Thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố liên quan của cha mẹ về chăm sóc răng miệng ở trẻ 3 5 tuổi tại trường mầm non phương canh – quận nam từ liêm hà nội, năm 2016 - Pdf 37

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sâu răng là một trong những bệnh răng miệng có tỷ lệ mắc cao,
theo tổ chức y tế thế giới (WHO) tỷ lệ mắc bệnh sâu răng đứng thứ 4 sau bệnh
về tim mạch, ung thư và AIDS [1].
Tỷ lệ sâu răng ở trẻ nhỏ khác nhau ở các nước khác nhau, ở Saudi
Arabia là 74,8% [2], Ả Rập là 72,5% [3], ở Pakistan là 51% [4], ở Mỹ là 28%
[5] và ở Autralia là 33,4% [6]. Sự khác nhau về tỷ lệ này được giải thích do
sự chênh lệch về điều kiện kinh tế, chế độ ăn uống, lối sống, cũng như thái độ
của cha mẹ về việc dự phòng sâu răng cho trẻ và việc thực hiện chính sách dự
phòng fluor hiệu quả ở một số quốc gia [7],[8],[9]. Ở Việt Nam, theo kết quả
điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc (năm 1999-2001), tỷ lệ sâu răng sữa ở
trẻ em độ tuổi 6–8 tuổi là 84,9% [10].
Bệnh sâu răng thường xuất hiện sớm, gặp ở cả răng sữa và răng vĩnh
viễn gây đau đớn cho người bệnh. Tuy nhiên sâu răng sữa không chỉ gây đau
mà còn làm cho trẻ nhai kém, biếng ăn, mất ngủ ảnh hưởng đến sự phát triển
thế chất, ảnh hưởng đến vị trí mọc răng vĩnh viễn, và sai khớp cắn. Sâu răng
sữa còn có thể gây mất răng sữa sớm làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chức
năng ăn nhai của trẻ [11].
Chi phí cho chăm sóc nha khoa lớn đứng thứ 4 sau chi phí dành cho
điều trị các bệnh về máu, các bệnh thần kinh và các bệnh về hô hấp và chiếm
khoảng 28,3% chi phí điều trị ngoại trú, tuy nhiên nhận thức trong cộng đồng
về chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ vẫn chưa đầy đủ vì thống kê cho
thấy phần chi phí chăm sóc nha khoa của trẻ em dưới 6 tuổi chỉ có 4% [12].
Sự phát triển răng miệng cũng như phòng ngừa bệnh sâu răng cho trẻ
từ 3-5 tuổi phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thái độ và thực hành của cha mẹ


2
trong hướng dẫn, giám sát cách chải răng của trẻ, khám định kỳ răng miệng

đặn hơn và đục hơn.
• Gờ cổ răng nhô cao (nhất là mặt ngoài).
• Trụ men ở cổ răng nghiêng về phía mặt nhai (thay vì về phía lợi như
ở răng vĩnh viễn).
• Cổ răng thắt lại rõ rệt và thu hẹp hơn.
• Vùng tiếp xúc của răng cối sữa rộng hơn (tiếp xúc diện).
• Thành phần chất khoáng gần giống răng vĩnh viễn nhưng tỷ lệ chất
hữu cơ và nước nhiều hơn, chất vô cơ ít hơn.
1.1.2. Chân răng
• Chân răng sữa về mặt tỷ lệ mảnh hơn và dài hơn so với răng vĩnh
viễn tương ứng và kết thúc bởi một chóp răng nhọn. Chân răng hẹp theo chiều
gần xa hơn chiều ngoài trong.
• Chân răng cửa sữa không nghiêng về phía tiền đình (môi, ngoài).


4
• Chân răng tách ra ở gần cổ răng hơn, tạo chỗ cho mầm răng vĩnh
viễn bên dưới phát triển và sau đó cong chụm lại ở phía chóp răng. Sự phân kì
tăng nhờ cổ răng bị hẹp.
1.1.3. Tủy răng (hình thể trong)
• Sàn tủy lồi hơn và nằm sâu trong thân răng hơn, do vậy lớp ngà ở
mặt nhai dày hơn.
• Thể tích buồng tủy lớn hơn răng vĩnh viễn, ống tủy rộng hơn.
• Sừng tủy nằm gần đường nối men ngà hơn.
• Sừng tủy phía gần lên cao hơn sừng tủy phía xa.
• Buồng tủy răng cối dưới lớn hơn răng cối trên.
• Có nhiều ống tủy phụ đi từ sàn buồng tủy đến vùng chẽ chân răng.

