Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt và một số yếu tố liên quan tại các hộ gia đình thuộc xã la hiên huyện võ nhai tỉnh thái nguyên​ - Pdf 70

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

NGUYỄN ĐỨC TOÀN

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC SINH
HOẠT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI CÁC HỘ
GIA ĐÌNH THUỘC XÃ LA HIÊN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH
THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN - NĂM 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

NGUYỄN ĐỨC TOÀN

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC SINH
HOẠT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI CÁC HỘ
GIA ĐÌNH THUỘC XÃ LA HIÊN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH
THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Y HỌC DỰ PHÒNG
Mã số: 60 72 01 63

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA

tạo điều kiện giúp em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp.
Cảm ơn các thầy cô giáo trong nhà trường đã trang bị cho em những
kiến thức bổ ích, không chỉ là những bài học chuyên môn quý báu mà còn là
những kỹ năng nghề nghiệp.
Lãnh đạo địa phương, Cán bộ Trạm Y tế, người dân xã La Hiên thuộc
huyện Võ Nhai nơi em tiến hành thu thập số liệu cho luận văn tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2017
Học viên

Nguyễn Đức Toàn
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BYT


CLNN

KAP

: Bộ Y tế
: Chất lượng nguồn nước

LHQ


: Kiến thức, thái độ, thực hành
(Knowledge Attitude Practice)

TC


ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................3
1.1. Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt.............................................3
1.1.1. Chất lượng nguồn nước sinh hoạt............................................................3
1.1.2. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt...........................3
1.1.3. Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam 9
1.2. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt................21
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................27
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu...........................................27
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................27
2.1.2. Thời gian nghiên cứu.............................................................................27
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu..............................................................................27
2.2. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 28
2.2.1. Nghiên cứu định lượng..........................................................................28
2.2.2. Nghiên cứu định tính............................................................................. 29
2.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu......................................................................... 30
2.2.4. Phương pháp đánh giá........................................................................... 32
2.2.5. Phương pháp thu thập thông tin.............................................................37
2.2.6. Khống chế sai số....................................................................................37
2.2.7. Phương pháp xử lý số liệu.....................................................................37
2.2.8. Đạo đức nghiên cứu...............................................................................37
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU............................................................38
3.1. Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại các hộ gia đình.............38
3.2. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nước sinh hoạt...........................41
Chương 4. BÀN LUẬN...................................................................................50
4.1. Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại các hộ gia đình.............50


4.2. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nước sinh hoạt...........................53
4.2.1. Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ ô nhiễm với các chỉ số lý học..53


Bảng 3.7. Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới nhà tiêu gần
nhất với chỉ số Amoniac 41
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới nhà tiêu gần
nhất với chỉ số Coliform 42
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới nhà tiêu gần
nhất với chỉ số Fecal Coliform 42
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia
súc gần nhất với chỉ số Amoniac trong nước 43
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia
súc gần nhất với chỉ số Coliform trong nước 43
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia
súc gần nhất với chỉ số Fecal Coliform trong nước 44
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới bãi rác gần
nhất với chỉ số Coliform trong nước

45

Bảng 3.14. Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới bãi rác gần
nhất với chỉ số Fecal Coliform trong nước

45


Bảng 3.15. Mối liên quan giữa thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt với
chỉ số Amoniac trong nước giếng đào 46
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt với
chỉ số Coliform trong nước giếng đào 46
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt với
chỉ số Fecal Coliform trong nước giếng đào 47

