chỉ cần một tỷ lệ rất nhỏ người nhiễm HIV thì tính ra con
số này người nhiễm ở châu lục này cũng đã ở mức “khổng lồ”. Các ước tính
gần đây nhất cho thấy, tính đến cuối năm 2012, ở Châu Á có 4,9 triệu người
đang chung sống với HIV/AIDS trong đó Campuchia, Trung quốc, Ấn Độ và
Thái Lan là bốn trong số 12 quốc gia có tỷ lệ bị nhiễm HIV/AIDS cao nhất thế
giới ( trên 90%). Nguyên nhân chính làm lây truyền HIV trong phần lớn các
nước Châu Á vẫn là NCMT và quan hệ tình dục không an toàn[4] . Đáng chú
ý nhất là Ấn Độ và In-đô-nê-si-a với số ca nhiễm mới ở In-đô-nê-si-a tăng
48% kể từ năm 2005.


80,3% số xã, phường, thị trấn và 98,9% số quận, huyện đã báo cáo có
người nhiễm HIV. Dịch HIV ở Việt Nam bao gồm nhiều hình thái dịch
khác nhau trên toàn quốc và vẫn đang tập trung chủ yếu ở ba nhóm
quần thể có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao: người nghiện chích ma túy
(NCMT), nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) và phụ nữ bán dâm
(PNBD). Trong thời gian gần đây, bạn tình của người nghiện chích ma túy
được coi là quần thể có nguy cơ cao mới, được bổ sung vào các can thiệp dự
phòng. Việc gia tăng các trường hợp phụ nữ nhiễm HIV mới được báo cáo,
chiếm đến 32,5% các ca nhiễm mới trong năm 2013, phản ánh sự lây truyền
HIV từ nam giới có hành vi nguy cơ cao sang bạn tình. Tỷ lệ hiện nhiễm
HIV trong nhóm NCMT giảm dần trong giai đoạn từnăm 2004 đến
2013, lần đầu tiên xuống dưới 11% trong năm 2013 kể từ năm 1997. Tuy tỉ
lệ hiện nhiễm trong nhóm NCMT đang giảm dần ở một số tỉnh, nhưng ở
hầu hết các tỉnh thực hiện giám sát, dịch HIV/AIDS vẫn đang cao ở mức
đáng báo động. Theo kết quả giám sát trọng điểm HIV năm 2013, tỉ lệ hiện
nhiễm HIV trong nhóm NCMT đặc biệt cao ở các tỉnh Thái Nguyên (34%),
Lai Châu (27,7%), Hà Nội (24%), Quảng Ninh (22,4%) và Thành phố Hồ
Chí Minh (18,2%). Đối với nhóm phụ nữ bán dâm tỉ lệ này là 2,6%. Tuy
nhiên tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNBD tương đối cao trên 10%, tại
Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ, và Thành phố Hồ Chí Minh. Bằng chứng
cũng cho thấy tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNBD đường phố cao
hơn so với PNBD nhà hàng, và ước tính có khoảng 3-8% PNBD tiêm chích
ma túy. Trong số PNBD tiêm chích ma túy, tỉ lệ hiện nhiễm HIV là 25-30%.
Trong những năm gần đây, dịch HIV trong nhóm MSM ngày càng được
ghi nhận rõ hơn. Số lượng các nghiên cứu và giám sát về hành vi trong
nhóm

6


các tế bào lympho của người( với điều kiện đã được kích thích phân bào) và
tế bào thường trực Hela CD4( +).
- Dưới kính hiển vi điện tử virus có dạng hình cầu, cấu tạo gồm vỏ ngoài
và lõi capsit ở trong. Vỏ của virus tạo bởi 72 núm gai là các glycoprotein 120
( gp120) của vỏ ngoài, thành phần này là receptor gắn vào receptor CD4+ của
tế bào và một protein xuyên màng glycoprotein 41 (gp 41). Lõi của virus hình
cầu chứa các protein cấu trúc của gen Gag, trong capsit chứa 2 phân tử ARN
giống nhau, và các enzyme ADN polymerase. Cấu trúc chi tiết của virus và
genom của HIV như hình sau:

Hình 1.2. Hình ảnh minh họa cấu tạo virus HIV hoàn chỉnh
 Sức đề kháng: Cũng như các loại virus khác có vỏ ngoài lipid, HIV dễ
bị bất hoạt bởi các yếu tố vật lý, hóa học, nhiệt độ:
-

Bị bất hoạt ở

C trong vòng 30’.

