ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
SỞ Y TẾ
-----*-----
ĐỀ TÀI
KIẾN THỨC, KỸ NĂNG THỰC HÀNH TIÊM AN
TOÀN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA
HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG CẤP Y TẾ
TỈNH KON TUM NĂM 2016
Chủ nhiệm đề tài: ĐẶNG THỊ THANH THUỶ, Trường TCYT Kon Tum
Cộng sự:
LÊ THÀNH VINH, Trường TCYT Kon Tum
HOÀNG THỊ CHÚC, Trường TCYT Kon Tum
NGUYỄN THỊ HOÀI ANH, Trường TCYT Kon Tum
PHẠM THỊ KIM DUNG, Trường TCYT Kon Tum
Kon Tum - 2016
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Ban giám hiệu, các thầy cô giáo Trường Trung cấp Y tế tỉnh Kon Tum đã
quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu tại trường;
TS.BS Lê Trí Khải, người Thầy đã tận tâm truyền đạt những kiến thức,
TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...............................................................................................................3
1.1. Các định nghĩa và khái niệm sử dụng trong nghiên cứu ......................................................3
1.2. Các vấn đề về hướng dẫn, hỗ trợ nâng cao chất lượng thực hành tiêm an toàn .................6
1.3. Thực trạng thực hiện Tiêm an toàn........................................................................................9
1.4. Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu ...............................................................................14
Chương 2 ......................................................................................................................................17
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................................17
2.1. Đối tượng nghiên cứu ...........................................................................................................17
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ........................................................................................17
2.3. Thiết kế nghiên cứu...............................................................................................................17
2.4. Xác định cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu ......................................................................17
2.5. Các biến số, chỉ số nghiên cứu: ................................................................ 18
2.6. Phương pháp thu thập số liệu ...............................................................................................24
2.6. Các biến số nghiên cứu (chi tiết xem Phụ lục 1) ..................... Error! Bookmark not defined.
2.7. Tiêu chuẩn đánh giá .............................................................................................................25
2.8. Phương pháp phân tích số liệu .............................................................................................27
2.9. Đạo đức nghiên cứu ..............................................................................................................27
2.10. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai sốError! Bookmark not defined.
Chương 3 ......................................................................................................................................28
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...........................................................................................................28
3.1. Thông tin chung ........................................................................................ 28
3.2. Kiến thức về Tiêm an toàn của học sinh ................................................... 28
3.3. Thực hành Tiêm an toàn ........................................................................... 37
3.4. Tổng hợp kỹ năng thực hành Tiêm an toàn đạt ........................................ 38
3.5. Một số yếu tố liên quan đến thực hành Tiêm an toàn ............................... 39
Chương 4 ......................................................................................................................................41
BÀN LUẬN ...................................................................................................................................41
Bơm tiêm
CTSN
Chất thải sắc nhọn
ĐTV