đề về nước đang là 1 điều đáng quan tâm hiện nay. Trên trái đất, ¾ lãnh thổ là
nước, nước trong các đại dương, ở biển, sông ngòi, ao hồ, nước ở trong lòng
đất. Nước rất cần thiết cho cuộc sống của con người, chiếm khoảng 70% khối
lượng của cơ thể con người và là một thành phần quan trọng của quá trình
trao đổi chất, dung môi cho nhiều chất hòa tan của cơ thể. Nguồn nước sạch
cung cấp cho cơ thể để duy trì sự sống, vậy nên con người không thể sống mà
thiếu nước. Nước là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên
hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội [35].
Nước sạch giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi chúng ta,
theo báo cáo của tổ chức Y tế Thế giới năm 2005 trên toàn thế giới có khoảng
1,1 tỷ người đã không thể tiếp cận với nguồn nước sạch chiếm 17% dân số
toàn cầu, trong đó có tới 2/3 là châu Á, có khoảng 1,8 triệu người chết mỗi
năm liên quan đến các bệnh đường tiêu hóa trong đó chiếm tới 90% ở trẻ em
dưới 5 tuổi. Năm 2016 trên thế giới có 846.000 người tử vong do tiêu chảy
liên quan đến sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh [52].
Nguồn nước bị ô nhiễm gây nhiều tác hại đến sức khỏe con người, tỉ lệ
người mắc các bệnh cấp và mạn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm
màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng. Các nghiên cứu khoa học
cũng cho thấy, khi sử dụng nước nhiễm asen để ăn uống, con người có thể
mắc bệnh ung thư trong đó thường gặp là ung thư da. Con người sử dụng
nguồn nước có nhiễm chì vượt quá tiêu chuẩn cho phép có thể mắc bệnh thận,
thần kinh; nhiễm Amoni, Nitrat, Nitrit gây mắc bệnh xanh da, thiếu máu, có
thể gây ung thư. Vi khuẩn, ký sinh trùng các loại là nguyên nhân gây các bệnh
đường tiêu hóa, nhiễm giun, sán.


2
Việt Nam là một nước đang phát triển với mục tiêu đến năm 2020, nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Bên cạnh đà phát
triển của đất nước thì vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi


hoạt tại các hộ gia đình ở xã La Hiên huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.


3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt
1.1.1. Chất lượng nguồn nước sinh hoạt
Nước sạch là nước dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia
đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp đồng thời có đủ 22 chỉ tiêu
đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch do Bộ Y Tế ban hành [4]. Theo Luật tài
nguyên nước số 17/2012/QH13 cũng chỉ rõ nước sạch là nước có chất lượng
đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam [18].
Đối với nước hợp vệ sinh là nước không màu, không mùi, không vị,
không chứa các thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con
người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi [33]. Các yếu tố vật lý, hóa học
và vi sinh trong nước không vượt quá giới hạn tiêu chuẩn cho phép.
1.1.2. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt
Tùy theo yêu cầu của việc sử dụng nước vào các mục đích khác nhau
như nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp, văn hóa, thể dục thể thao, phục vụ
ăn uống và sinh hoạt mà quy định những tiêu chuẩn của ngành. Đối với nước
ăn uống và sinh hoạt có tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn
quốc gia và tiêu chuẩn địa phương. Tiêu chuẩn quốc tế về nước sinh hoạt là
tiêu chuẩn của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ban hành năm 1958 và bổ sung
sửa đổi năm 1963, 1971, và 1984. Tiêu chuẩn bao gồm 3 nhóm chỉ tiêu: Vật
lý, hóa học (chất vô cơ tan, chất hữu cơ) và sinh học.
Năm 2002 với sự giúp đỡ của UNICEF, Bộ Y tế đã xây dựng và ban
hành Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống theo quyết định số 1329/2002/BYTQĐ ngày 18/4/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế để giám sát chất lượng nước dùng
cho ăn uống và sinh hoạt. Tiêu chuẩn này quy định ngưỡng tối đa cho phép

và Bộ Y tế.
-

Nước không chứa các loại vi khuẩn, virus gây bệnh, các loại kí sinh

trùng và các loại vi sinh vật khác, đảm bảo an toàn về mặt dịch tễ học.
Cụ thể như sau:


5
a.

Lý học [9]
*

Độ trong.