8


-

Dễ dàng bị tiêu diệt bởi các hóa chất sát khuẩn thông thường: cồn

,

aldehyd, phenol, javel….
- Tuy nhiên, trong điều kiện hanh khô, virus có thể sống vài ngày ở bên

hay dịch tiết âm đạo vào máu và lympho. Tuy nhiên sự lây nhiễm có
thể diễn ra ngay khi cơ thể còn nguyên vẹn không có tổn thương.
 Quan hệ tình dục theo đường hậu môn là dễ lây nhiễm nhất vì dễ tổn
thương nhất.
 Nguy cơ lây nhiễm tăng cao theo số lần quan hệ tình dục với người
nhiễm, nhưng có thể lây nhiễm với một lần và ngay lần đầu tiên.
1.2.3.3. Mẹ truyền cho con
 Sự lây nhiễm có thể diễn ra trong thời gian mang thai hoặc trong khi
sinh. Nguy cơ tích lũy của lây truyền mẹ - con từ khi mang thai đến hết
thời kỳ cho con bú là vào khoảng 36%( 20% - 50%). Do đó khuyên các
bà mẹ có HIV không nên có thai.
 Nguy cơ còn lại là sau khi sinh, sữa mẹ có khả năng là nguồn lây nhiễm
HIV. Theo kết quả của nhiều nghiên cứu, việc các bà mẹ nhiễm HIV
không nuôi con bằng sữa mẹ làm giảm nguy cơ lây truyền cho con
khoảng 13%. Vì vậy, hiện nay nhiều quốc gia khuyến cáo các bà mẹ
nhiễm HIV không nên cho con bú. Tuy nhiên tổ chức y tế thế
giới( WHO) khuyến cáo duy trì cho con bú tại các nước đang phát triển
vì nguy cơ liên quan đến sữa nhân tạo cao hơn so với nguy cơ lan
truyền HIV qua sữa mẹ.
1.2.3.4. Các phương thức không lây truyền

10


 Virus không lan truyền qua nước bọt, nước mắt, mồ hôi. Mặc dù tìm
thấy sự có mặt của virus trong các dịch này nhưng không có một
trường hợp nào lây nhiễm qua phương thức này được thông báo.
 Không có lây nhiễm khi tiếp xúc trong cùng gia đình dùng chung thìa,
cốc…với người nhiễm HIV, bể bơi, trường học, phương tiện vận
chuyển công cộng, nơi làm việc, không lây nhiễm HIV qua tiếp xúc

kết quả dương tính. Thời kỳ này, virus tồn tại nhiều hơn trong hạch
bạch huyết.
 Giai đoạn AIDS: kéo dài 1- 2 năm. Đây là giai đoạn thể hiện tình trạng
suy giảm miễn dịch của cơ thể. Bệnh nhân thường có các biểu hiện lâm
sàng chủ yếu của các bệnh nhiễm trùng cơ hội hoặc ung thư cơ hội và
dẫn đến tử vong.
1.2.5. Các tác hại của nhiễm HIV/AIDS
 Đối với bản thân:
- Giảm sức đề kháng cơ thể dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội: lao,
nấm… và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, đường máu khác:
viêm gan B, viêm gan C….
- Giảm sức lao động, sức sản xuất ra các sản phẩm vật chất và tinh thần.
- Tăng các gánh nặng về kinh tế do giảm sức lao động, thiếu cơ hội việc
làm và tăng chi phí cho các hoạt động y tế, điều trị bệnh
- Bị xã hội kỳ thị làm cho có xu hướng sống thu hẹp, khép kín…
- Ảnh hưởng đến đạo đức, hạnh phúc gia đình, dễ tan vỡ…..


Đối với xã hội:
- Ảnh hưởng về kinh tế: Số người nhiễm HIV chủ yếu ở lứa tuổi lao
động. Khi nhiều người bị nhiễm HIV và bị chết vì AIDS sẽ ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế của từng gia đình, cộng đồng và của
đất nước. Chi phí cho công tác phòng chống AIDS sẽ rất tốn kém.