Hình 1.1. Sự khác biệt về hình thể răng sữa và răng vĩnh viễn
A:

• Thẩm mỹ.
1.3. Bệnh sâu răng
1.3.1. Định nghĩa
Tại hội nghị quốc tế về sâu răng lần thứ 50 năm 2003, các tác giả đều
thống nhất: sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức canxi hóa, được đặc
trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu
cơ của mô cứng. Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hóa
lý liên quan đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng,
đồng thời là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ
của vật chủ. Quá trình này diễn biến liên tục, nhưng giai đoạn sớm có thể
hoàn nguyên và giai đoạn muộn không thể hoàn nguyên [16],[17].
1.3.2. Bệnh căn của bệnh sâu răng
Sâu răng gần như là một bệnh mắc phải do điều kiện môi trường, vì vậy
các yếu tố tại chỗ là nguyên nhân cơ bản và chủ yếu của bệnh sâu răng, còn
nguyên nhân tổng quát chỉ là yếu tố nguy cơ [18],[19].


6
• Vai trò của vi khuẩn và mảng bám răng:
+ Mảng bám có vai trò quan trọng trong bệnh nguyên bệnh sâu răng do
các acid sinh ra từ các chất trong mảng bám sẽ phá hủy men răng.
+ Một số vi khuẩn có khả năng gây bệnh sâu răng: Streptococus
mutans, S.sanguis, S.mitis, S.oralis, các loại Actinomyces và Lactobacillus.
• Vai trò của đường: sự lên men của đường có vai trò lớn trong việc
gây bệnh sâu răng. Sự liên quan trực tiếp giữa chế độ ăn đường và tỷ lệ bệnh
sâu răng phụ thuộc vào cách thức, tần suất ăn đường hơn là tổng lượng đường
tiêu thụ của mỗi cá thể.
Các yếu tố khác:
+ Các yếu tố nội sinh như: men răng thiểu sản hay men răng kém
khoáng hóa có thể ảnh hưởng đến tiến triển tổn thương sâu răng nhưng không

hóa Carbohydrate của vi khuẩn mảng bám trên bề mặt răng, hay quá trình sâu
răng bắt đầu từ khi các yếu tố gây mất ổn định mạnh hơn các yếu tố bảo vệ.


8

Hình 1.2. Các yếu tố gây mất ổn định và ổn định sâu răng
1.3.4. Phân loại bệnh sâu răng
Những hiểu biết và cách điều trị bệnh sâu răng ngày càng phát triển. Ngày
nay, chúng ta có thể điều trị sớm những tổn thương sâu răng bằng cách không
xâm lấn như tái khoáng hóa, tránh việc điều trị can thiệp như hàn răng. Để
thực hiện được điều này thì nắm được phân loại và những khái niệm về bệnh
sâu răng là rất cần thiết [20],[21].
1.3.4.1. Phân loại theo Black

Hình 1.3. Phân loại sâu răng theo Black


9
•Classe 1: sâu ở vị trí các hố rãnh của răng.
•Classe 2: sâu ở mặt bên các răng hàm.
•Classe 3: sâu mặt bên các răng cửa nhưng chưa có tổn thương rìa cắn.
•Classe 4: sâu mặt bên các răng cửa có tổn thương rìa cắn.
•Classe 5: sâu cổ răng.
•Classe 6: sâu răng ở vị trí rìa cắn răng cửa hoặc đỉnh múi răng hàm.
1.3.4.2. Phân loại theo vị trí và kích thước
Bảng 1.1. Phân loại sâu răng theo vị trí và kích thước [20].
Kích thước
Trung bình
Rộng

3,1

3,2

3,3

3,4

Rất rộng
1,4

• Vị trí:
Vị trí 1: tổn thương ở hố rãnh các mặt nhẵn.
Vị trí 2: tổn thương kết hợp với mặt tiếp giáp.
Vị trí 3: sâu cổ răng và chân răng.
• Kích thước:
Kích thước 1: tổn thương nhỏ, vừa mới ở ngà răng, cần điều trị phục
hồi, không thể tái khoáng.
Kích thước 2: tổn thương ở mức độ trung bình, liên quan đến ngà răng,
thành lỗ sâu.
Kích thước 3: tổn thương rộng, thành không đủ hoặc nguy cơ vỡ, cần
phải có các phương tiện lưu giữ cơ sinh học.