- Nước phải trong, độ trong của nước ít nhất là 30 cm.
- Nước đục là do có những chất lơ lửng trong nước (đất, cát…) đối với
nước bề mặt, chất sắt đối với nước ngầm.
Nước đang trong mà bỗng bị đục chứng tỏ là có sự thẩm lậu của các chất
bẩn hoặc do nhiễm khuẩn vào nguồn nước.
* Mầu.
- Nước hợp vệ là nước không mầu, có mầu rõ rệt khi nhìn bằng mắt
thường.

- Nước hồ, ao, thường có mầu vì có lẫn chất mùn hoặc rêu, tảo.
-

Nước ngầm sâu thường có mầu vàng gỉ của chất sắt, khi thấy nước có

- Trong nước không có chất độc.
- Các hoá chất không quá tiêu chuẩn cho phép.
*

Về chất hữu cơ.

- Sự có mặt của chất hữu cơ chứng tỏ là mẫu nước bị nhiễm bẩn.


- Chất hữu cơ là sản phẩm của sự thối nát.


6
+

Của các tổ chức động vật và thực vật.

+

Các chất thải bỏ (phân, nước thải xí nghiệp ...).

- Về nguồn gốc có 2 loại chất hữu cơ.
+

Chất hữu cơ thực vật.

+

Chất hữu cơ động vật.


+ I2 trung bình:
- Trong quá trình phân giải chất hữu cơ, amoniac xuất hiện đầu tiên.
- Có amoniac chứng tỏ là có chất hữu cơ bắt đầu thối rữa.
- Tiêu chuẩn cho phép là từ 0 - 3 mg NH3 trong 1 lít nước.


7



NO2 (nitrit).

Sự oxy hoá của chất đạm hữu cơ biến NH3 thành NO2, quá trình này
nhờ vi khuẩn hiếu khí mà tạo ra.
- Tiêu chuẩn quy định trong nước không được có NO2 hoặc nếu có phải
dưới 0,05 mg/lít.
-

NO2 còn có thể thấy trong nước mưa. Nhưng khi có cả NH3 và NO2 thì

chắc chắn là nước bị nhiễm bẩn.



NO3 (nitrat).

- Sau một thời gian, chất nitrit bị oxy hoá và trở thành nitrat.
- Chất nitrat là giai đoạn cuối cùng của sự phân huỷ các chất hữu cơ chứa N.

- Nếu trong nước chỉ có nitrat không có nitrit và NH3 người ta cho rằng


8
*
-

Độ cứng.
Nước cứng là nước có nhiều muối Ca, Mg khác với nước mềm là nước

có ít loại muối này.
- Tiêu chuẩn độ cứng ở nước ta được phân loại như sau.
+ Nước tốt:

4 - 80 độ cứng.

(độ Đức)

+

Nước cứng vừa: 8 - 120 độ cứng.

+

Nước khá cứng: 12 - 180 độ cứng. (độ Đức)

(độ Đức)

+
Trên 180 độ cứng. (độ Đức) là nước cứng và rất cứng.
1 độ Đức = 10mg CaO/lít = 7.14 Ca/lít.
c. Sinh học [9]

Coliform và Fecal Coliform: Coliform là trực khuẩn Gram âm hiếu khí, kỵ khí
tùy tiện không có nha bào, có khả năng lên men đường lactose sinh acid, sinh
hơi ở nhiệt độ 35 - 370C trong vòng 48 giờ, chúng được tìm thấy ở phân
người, động vật và cả trong môi trường như đất, nước, rau quả…chúng được


9
coi là chỉ điểm vệ sinh quan trọng, nhất là đối với nguồn nước đã được xử lý.
Fecal Coliform là những coliform chịu nhiệt, phát triển được ở nhiệt độ
44,50C, chúng có ở phân người và động vật máu nóng. Vì vậy Fecal Coliform
được coi là chỉ điểm vệ sinh quan trọng, nhất là đối với nguồn nước không
được xử lý. Sự có mặt của vi khuẩn này ở ngoại cảnh chứng tỏ đã có sự ô
nhiễm phân người và động vật máu nóng [5].
d. Ký sinh trùng trong nước [9]:
-