Điều tra viên
HS
KBCB
KT
KSNK
NB
NVYT
SK
TAT
TTCYT
Học sinh
Khám bệnh, chữa bệnh
Kim tiêm
Kiểm soát nhiễm khuẩn
Người bệnh
Nhân viên y tế
Sát khuẩn
Tiêm an toàn
Trường Trung cấp Y tế
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành TAT ………………..……51
vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tổng hợp kiến thức đạt về TAT của học sinh………………………..36
Biểu đồ 3.2. Kết quả tổng hợp đạt về thực hành TAT……………………………..39
vii
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tiêm là một trong các biện pháp để đưa thuốc, chất dinh dưỡng vào cơ thể
nhằm mục đích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh. Theo báo cáo của tổ chức Y tế
thế giới, mỗi năm có khoảng 16 tỉ mũi tiêm.Trong đó, khoảng 20 -50% mũi tiêm ở
các nước đang phát triển là chưa đạt tiêu chí mũi tiêm an toàn. Hàng năm thiệt hại
do tiêm không an toàn gây ra được ước tính khoảng 535 triệu USD và 1,3 triệu
người chết do tiêm không an toàn. Hơn nữa, tiêm không an toàn còn làm lây truyền
các bệnh: viêm gan B, viêm gan C và lây nhiễm HIV... Tại Việt Nam, hậu quả do
những mũi tiêm không an toàn tại các cơ sở y tế đã gây ra hậu quả làm ảnh hưởng
đến tính mạng, sức khỏe của không những người bệnh mà còn ảnh hưởng đến nhân
viên y tế và cả cộng đồng. Trước thực trạng đó, Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn
Tiêm an toàn tại Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 nhằm
cung cấp những kiến thức và kỹ năng trong thực hành TAT để triển khai áp dụng
thống nhất trong tất cả các cơ sở KBCB, cơ sở đào tạo cán bộ y tế và các cá nhân
liên quan. Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu“Kiến thức, kỹ năng thực hành
tiêm an toàn và một số yếu tố liên quan của học sinh trường Trung cấp Y tế tỉnh
Kon Tum năm 2016”. Với mục tiêu là: (1). Mô tả kiến thức và kỹ năng thực hành
an toàn. Hơn thế nữa, tiêm không an toàn còn làm lây truyền các bệnh: viêm gan B,
viêm gan C và lây nhiễm HIV... Cụ thể, năm 2000, tiêm không an toàn là nguyên
nhân dẫn đến 21 triệu người nhiễm bệnh viêm gan B, 2 triệu người nhiễm viêm gan
C và 260 nghìn người nhiễm HIV. Có thể thấy rằng tiêm là kỹ thuật có vai trò rất
quan trọng trong công tác khám bệnh, chữa bệnh (KBCB) tại các cơ sở y tế, vì thế
tiêm không đúng kỹ thuật có thể gây ra những nguy cơ có hại đối với cơ thể người
bệnh, nhân viên y tế và toàn thể cộng đồng [3].
Tại Việt Nam, hậu quả do những mũi tiêm không an toàn tại các cơ sở y tế
đã gây ra hậu quả làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của không những người
bệnh (NB) mà còn ảnh hưởng đến nhân viên y tế (NVYT) và cả cộng đồng. Điều
này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng KBCB và uy tín của ngành y tế. Theo
nghiên cứu của thạc sĩ Phạm Đức Mục về vấn đề rủi ro gây ra tai biến do tiêm
không an toàn chiếm 29,2%. Theo kết quả nghiên cứu về thực hiện kỹ thuật tiêm tại
các bệnh viện thuộc khu vực thành phố Hà nội: tỉ lệ điều dưỡng viên (ĐDV) không
rửa tay trước khi tiêm là 55,6%, dùng panh không đảm bảo vô khuẩn là 36%, không
sát khuẩn ống thuốc trước khi lấy thuốc là 34%, dùng tay để tháo lắp kim tiêm (KT)
là 20,4% [14]. Hơn nữa, vấn đề bất cập hiện nay là tài liệu đào tạo TAT tại các
trường đào tạo NVYT chưa thống nhất, đặc biệt là điều kiện thực hành tại các cơ sở
thực hành chưa đáp ứng đúng và đủ để thực hành TAT. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra
2
rằng kiến thức và thực hành TAT của ĐDV tại các BV còn nhiều hạn chế.
Vì vậy, trước thực trạng đó, Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn Tiêm an toàn
tại Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 nhằm cung cấp những
kiến thức và kỹ năng trong thực hành TAT để triển khai áp dụng thống nhất trong
tất cả các cơ sở KBCB, cơ sở đào tạo cán bộ y tế và các cá nhân liên quan. Trường
trung học y tế (TTHYT) tỉnh Kon Tum là đơn vị trực thuộc sở y tế tỉnh Kon Tum
cũng đã triển khai việc dạy kiến thức, kỹ năng và thái độ trong công tác thực hành
đúng các bước của quy trình tiêm; các chất thải, đặc biệt là chất thải sắc nhọn
(CTSN) sau khi tiêm không phân loại và cô lập ngay theo quy chế quản lý chất thải
của Bộ Y tế [3].
Chất sát khuẩn
Các chất chống vi khuẩn (ngăn ngừa nhiễm khuẩn với mô sống hoặc da).