12


- Ảnh hưởng về tâm lý xã hội: Mọi người sợ hãi dễ dẫn đến tình trạng
phân biệt đối xử. Cuộc sống của gia đình có người bị nhiễm HIV
hoặc bệnh AIDS sẽ trở nên căng thẳng, xuất hiện nhiều mâu thuẫn

lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, vừa thể hiện nhân cách đạo
đức con người.
1.2.6.3. Phòng lây nhiễm mẹ - con
 Các bà mẹ bị nhiễm HIV thì nên tư vấn ý kiến của thầy thuốc trước khi
quyêt định mang thai. Tốt nhất là không nên có thai.
 Sử dụng thuốc ARV điều trị dự phòng cho con trước, trong và ngay sau
sinh theo chỉ định cảu thầy thuốc.
 Không nên cho con bú mẹ. tuy nhiên, ở những nước có điều kiện kinh
tế kém phát triển và cân nhắc giữa những rủi ro giữa sữa nhân tạo so
với rủi ro do HIV thì lại khuyên nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
1.2.6.4. Dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS do rủi ro nghề nghiệp cho nhân viên
y tế
Phơi nhiễm với HIV là 1 trong 3 phơi nhiễm nghề nghiệp thường xảy ra
nhất ( HIV, HBV, HCV).
Phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV là các tiếp xúc với máu hoặc dịch cơ thể
có thể chứa HIV dẫn đến nguy cơ lây nhiễm HIV xảy ra trong quá trình chăm
sóc, chẩn đoán, điều trị bệnh nhân. Các dạng phơi nhiễm như qua da bị tổn
thương do kim tiêm, vật sắc nhọn đâm xuyên; qua da bị tổn thương do kim
tiêm hoặc vật sắc nhọn; qua niêm mạc da trầy xước, loét, nhiễm trùng; do bị
người khác dùng kim tiêm chứa máu đâm hoặc trong khi truy bắt tội phạm.[6]
Dự phòng lây nhiễm HIV nghề nghiệp cho nhân viên y tế áp dụng cả trước
và sau khi phơi nhiễm với HIV:[5][6]
 Trước khi phơi nhiễm:
- Áp dụng các phương pháp phòng ngừa chuẩn: mang các phương tiện
phòng hộ cá nhân, đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn trong khám, chữa
14


bệnh; khử khuẩn các dụng cụ; chất thải bệnh nhân……. Giúp làm giảm
nguy cơ lây nhiễm.

n=
n: cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu.
=
p: tỷ lệ sinh viên có hiểu biết đúng về HIV/AIDS( p = 0,5).
16


q= 1-p
∆: sai số mong muốn( ∆=0,07).
Cỡ mẫu tính được n= 196, cỡ mẫu dự kiến nghiên cứu sinh viên năm thứ
nhất: 301, năm cuối: 198 sinh viên
2.4.2.2. Cách chọn mẫu
Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống:
Bước 1: chọn lớp đưa vào nghiên cứu
Năm học 2014 – 2015
Năm thứ nhất có 12 lớp trong đó các ngành đào tạo bác sỹ y học dự
phòng, bác sỹ răng hàm mặt, cử nhân kỹ thuật y học, cử nhân điều dưỡng đều
chỉ có 1 lớp, riêng bác sỹ đa khoa có 8 lớp.
Năm cuối có 12 lớp, trong đó các ngành đào tạo bác sỹ y học dự phòng,
bác sỹ răng hàm mặt, cử nhân kỹ thuật y học, cử nhân điều dưỡng đều chỉ có
1 lớp, riêng bác sỹ đa khoa có 8 lớp.
Đối với các ngành đào tạo bác sỹ y học dự phòng, bác sỹ răng hàm mặt,
cử nhân kỹ thuật y học, cử nhân điều dưỡng chọn cả lớp.
Đối với y đa khoa, đánh số thứ tự theo các số tự nhiên từ 1 đến 8
Bốc ngẫu nhiên ở mỗi khối ra 1 lớp.
Bước 2: chọn đối tượng đưa vào nghiên cứu
Trong mỗi khối, lập danh sách sinh viên theo vần A,B,C….. rồi lấy số
sinh viên từ số đầu tiên đến khi đủ cỡ mẫu thì thôi.

17


về

lây nhiễm HIV/AIDS
vấn
Các biện pháp phòng tránh lây Điều tra/phỏng

HIV/AIDS

nhiễm HIV/AIDS
Xét nghiệm phát hiện HIV

vấn
Điều tra/phỏng

vấn
Mô tả thái Thái độ bạn bè hoặc người thân Điều tra/phỏng
độ

nhiễm HIV/AIDS
vấn
Thái độ đối với các phong trào Điều tra/phỏng
phòng chống HIV/AIDS trong vấn