Chúng có khả năng sống ăn bám ở bên trong cơ thể người hay động

vật và chia thành hai loại.
+ Ký sinh trùng địa chất. Loại ký sinh trùng không cần vật chủ trung
gian để phát triển.
+ Ký sinh trùng sinh học, phải qua cơ thể của 2, 3 vật chủ trung gian để
phát triển.
-

Đối với một vài loại sán, trứng, ấu trùng và các vật chủ trung gian

sống ở dưới nước.
Bên cạnh đó để đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt cần căn cứ vào
các thông tư:

lại mang một số tác hại đối với nguồn nước, phổ biến nhất các chất gây ô
nhiễm hoá học trong nguồn nước uống phát sinh từ hoạt động nông nghiệp là
nitrate và thuốc trừ sâu, phân người, phân động vật, phân bón và chất rắn sinh
học (bùn thải) sử dụng cho mục đích nông nghiệp là một trong các nguyên
nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến sức khỏe con người [49].
Liên Hiệp Quốc công bố báo cáo cho thấy, từ năm 2000 đến năm 2015,
việc tiếp cận nguồn nước sạch cho người dân trên thế giới đã có nhiều tiến bộ
đáng kể. Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là giảm một nửa số người không được
tiếp cận với nước sạch và các điều kiện vệ sinh cơ bản đã đạt được sớm 5 năm so
với mục tiêu đề ra ở năm 2015. Đến cuối năm 2010, 89% dân số toàn cầu
(khoảng hơn 6 tỷ người) có thể tiếp cận nước sạch, vượt mục tiêu đề ra. Tuy
nhiên, nước sạch vẫn không phải là nguồn tài nguyên dành cho tất cả mọi người
trong khi 11% còn lại (khoảng 783 triệu người) vẫn không được tiếp cận nguồn
nước an toàn; khoảng 2,5 tỷ người vẫn còn thiếu các điều kiện vệ sinh tối thiểu.
Khu vực Châu Á Thái Bình Dương chiếm đến 61% dân số thế giới nhưng nguồn
nước dành cho khu vực này chỉ bằng 1/3 dân số toàn cầu. Khoảng nửa tỷ người
tại đây không có cơ hội tiếp cận với nguồn nước đảm bảo an toàn và 1,8 tỷ người
dân không được sống trong điều kiện vệ sinh [13].


11
Theo báo cáo của UNICEP về tình hình thực hiện thập kỷ cung cấp
nước và vệ sinh môi trường từ năm 1990 đến năm 2000, ở thời điểm năm
2000 có 81% dân số thế giới được cung cấp nước sạch còn 19% không được
cung cấp nước sạch hoặc trong tình trạng thiếu sinh hoạt và ăn uống, trong số
đó 63% thuộc Châu Á và 28% ở Châu Phi, trong khi tỷ lệ này tương ứng ở
Châu Mỹ Châu Âu là 7% và 2%. Điều đó cho thấy các nước đang phát triển
và kém phát triển thì tỷ lệ dân số không được cung cấp nước sạch rất cao [51].
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh
hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử

tích đất tưới cũng tăng gấp đôi trong chừng ấy năm và hiện tượng này liên quan
mật thiết với sự gia tăng dân số. Dân số thế giới hiện nay là 6,6 tỷ người và mỗi
năm tăng thêm 80 triệu người, điều đó có nghĩa là nhu cầu về nước sạch mỗi
năm tăng thêm khoảng 64 tỷ mét khối. Song, đáng tiếc là 90% số dân trong số