Chất này khác với chất kháng sinh sử dụng để tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển
của vi khuẩn một cách đặc hiệu và khác với chất khử khuẩn dụng cụ. Một số loại
chất sát khuẩn (SK) là chất diệt khuẩn thực sự, có khả năng tiêu diệt vi khuẩn trong
khi một số loại chất SK khác chỉ có tính năng kìm hãm, ngăn ngừa và ức chế sự phát
triển của chúng [3].
Dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn
Dịch pha chế có chứa cồn dưới dạng chất lỏng, gel hoặc kem bọt dùng để
xoa/chà tay nhằm tiêu diệt hoặc làm giảm sự phát triển của vi sinh vật. Các loại
dung dịch này có thể chứa một hoặc nhiều loại cồn pha theo công thức được công
nhận của các hãng dược phẩm.
4
Dự phòng sau phơi nhiễm
Biện pháp ngăn ngừa lây truyền các tác nhân gây bệnh đường máu sau phơi nhiễm.
Đậy nắp kim tiêm bằng hai tay
Kỹ thuật đậy nắp kim một tay: nhân viên y tế cầm bơm kim tiêm bằng một
tay và đưa đầu nhọn của kim vào phần nắp đặt trên một mặt phẳng sau đó dùng hai
tay đậy lại [3].
Kỹ thuật vô khuẩn
Là các kỹ thuật không làm phát sinh sự lan truyền của vi khuẩn trong quá
trình thực hiện như: vệ sinh tay (VST), mang trang phục phòng hộ cá nhân, sử dụng
chất khử khuẩn da, cách mở các bao gói vô khuẩn, cách sử dụng dụng cụ vô khuẩn
[3].
ngoài cánh tay (đường nối từ mỏm vai đến mỏm khuỷu chia làm 3 phần) hay 1/3
giữa mặt trước ngoài đùi (đường nối từ gai chậu trước trên đến bờ ngoài xương
bánh chè) hoặc dưới da bụng (xung quanh rốn, cách rốn 5 cm) [3].
Tiêm, truyền tĩnh mạch
0
Là kỹ thuật dùng kim đưa thuốc, dịch vào tĩnh mạch với góc tiêm 30 so với
mặt da. Khi tiêm chọn tĩnh mạch nổi rõ, mềm mại, không di động, da vùng tiêm
nguyên vẹn.
Tiêm trong da
0
Mũi tiêm nông giữa lớp thượng bì và hạ bì, đâm kim chếch với mặt da 10 0
15 , tiêm xong tạo thành một cục sẩn như da cam trên mặt da. Thường chọn vùng
da mỏng, ít va chạm, trắng, không sẹo, không có lông, vị trí 1/3 trên mặt trước
trong cẳng tay, đường nối từ nếp gấp cổ tay đến nếp gấp khuỷu tay (thông dụng
nhất), 1/3 trên mặt ngoài cánh tay (đường nối từ mỏm vai đến mỏm khuỷu), bả vai,
cơ ngực lớn.
Vật sắc nhọn
Bất cứ vật nào có thể gây tổn thương xâm lấn da hoặc qua da; vật sắc nhọn
bao gồm kim tiêm đầu kim truyền dịch dao mổ thủy tinh vỡ ống mao dẫn bị vỡ
và đầu dây nẹp nha khoa bị phơi nhiễm.
Thùng đựng chất thải sắc nhọn
Còn gọi là “hộp đựng chất thải sắc nhọn (CTSN)”, “hộp kháng thủng” hay
“hộp an toàn”. Hộp đựng CTSN được sản xuất bằng chất liệu cứng, chống thủng,
chống rò rỉ được thiết kế để chứa CTSN một cách an toàn trong quá trình thu gom,
hủy bỏ và tiêu hủy. Thùng (hộp) này phải được thiết kế và quản lý theo đúng Quy
chế Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế [4].