Mô tả thực
hành

cộng đồng
Hành vi để tránh lây nhiễm Điều tra/phỏng
HIV/AIDS cho bản thân

Điều tra/phỏng

Khối học

vấn
Điều tra/phỏng

Ngành học

vấn
Điều tra/phỏng

Nguồn thông tin

vấn
Điều tra/phỏng
vấn

2.5.Phương pháp thu thập thông tin
Nhóm điều tra viên: 3 người.
Phương pháp phỏng vấn, sử dụng công cụ là bộ câu hỏi có sẵn.
Chỉ tiêu đánh giá:
Bằng việc cho điểm mỗi trả lời đúng, với mỗi ý trả lời đúng sẽ được cộng 1
điểm vào tổng điểm. đánh giá trên cả 3 phương diện, đánh giá kiến thức, thái
độ và thực hành phòng chống HIV/AIDS. Nếu:
• ≥ 50% => đạt
• < 50% => không đạt
2.6. Phương pháp hạn chế sai số, hạn chế số nhiễu:
Tập huấn cho người thu thập thông tin cách hướng dẫn sinh viên trả lời các
câu hỏi.


Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Tỷ lệ
(%)

Giới tính

Nam
138
Nữ
361
Tổng
499
Khu vực
Nông thôn
434
Thành thị
65
Khối học
Năm thứ nhất
301
Năm cuối
198
Ngành học
Bác sỹ đa khoa
122
Bác sỹ răng hàm mặt
72
Bác sỹ y học dự phòng


số sinh viên nữ chiếm ưu thế với 72,3%. Sinh viên năm thứ nhất tham gia với
60,3%, sinh viên năm cuối là 39,7%. Trong đó ngành bác sỹ đa khoa chiếm tỷ
lệ cao nhất( 24,4%) và thấp nhất là ngành răng hàm mặt( 14,4%). Chủ yếu các
em xuất thân từ nông thôn ( 87%) và có điểm đầu vào đại học trong khoảng
21-25 điểm với 66,9% và lượng sinh viên có số điểm ≥25 là thấp nhất( 4%).
Biểu đồ 3.1. Sự tiếp cận của sinh viên với các nguồn thông tin ( n= 499):

21


Nhận xét: Tỷ lệ tiếp cận thông tin của sinh viên bằng phương pháp gián tiếp
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng nhìn chung cao hơn so với
phương pháp trực tiếp. Trong đó, tiếp cận qua tivi là cao nhất 91,4%; tiếp đến
là sách, báo, tờ rơi với 89,8%; loa truyền thanh (71,9%); đài (69,5%); CBYT
(71,5%); những người xung quanh (75,7%); và 0,4% chủ yếu là từ nguồn
internet.
3.1.2. Hiểu biết của sinh viên về HIV/AIDS (n=499):
Biểu đổ 3.2. Tỷ lệ hiểu biết chung của sinh viên về HIV/AIDS (n= 499):

22


Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ hiểu biết chung về HIV/AIDS của sinh viên
Nhận xét: đa số sinh viên có hiểu biết đúng về HIV/AIDS với tỷ lệ hiểu biết
chung là 84,4%, chỉ có số ít sinh viên (15,6%) còn chưa đạt yêu cầu.
Bảng 3.2. Hiểu biết của sinh viên về nguyên nhân gây HIV/AIDS ( n=499)
Kiến thức về HIV
Đã từng nghe đến HIV Đã từng
Chưa từng

Số lượng
499
0
125

Tỷ lệ (%)
100,0
0,0
25,1


Giai đoạn không triệu chứng
237
47,5
Giai đoạn AIDS
72
14,4
Không biết
65
13,0
Các
phương Quan hệ tình dục không an toàn
498
99,8
Đường máu
498
99,8
thức lây truyền
Mẹ truyền sang con
496

306
61,3
Cả 3 thời kỳ
190
38,1
Không biết
13
2,6
Nhận xét: bảng 3.4 cho thấy tỷ lệ hiểu biết toàn diện về cả 3 thời kỳ mẹ đều
có thể truyền virus HIV cho con còn rất thấp( 38,1%) mà hầu như chỉ biết
một, hai thời kỳ: cao nhất là trong khi sinh (74,1%), tiếp đến là thời kỳ mang
thai (69,9%) và cho con bú (61,3%), vẫn còn 2,6% không biết là thời kỳ nào.
Bảng 3.5. Hiểu biết của sinh viên về những đối tượng có nguy cơ lây nhiễm
dHIV/AIDS cao hơn những người khác (n=499)
Kiến thức
Người NCMT
Phụ nữ bán dâm
Trẻ sinh ra từ mẹ bị nhiễm HIV
Người mua dâm
Nhân viên y tế, cán bộ nhà giam, CSHS..
Người có nhiều bạn tình…
Những người thường xuyên phải truyền

Số lượng
496
485
401
442
191
321


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status