3
tỷ người dự kiến tăng thêm vào năm 2050 lại tập trung ở các nước
đang
phát triển, nơi mà ngay từ bây giờ đã đang chịu cảnh khan hiếm nước [3].
Theo ước tính, đến năm 2030 sẽ có 47% dân số trên thế giới sinh sống
tại các vùng thiếu nước sạch. Chỉ tính riêng ở Châu Phi, do biến đổi khí hậu,
số người thiếu nước sinh hoạt nhiều hơn vào năm 2020 là từ 75 đến 250 triệu
người. Khan hiếm nước ở một số vùng khô hạn và bán khô hạn sẽ tác động
lớn tới sự di cư; do hiếm nước sẽ có từ 24 triệu đến 700 triệu người dân không
có chỗ ở [3].
Trên thế giới vấn đề chất lượng nguồn nước ngầm đặc biệt được quan
tâm từ những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ 20 với các nghiên cứu về
nồng độ của kim loại nặng trong nước ngầm đặc biệt là As. Chất lượng nguồn
nước sinh hoạt không được đảm bảo, các yếu tố lý học, hóa học và sinh học
trong nước vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Nghiên cứu về tổng Coliform trong
nước vùng hồ Kashmir ở Ấn Độ cho thấy tất cả các mẫu nước xét nghiệm đều
có sự xuất hiên của Coliform và cao hơn nhiều so với giới hạn cho phép.
Trong tháng 12 năm 2013, với 40 mẫu nước từ các nguồn nước uống khác


13
nhau được phân tích chất lượng nước cho thấy các mẫu nước 30% bị nhiễm
coliform (1-20 cfu/ml) và 5% với E.coli (2-5 cfu/ml) [42].
Nghiên cứu chất lượng nguồn nước uống trong cộng đồng nông thôn ở
Ethiopia cũng cho thấy hầu hết các mẫu nước xét nghiệm tìm thấy coliform,

huyện Charsadda, tổng số vi khuẩn coliform trong mẫu nước uống thường
vượt quá giới hạn cho phép (0 trên 100 mL) do Pak-EPA (2008) [46].
Kết quả nghiên cứu chất lượng nước uống của cộng đồng Bangladesh
(2016) cho thấy, nồng độ sắt trung bình trong nước vượt quá tiêu chuẩn của
WHO (0,3mg/L), độ mặn tương đối cao, phần lớn các hộ gia đình (67%) sử
dụng nước uống có chất lượng kém [48]. Đồng thời cũng theo kết quả nghiên
cứu chất lượng nước uống và nước sinh hoạt nông thôn tại quận Balaka,
Malawi cho thấy hầu hết các mẫu nước giếng có hàm lượng sắt cao hơn tiêu
chuẩn cho phép (0,3mg/L), chỉ số Fecal Coliform và Coliform lần lượt là 62120 cfu/100ml, và 40 - 56 cfu/100ml, cao hơn mức cho phép là 0cfu/100ml
(WHO, 2011) [43]. Nguồn nước bị ô nhiễm gây nhiều hậu quả nghiêm trọng
đến sức khỏe con người đặc biệt là trẻ em ở các nước chậm phát triển. Bệnh
tiêu chảy gây ra 90% số ca tử vong trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát
triển. Suy dinh dưỡng, đặc biệt là suy dinh dưỡng năng lượng protein, có thể
làm giảm khả năng đề kháng của trẻ đối với nhiễm trùng, bao gồm tiêu chảy
liên quan đến nước. Trong năm 2000 - 2003 có 769.000 trẻ em dưới 5 tuổi ở
vùng hạ Sahara Châu Phi đã chết mỗi năm do bệnh tiêu chảy, chỉ có 36% dân
số trong vùng hạ Sahara có các phương tiện vệ sinh hợp lý, hơn 2000 trẻ em
cuộc sống bị mất mỗi ngày. Tại Nam Á, mỗi năm có 683.000 trẻ em dưới 5
tuổi chết do bị tiêu chảy, trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2003. Trong
cùng khoảng thời gian, ở các nước phát triển, 700 trẻ em dưới 5 tuổi chết vì
bệnh tiêu chảy này [39].
Nghiên cứu về chất lượng nguồn nước ngầm tại quận Muzaffargarh,
Pakistan chỉ ra rằng. Trong 49 mẫu nước ngầm, được thử nghiệm ở quận
Muzaffargarh, phía tây nam Punjab, miền trung Pakistan, các sự kết hợp của



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status