Xử lý các vật sắc nhọn sau khi tiêm
viên khắc phục những khó khăn nhưng đồng thời thúc đẩy các nước này vào khuôn
khổ trách nhiệm trước sự an toàn trong chăm sóc y tế. Mục đích của SIGN là giảm
tần số tiêm và thực hiện TAT, cải thiện chính sách, quy trình kỹ thuật tiêm, thay đổi
hành vi của người sử dụng và người cung cấp dịch vụ tiêm. Có 5 nội dung chính
7
trong chính sách TAT: áp dụng hợp lý các biện pháp điều trị tiêm; ngăn ngừa việc sử
dụng lại bơm tiêm và kim tiêm; hủy bơm tiêm và kim tiêm đã qua sử dụng ngay tại
nơi sử dụng; phân tách chất thải ngay tại nơi phát sinh chất thải; xử lý an toàn và
tiêu hủy dụng cụ tiêm đã qua sử dụng. Các tổ chức trên cũng đã xây dựng Chiến
lược toàn cầu vì mũi TAT bao gồm:
- Thay đổi hành vi của cán bộ y tế, NB và cộng đồng.
- Đảm bảo có sẵn vật tư, trang thiết bị.
- Quản lý chất thải an toàn và thích hợp.
Từ đó đến nay, SIGN đã xây dựng và ban hành chiến lược an toàn trong tiêm
trên toàn thế giới và nhiều tài liệu hướng dẫn liên quan đến tiêm. Với chính sách
của SIGN đã tạo ra một sự thay đổi lớn trong nhận thức, hành vi của NB và cộng
đồng, đặc biệt với chiến dịch hỗ trợ về truyền thông, kỹ thuật và thiết bị cho các
nước chậm phát triển đã dần nâng cao tỷ lệ TAT và góp phần giảm thiểu các nguy
cơ và gánh nặng của tiêm không an toàn tại mỗi quốc gia và trên toàn thế giới [3].
1.2.2. Tại Việt Nam
1.2.2.1. Ban hành tài liệu hướng dẫn tiêm an toàn
Thực hiện khuyến cáo và được sự hỗ trợ kỹ thuật của WHO, năm 2010, Bộ
trưởng Bộ Y tế Việt Nam ra Quyết định số 2642/QĐ-BYT ngày 21 tháng 7 năm
2011 thành lập Ban soạn thảo các tài liệu hướng dẫn KSNK, trong đó có Hướng
dẫn TAT. Ban soạn thảo tài liệu gồm các thành viên có kinh nghiệm lâm sàng,
giảng dạy và quản lý liên quan đến tiêm như ĐDV, Bác sĩ, Dược sĩ, Chuyên gia
KSNK, Chuyên gia quản lý khám, chữa bệnh và đại diện Hội Điều dưỡng Việt
tế sử dụng tài liệu này để cập nhật chương trình, tài liệu đào tạo.
- Các cá nhân liên quan đến thực hành tiêm, cung ứng phương tiện và thuốc
tiêm, các nhân viên thu gom chất thải y tế sử dụng tài liệu này trong thực hành, kiểm
tra, giám sát nội dung tiêm, truyền tĩnh mạch ngoại vi.
Ngày 02 tháng 8 năm 2013, Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế cũng đã
có Công văn số 671/KCB-ĐDV yêu cầu các đơn vị trực thuộc trong toàn quốc tổ
chức, thực hiện nghiêm túc Hướng dẫn TAT. Sở Y tế Hà Nội là cơ quan chuyên
môn thuộc UBND thành phố Hà Nội, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm
tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Y tế. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Y tế, Sở Y tế
Hà Nội đã có Công văn số 2369 ngày 19 tháng 8 năm 2013 yêu cầu các BV trực
thuộc triển khai thực hiện Hướng dẫn TAT [3].
1.2.2.2. Mục đích và phạm vi áp dụng của tài liệu hướng dẫn
9
Tài liệu hướng dẫn này nhằm cung cấp những chỉ dẫn an toàn trong thực
hành tiêm tới các cơ sở KBCB, cơ sở đào tạo cán bộ y tế và các cá nhân liên quan
bao gồm điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên y học, bác sĩ, giáo viên
hướng dẫn thực hành tiêm tại các cơ sở đào tạo y khoa [3].