10
Kích thước 4: tổn thương rất rộng làm mất cấu trúc răng, cần phải có
phương tiện lưu giữ cơ học hoặc phục hình.
1.3.4.3. Phân loại theo Lubetzki : phân loại theo mức độ
•Độ 1: sâu men.
•Độ 2: sâu men và sâu ngà.

kinh tế cao:
David và CS nghiên cứu cho trẻ em nghèo có nguy cơ sâu răng cao gấp
1,7 lần trẻ em có điều kiện kinh tế gia đình đầy đủ [22].
Okullo và CS qua nghiên cứu cho kết quả những học sinh ở nội thành
được chăm sóc răng miệng tốt hơn nên ít bị mất răng hơn học sinh ở vùng
nông thôn. Những học sinh bố mẹ có trình độ văn hóa cao, ít bị hủ tục, tập
quán chi phối thì có tình trạng răng miệng tốt hơn [23].
Ngoài ra các yếu tố nội sinh, ngoại sinh cũng ảnh hưởng tới sâu răng [24].

1.3.6.2. Nhóm nguy cơ về tập quán ăn uống


12
Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu các thói quen ăn uống
liên quan đến bệnh sâu răng ở trẻ em như: tần suất sử dụng đồ ngọt, thức ăn, đồ
uống có nhiều đường, ăn thêm các bữa trong ngày, và buổi tối, tiền sử bú bình…
Theo Trần Văn Trường và CS, tỷ lệ trẻ em sử dụng đồ uống có ga, có
đường, ăn bánh kẹo, đồ ngọt, bổ sung đường vào đồ ăn là phổ biến, và đó là
một trong những yếu tố nguy cơ làm tăng bệnh sâu răng [11].
Chế độ dinh dưỡng của trẻ hàng ngày, cũng ảnh hưởng đến bệnh sâu
răng [24].
1.3.6.3. Nhóm yếu tố nguy cơ về chăm sóc, vệ sinh răng miệng
Một số tác giả đã nghiên cứu về các yếu tố chăm sóc, VSRM như: thời
điểm bắt đầu chải răng, cách chải răng, khám răng định kỳ, số lần chải răng
trong ngày…cho kết quả có một số yếu tố có thể có sự liên quan giữa chăm
sóc, VSRM với sâu răng.
1.4. Những nghiên cứu về sâu răng sữa
1.4.1. Những nghiên cứu trên thế giới
Bệnh sâu răng đang ngày càng dành được sự quan tâm của các tác giả
trên thế giới. Các nghiên cứu về dịch tễ học sâu răng thường đánh giá dựa vào

sẽ ảnh hưởng đến răng vĩnh viễn đó là nguy cơ sâu răng ở răng vĩnh viễn, nếu
không áp dụng biện pháp phòng ngừa sớm [32].
Tại Đông Nam Á, nghiên cứu ở Thái Lan năm 2000 tỷ lệ sâu răng ở
tuổi 12 là 58 – 80% [33].
1.4.2. Những nghiên cứu bệnh sâu răng ở Việt Nam
Cũng như các nước phát triển, tỷ lệ sâu răng ở Việt Nam cũng rất cao,
có chiều hướng gia tăng nhất là các vùng nông thôn, những nơi nha học
đường (NHĐ) hoạt động chưa hiệu quả. Theo kết quả điều tra ở Việt Nam tỷ
lệ mắc bệnh sâu răng chiếm 50 – 90% dân số [34].


14
Kết quả điều tra năm 1990 cho thấy tỷ lệ sâu răng tuổi 12 ở miền Bắc là
43,33%, chỉ số SMT là 1,15; miền Nam là 76,33%, chỉ số SMT là 2,93; trên
toàn quốc tỷ lệ sâu răng là 55,7%, chỉ số SMT là 1,82 [35].
Năm 2004, Hoàng Tử Hùng đưa ra tỷ lệ sâu răng sữa ở một số tỉnh
miền Nam là 70,49%, ở Thuận Hải là 72,14% [36].
Theo kết quả điều tra của Viện Răng Hàm Mặt TW, tại Lào Cai: trẻ 12
tuổi có 39,6% bị sâu răng, SMT là 0,09; trẻ 15 tuổi có 60,3% bị sâu răng và
SMT là 1,35; tại Hà Nội: trẻ 12 tuổi có 52,8% bị sâu răng và SMT là 1,6; trẻ
15 tuổi có 63,6% bị sâu răng và SMT là 2,5 [37].
Nghiên cứu của Viện đào tạo Răng Hàm Mặt – Trường Đại Học Y Hà Nội
cho kết quả: tỷ lệ sâu răng sữa của trẻ 4–8 tuổi là 81,6%, smt ở nhóm tuổi 4–8 là
4,7; tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn của trẻ 4–8 tuổi là 16,3 %, SMT là 0,30 [38].
1.5. Một số nghiên cứu về các yếu tố liên quan về chăm sóc răng miệng
của cha mẹ đến bệnh sâu răng của trẻ
Tác giả Paunio (Phần Lan) đã nghiên cứu về trình độ học vấn của
cha/mẹ trẻ, sự quan tâm của họ tới sức khỏe răng miệng như tần suất chải
răng của con, sử dụng fluor và thói quen ăn uống (ăn đồ ngọt, đồ uống vào
ban đêm) ở những gia đình mới có một con đầu, kết quả: có 21,8% trẻ 3 tuổi