1.2.2.3.Đối tượng sử dụng tài liệu hướng dẫn
Tài liệu này sử dụng để hướng dẫn đào tạo và hướng dẫn thực hành cho tất
cả nhân viên y tế - người thực hiện tiêm truyền tĩnh mạch và lấy máu nhân viên thu
gom chất thải y tế. Tuy nhiên tài liệu này cũng hữu ích đối với các bác sĩ, dược sĩ
các điều dưỡng trưởng, nhân viên mạng lưới KSNK, và nhân viên phụ trách mua
sắm dụng cụ tiêm và vật tư y tế khác và cả nh ng cán bộ giáo viên đào tạo sinh viên
y khoa điều dưỡng và nhân viên y tế [3].
1.2.2.4. Các giải pháp tăng cường thực hành tiêm an toàn
Có 6 nhóm giải pháp chính để tăng cường thực hành TAT, bao gồm:
- Giảm hoặc loại bỏ các mũi tiêm không cần thiết
dụng tiêm truyền cũng được các nghiên cứu chỉ ra [8], [11], [12],[16].
Nguyên nhân dẫn đến lạm dụng tiêm bắt nguồn từ cả phía người được tiêm,
người tiêm và cộng đồng. Thật vây, người được tiêm vẫn còn thiếu thông tin về
những nguy hại do tiêm truyền. Ngoài ra, người được tiêm có niềm tin rằng khi
được tiêm truyền thì tác dụng sẽ nhanh hơn và hiệu quả hơn đường uống hay các
đường khác. Bên cạnh đó bác sỹ cũng kê đơn lạm dụng thuốc tiêm để làm hài lòng
NB và khoản lợi nhuận từ thuốc tiêm cao hơn.
1.3.2. Thực trạng cung cấp trang thiết bị, phương tiện phục vụ tiêm
Nhiều quốc gia chưa thực sự quan tâm đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác
tiêm an toàn nhằm bảo đảm an toàn cho nhân viên y tế và cộng đồng. Thiếu phương
tiện, dụng cụ tiêm hoặc phương tiện, dụng cụ tiêm không phù hợp. Thiếu BKT hoặc
BKT không phù hợp về mặt kích cỡ, chủng loại hay không bảo đảm chất lượng cho
việc tái sử dụng. Một số cơ sở y tế dùng chung BKT cho những loại thuốc khác
nhau, cho những NB khác nhau, dùng một kim lấy thuốc để pha thuốc và rút thuốc
nhiều lần [9]. Theo một nghiên cứu năm 2006 của Janjua tại một bệnh viện ở
Pakistan gần 60% BKT qua sử dụng chưa xử lý tốt được thải ra môi trường và 25%
trong số đó còn thải ra môi trường đô thị [10].
Tại Việt Nam, thiếu các phương tiện vệ sinh tay: Không đủ bồn rửa tay tại
các buồng bệnh, buồng thủ thuật, không cung cấp đủ nước, xà phòng, khăn lau tay
sạch hoặc dung dịch SK tay nhanh có chứa cồn làm ảnh hưởng đến quy trình TAT
11
của ĐDV. Giải pháp trang bị đủ các phương tiện vệ sinh tay như lắp đặt đủ các bồn
rửa tay ở buồng bệnh, buồng thủ thuật; cung cấp đủ nước, xà phòng, khăn lau tay
sạch cho mỗi lần rửa tay hoặc dung dịch SK tay nhanh có chứa cồn treo hoặc đặt
sẵn trên các xe tiêm đã được đề cập đến trong Hướng dẫn TAT của Bộ Y tế [4], [21].
Thiếu các phương tiện thu gom chất thải y tế sau tiêm theo đúng quy định tại
Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế ban hành Quy chế
các thao tác KSNK trong thực hành tiêm (vệ sinh tay, mang găng, sử dụng panh,
phân loại và thu gom vật sắc nhọn sau tiêm, dùng tay để đậy nắp kim sau tiêm…),
chưa báo cáo và theo dõi rủi ro do vật sắc nhọn (87,7%) [3]. Theo nghiên cứu của
Paul năm 2011 tại Ấn Độ, chỉ có khoảng 60% điều dưỡng thực hiện đúng các thao
tác tiêm an toàn, và 41,2% BKT sau sử dụng được điều dưỡng xử lý đúng[13].
Hiện tại, thực hành tiêm của ĐDV tại các BV rất khác nhau và một số thực
hành chưa phù hợp. Thiếu kiến thức về phân loại chất thải sau tiêm: sau khi tiêm
xong, dùng tay để tháo BKT bằng tay; bẻ cong kim tiêm; đậy nắp kim tiêm; không
rửa tay sau khi tiêm; không lường trước được những phản ứng bất ngờ của NB đặc
biệt là đối với những bệnh nhi, NB có những rối loạn về tâm thần hay những NB
bất hợp tác [3].
Thu gom BKT đã sử dụng để tái sử dụng hoặc bán ra thị trường bên ngoài
theo những cách không an toàn. Những sai phạm này là hết sức trầm trọng bởi
chúng có thể gây hại cho cộng đồng dân cư rộng lớn. Thải bỏ BKT bừa bãi ra môi
trường. Tiêu hủy không đúng cách như thiêu đốt gây ô nhiễm không khí, tạo ra
những chất sau tiêu hủy chưa thực sự an toàn hoặc chôn lấp không đạt tiêu chuẩn,
không đúng độ sâu gây hại cho những người khác [21].
Tình trạng quá tải NB, quá tải công việc đang là những rào cản lớn đối với
việc thực hiện TAT. Tình trạng thiếu nhân lực, bố trí công việc không hợp lý khiến
ĐDV phải thực hiện quá nhiều công việc dưới nhiều áp lực và việc tuân thủ TAT
không được thực thi một cách toàn diện. Điều này không chỉ ở Việt Nam mà còn xảy ra
ở nhiều nước phát triển trên thế giới [7].
Ngoài ra, công tác quản lý chưa hiệu quả: thiếu kiểm tra giám sát, thiếu chế
tài thưởng phạt, chưa tạo phong trào thi đua, tạo môi trường điều kiện thuận lợi cho
TAT[6]. Năm 2012, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Hướng dẫn TAT với nhiều nội
dung cập nhật so với quy trình tiêm hiện đang được thực hiện và yêu cầu triển khai
thực hiện tại tất cả các BV trong toàn quốc nhằm bảo đảm thực hiện mũi tiêm an
toàn cho người nhận mũi tiêm, người tiêm và cộng đồng. Đến nay nhiều BV đã cập
nguy hại cho cộng đồng thường xẩy ra khi những dụng cụ sau tiêm không được xử
14
lý an toàn và khi cộng đồng nhặt và sử dụng lại bơm kim tiêm đã sử dụng, những
tổn thương có thể xẩy ra, hoặc khi thiêu đốt không an toàn có thể gây ra những nguy
hại cho môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng.
1.4. Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu
1.4.1. Bệnh viện đa khoa tỉnh (gọi tắt là Bệnh viện tỉnh)
Bệnh viện Kon Tum được thành lập năm 1990, từ một Bệnh viện đa khoa
khu vực với quy mô nhỏ, trang thiết bị y tế nghèo nàn, lạc hậu; trải qua nhiều giai
đoạn, vượt qua thời gian bao khó khăn, nhờ sự quan tâm của Ngành chủ quản, các
cấp Chính quyền đã dần từng bước phát triển, rút ngắn khoảng cách về mọi mặt so
với các bệnh viện tuyến tỉnh trong khu vực Tây Nguyên và lân cận. Đến nay là một
bệnh viện tuyến tỉnh hạng II với quy mô 480 giường bệnh, phấn đấu trở thành Bệnh
viện hạng I trực thuộc tỉnh vào năm 2020. Trong những năm qua, Bệnh viện tỉnh
nhờ sự đoàn kết của tập thể Lãnh đạo, các Đoàn thể và toàn thể CBVC-NVYT thực
hiện tốt nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước giao phó là chăm sóc bảo vệ sức
khỏe nhân dân, là nơi mà mọi tầng lớp nhân dân gửi gắm sức khỏe, tính mạng khi
gặp hoạn nạn ốm đau …
Trong nhiều năm qua, trung bình mỗi năm thực hiện được hơn 25.000 lượt
điều trị nội trú, hơn 145.000 lượt điều trị ngoại trú, 8000 lượt phẫu thuật… tất cả
đều đạt và vượt mức chỉ tiêu kế hoạch được giao, thực hiện nhiều kỹ thuật khó, kỹ
thuật tuyến trên, kỹ thuật mới giúp người bệnh không phải chuyển tuyến, góp phần
đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân tỉnh nhà, tiết kiệm chi phí cho gia
đình khi phải chăm nuôi người nhà tại bệnh viện tuyến trên.