được thực trạng bệnh và đánh giá được các yếu tố liên quan để đưa ra các
biện pháp phòng và điều trị thích hợp [38].


16

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
+ Học sinh 3-5 tuổi tại trường mầm non Phương Canh, quận Nam Từ
Liêm, Hà Nội năm 2016.
+ Cha, mẹ trẻ 3-5 tuổi tại trường mầm non Phương Canh, quận Nam Từ
Liêm, Hà Nội năm 2016.
2.1.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
•Tiêu chuẩn chọn nhóm trẻ vào nghiên cứu:
+ Trẻ từ 3-5 tuổi, đang học tại trường mần non Phương Canh, Nam Từ
Liêm, Hà Nội.
+ Được sự đồng ý của cha/mẹ trẻ, hoặc giáo viên chủ nhiệm.
+ Trẻ hợp tác tốt, đồng ý cho thăm khám.
- Tiêu chuẩn chọn cha mẹ trẻ: Chọn cha hoặc mẹ là người đã đồng ý
cho trẻ tham gia vào nghiên cứu và đồng ý việc bản thân tham gia vào
nghiên cứu.
2.1.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Loại trừ những trẻ có một trong những tiêu chuẩn sau:
+ Không có mặt trong lúc khám và điều tra.
+ Mắc các bệnh tâm thần, tự kỷ, toàn thân, cấp tính tại chỗ.


17

Trường mầm non Phương Canh, Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Viện Đào Tạo Răng Hàm Mặt Đại Học Y Hà Nội.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

5/201
6


18
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu
2.2.2.1. Cỡ mẫu
Nghiêu cứu sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang
n = Z2(1-α/2)

p(1-p)
d2

Trong đó:
+ n: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết.
+ Z: hệ số tin cậy, ở mức xác suất 95%, Z(1-α/2)= 1,96
+ p: tỷ lệ mắc bệnh sâu răng của trẻ 3–5 tuổi, p=0,38
Theo nghiên cứu đánh giá tỷ lệ sâu răng lứa tuổi mầm non 4-5 tuổi ở trường
mầm non Việt Bum, Hai Bà Trưng, Hà Nội là 38% [42], nên tôi lấy p = 0,38.
+ d: khoảng cách sai lệch mong muốn (5%)
Theo công thức trên cỡ mẫu tối thiểu cần phải điều tra là n = 362 trẻ.
Thực tế nghiên cứu là 370 trẻ.
Vì số trẻ được khám là 370 trẻ nên tôi tiến hành điều tra 370 cha /mẹ
học sinh.

Cách
thu
thập
Phỏng
vấn
Phỏng
vấn
Khám
Khám
Khám
Khám
Khám
Khám

smtr theo giới
Khám
smtmr theo giới
Khám
Một số yếu tố liên quan về CSRM của cha mẹ đến bệnh SR của trẻ
Mục
tiêu 2

Mối liên quan giữa thời điểm bắt đầu chải răng cho trẻ
và bệnh SR
Mối liên quan giữa thời gian khám định kỳ cho trẻ và
SR
Mối liên quan giữa giám sát trẻ khi chải răng và SR
Mối liên quan giữa thay bàn chải đánh răng cho trẻ và
SR
Mối liên quan giữa số lần chải răng trong ngày của trẻ

•Bước 5: Viết báo cáo đề tài
2.2.3.2. Dụng cụ khám
- Trang phục bảo vệ gồm: áo blouse, mũ, khẩu trang, găng vô khuẩn.
- Bộ khay khám răng: khay quả đậu, gương, gắp, thám trâm.
- Bông, cồn, găng tay, đèn chiếu sáng, quả bóp xì khô.
- Dụng cụ để khử khuẩn.
- Phiếu khám.