Một số kỹ thuật cao, kỹ thuật mới đã được triển khai duy trì, phát huy hiệu
quả đó là (1) Hệ ngoại – sản: Phẫu thuật thay khớp, nội soi khớp, thần kinh sọ não,
lồng ngực, phẫu thuật nhi khoa, phẫu thuật nội soi tiết niệu, phẫu thuật nội soi phụ
tuyến được tham dự các khoá đào tạo lại, các lớp tập huấn ngắn ngày do trung
ương, Trường Trung cấp Y tế tỉnh và các chương trình, dự án tổ chức, giúp cho họ
không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật kiến thức mới để đảm nhận
nhiệm vụ ngày càng tốt hơn.
Liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và
Huế:
Để có cán bộ có trình độ đại học về công tác tại tuyến xã, sau khi được UBND
tỉnh đồng ý, ngành y tế tỉnh Kon Tum đã chủ động ký các hợp đồng đào tạo bác sỹ
hệ 07 năm (năm đầu học dự bị đại học) với các cơ sở đào tạo có uy tín như Đại học
16
Y khoa Huế, Học viện Quân y Hà Nội. Khóa bác sỹ đầu tiên (2001 - 2008), đào tạo
bằng ngân sách của tỉnh, các khóa sau đó nguồn kinh phí là của dự án đào tạo Bác
sỹ cho Tây Nguyên của nhà nước. Hình thức tuyển sinh là "đào tạo theo địa chỉ" nghĩa là cử tuyển các em học sinh có hộ khẩu tại tỉnh Kon Tum đi học, sau đó các
em về phục vụ tại địa phương - nơi các em được cử đi học. Các năm sau Ngành tiếp
tục liên kết đào tạo Bác sỹ cho xã theo phương thức trên cho đến năm 2010 và
những năm sau này...
Ngoài hình thức hợp đồng đào tạo trên, để giúp đội ngũ cán bộ y tế được nâng
cao trình độ chuyên môn, ngành y tế đã triển khai nhiều mô hình học tập nâng cao
trình độ cho cán bộ ở các tuyến. Năm 2005, tiến hành đào tạo mới theo địa chỉ 30 y
sỹ sản nhi, 30 điều dưỡng trung học, 30 y tá điều dưỡng và 120 nhân viên y tế thôn,
làng. Năm 2006, Sở y tế phối hợp với Trường Cao đẳng kỹ thuật y tế II - Bộ Y tế
tuyển sinh 30 dược sỹ trung học hệ không chính quy (vừa học vừa làm) niên khoá
2006-2009. Đồng thời, ngành y tế đã tiến hành tuyển chọn và gửi 23 nhân viên y tế
thôn, làng là người dân tộc thiểu số đi đào tạo lớp nữ hộ sinh viên thôn làng tại bệnh
viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian 06 tháng; 24 em học sinh đào
tạo bác sỹ cử tuyển tại Học viện Quân y - Bộ Quốc phòng, niên khoá 2005-2012
theo dự án "Đào tạo Bác sỹ cho các tỉnh Tây Nguyên" của Bộ Y tế. Tổ chức các lớp
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 03 đến tháng 08 năm 2016.
- Địa điểm: Các khoa lâm sàng: Nội, Sản, Nhi tại bệnh viện đa khoa tỉnh Kon
Tum.
2.3. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.4. Xác định cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Mẫu nghiên cứu là 134 HS trực tiếp thực hành tiêm và đồng ý tham gia tại
thời điểm nghiên cứu của 3 khoa ( Nội, Sản và Nhi) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon
Tum.
- Qua tham khảo một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành TAT tại Việt
Nam, đa số các nghiên cứu quan sát 01 hoặc 02 mũi tiêm trên 1 đối tượng nên