Hình 2.1. Dụng cụ khám


21
2.2.3.3. Người khám
Sinh viên Y6 chuyên khoa Răng hàm mặt (lớp Y6 Răng Hàm Mặt viện
đào tạo Răng Hàm Mặt – Trường Đại học Y Hà Nội) đã được tập huấn thống
nhất về cách khám, phỏng vấn và viết phiếu đánh giá.
2.2.3.4. Phương pháp thu thập số liệu
* Số liệu về thực trạng sâu răng sữa ở trẻ
- Bước 1: Tập huấn cho các cộng tác viên về cách khám, phỏng vấn và
cách điền vào phiếu đánh giá.
- Bước 2: Tổ chức khám: Dưới ánh sáng tự nhiên nơi đủ ánh sáng, kết
hợp đèn chiếu sáng, khám đúng phương pháp. Khám phát hiện sâu răng bằng
phương pháp quan sát thông thường và kết hợp quả bóng xì hơi, thám trâm
qua các chỉ số và tiêu chuẩn đánh giá.
- Bước 3: Ghi vào phiếu khám.
* Số liệu về các yếu tố liên quan
•Bước 1: Giáo viên chủ nhiệm các lớp tổ chức họp phụ huynh học sinh
lúc đón trẻ cuối buổi học.
•Bước 2: Các cộng tác viên hướng dẫn điền vào phiếu phỏng vấn kiến
thức – thực hành chăm sóc răng miệng của cha mẹ về phòng bệnh sâu răng

Chỉ số smtr dùng cho răng sữa với tổng số răng là 20 răng. Răng chưa
mọc, răng thừa, răng vĩnh viễn không được tính vào chỉ số này.Tiêu chuẩn
đánh giá gồm:
• s (sâu): gồm tất cả các răng bị sâu và răng đã hàn có sâu tái phát.
• m (mất): răng mất không còn trên cung hàm do sâu.
• t (trám): bao gồm răng đã hàn, không sâu.
+ Đối với 1 người
smtr (1 người) = s + m + t
+ Đối với 1 nhóm người, 1 quần thể dùng số trung bình răng sâu mất
trám.
Tổng số smtr của từng cá thể
Tổng số người khám
2.3.3. Chỉ số smtmr (tổng bề mặt răng sữa sâu – mất – trám)
smtr (1 quần thể) =

Chỉ số smtmr ghi nhận tổng số bề mặt răng sữa sâu, mặt răng mất, mặt
răng trám. Tiêu chuẩn đánh giá gồm:


s (sâu): gồm tất cả các mặt răng bị sâu và mặt răng hàn có sâu tái phát.



m (mất): mặt răng mất không còn trên cung hàm do sâu.



t (trám): bao gồm các răng đã hàn không sâu.
+ Đối với 1 người
smtmr (1 người) = s + m + t

Mặt gần, xa, mặt ngoài hoặc mặt
nhiều răng sữa, có tính chất
trong các răng cửa và răng nanh sữa. đối xứng.
Không ê buốt ngà khi có kích
Không ê buốt ngà khi có
thích.
kích thích.
Sâu răng sữa giai đoạn sớm

2.4. Sai số và cách khắc phục
- Sai số có thể gặp phải:
Sai số có thể gặp khi phỏng vấn thông tin do sai số nhớ lại khi phỏng
vấn từ phía bố mẹ đối tượng nghiên cứu.
Bỏ sót tổn thương trong quá trình khám
- Cách khống chế:
Giải thích rõ mục đích và nội dung nghiên cứu để nhà trường và phụ
huynh học sinh hiểu và hợp tác khi triển khai nghiên cứu.
Xây dựng bộ câu hỏi đơn giản, dễ hiểu.
Tập huấn kỹ cho người khám: đội khám gồm 15 người, là sinh viên lớp Y6
Răng Hàm Mặt được tập huấn thống nhất cách khám và phương pháp đánh giá.
Chọn ra 5-10% số học sinh trong mẫu nghiên cứu, tiến hành khám lại
bởi cùng một người và bởi cùng một người khác để đánh giá độ tin cậy giữa
cùng một người khám và giữa những người khám khác nhau. Kết quả thu


25
được: Kappa nhóm = 0,85 với khám riêng. Đạt mức thống nhất cao trong
khám răng miệng.
Nhập số liệu hai lần bởi cùng một người.
2.5. Đạo đức trong nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status