Nghiên cứu đa dạng sinh học ốc cạn ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN THANH BÌNH

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC ỐC CẠN
(LAND SNAILS) Ở KHU VỰC XÃ LA HIÊN,
HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

/>

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN THANH BÌNH

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC ỐC CẠN
(LAND SNAILS) Ở KHU VỰC XÃ LA HIÊN,
HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. TS. Hoàng Ngọc Khắc

viên trong khoa đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 10 năm 2015
Học viên

Nguyễn Thanh Bình

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

i

/>

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn “Nghiên cứu đa dạng sinh học ốc cạn (Land
snails) ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”. là công trình
nghiên cứu thực sự của riêng tôi, thực hiện trên cơ sở nghiên cứu thực địa ở
khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Dưới sự hướng dẫn
khoa học của TS. Hoàng Ngọc Khắc và TS. Hoàng Văn Ngọc. Các số liệu về
kết quả của luận văn là trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào khác.
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 10 năm 2015
Học viên

Nguyễn Thanh Bình

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

ii

/>


iii

/>

CHƢƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ................................................................................................. 26
3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu ..................................................... 26
3.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................... 26
3.1.2. Một số nét khái quát về địa chất và địa hình ........................................... 26
3.1.3. Khí hậu, thủy văn..................................................................................... 28
3.1.4. Tài nguyên rừng [4] ................................................................................. 29
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu .......................................... 29
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ...................... 31
4.1. Thành phần loài ốc cạn ở khu vực nghiên cứu ........................................... 31
4.1.1. Cấu trúc thành phần loài ốc cạn .............................................................. 31
4.1.2. Mối quan hệ thành phần loài ốc cạn ở KVNC với các khu vực lân cận......... 47
4.2. Đặc điểm phân bố của ốc cạn ở khu vực nghiên cứu ................................. 51
4.2.1. Phân bố theo sinh cảnh ............................................................................ 51
4.2.2. Phân bố theo độ caso ............................................................................... 56
4.3. Vai trò của ốc cạn ....................................................................................... 60
4.3.1. Về giá trị làm thực phẩm ......................................................................... 60
4.3.2. Về giá trị Y dược ..................................................................................... 62
4.3.3. Vai trò gây hại của ốc cạn ....................................................................... 63
4.3.4. Định hướng nghiên cứu và sử dụng ........................................................ 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 71
PHỤ LỤC ........................................................................................................PL1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

KVNC

Khu vực nghiên cứu

LB

Làng Bòng

LG

Làng Giai

LK

Làng Kèn

NHMN

Bảo tàng lịch sử tự nhiên

XP

Xóm Phố

VQG

Vườn Quốc gia

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

vi

/>

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa. Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa
dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các
miền. Đặc điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng và
phong phú về thành phần loài cũng như số lượng. Sự phong phú và đa dạng của
khu hệ động vật đã góp phần tạo nên sự đa dạng này. Động vật không xương sống
nói chung, động vật Thân mềm nói riêng vô cùng đa dạng về hình thái, tập tính,
sinh lý nên thích nghi với nhiều điều kiện môi trường sống khác nhau.
Thân mềm (Mollusca) được biết đến với khoảng 130.000 loài, phân bố rộng
khắp. Trong ngành Thân mềm, lớp Chân bụng (Gastropoda) là lớp đa dạng và
phong phú nhất, có khoảng 90.000 loài, chiếm khoảng 70% tổng số loài Thân
mềm. Lớp Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) là một trong 7 lớp thuộc Ngành
thân mềm (Mollusca) có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái và giá trị
thực tiễn đối với con người. Trong lớp Chân bụng có 3 phân lớp: Phân lớp Mang
trước (Prosobranchia), phân lớp Mang sau (Opisthobranchia) và phân lớp Có phổi
(Pulmonata). Trong 3 phân lớp này, phân lớp Mang sau hoàn toàn ở biển, phân
lớp Mang trước tỷ lệ loài sống ở nước chiếm phần lớn còn một số ở cạn, phân lớp
Pulmonata sống trên cạn. Trải qua sự tiến hóa hàng triệu năm của Thân mềm
Chân bụng đã phát sinh nhiều loài và có số lượng loài phong phú chỉ đứng thứ hai
sau lớp Côn trùng [2], [63]. Đặc biệt nhóm ở cạn với các môi trường sống đặc
trưng đã hình thành nên đa dạng cao. Rất nhiều loài trong số chúng là nguồn thực
phẩm quan trọng đối với con người [7]. Trong hệ sinh thái, ốc cạn là thành phần

- Tìm hiểu về giá trị, ý nghĩa thực tiễn của ốc cạn ở khu vực nghiên cứu.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung lý luận khoa
học và thực tế cho công tác điều tra đa dạng thành phần loài Ốc cạn ở khu vực xã
La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, đồng thời tạo cơ sở cho việc nghiên cứu
về sự phân bố của chúng trong các kiểu sinh cảnh và độ cao trong khu vực, đặc
biệt là phân bố trên các kiểu sinh cảnh thuộc núi đá vôi.

2


- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả và phương pháp nghiên cứu tạo tiền đề cho việc thực
hiện các nghiên cứu sâu hơn về giá trị của các loài Thân mềm, Chân bụng ở các
khu rừng núi đá vôi và bổ sung thông tin, tình trạng các loài được phát hiện phục
vụ công tác bảo tồn Ốc cạn ở khu vực xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

3


Chƣơng 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về ốc cạn
1.1.1. Đặc điểm phân loại
Hầu hết các loài ốc cạn được phát hiện có thể xác định dựa vào các đặc
điểm hình thái của vỏ, các dấu hiệu được sử dụng nhiều trong mô tả, sự xoắn của
vỏ ốc là tính chất phức tạp trong vỏ ốc. Sự tiến hóa hay thoái hóa của dạng ống đã
tạo nên vỏ xoắn quen gọi là vòng xoắn. Các vòng xoắn chụm lại ở giữa trục (axis),
trục này chạy xuyên suốt trung tâm gọi là trụ giữa (central pillar) của vỏ. Vòng
xoắn có thể rộng nhanh hay chậm và được tách ra thành đường liên tục gọi là
đường xoắn (suture). Một vài loài vỏ mỏng có đường thứ sinh hay một đường
rộng (broad), thêm vào một dãy mờ đục (opaque) bên cạnh đường xoắn như

gần như dạng cylindric nhưng cạnh bên không song song. Dạng hình trụ
(cynlindric) có hình trụ, các rãnh xoắn gần như vuông góc với cạnh bên và có đỉnh
vỏ dày. Dạng nón ôvan (conic - ovate) có dạng nón trứng. Dạng gần ôvan
(subovate) có dạng gần ôvan, phía bên của vòng xoắn lồi hơn. Dạng ôvan dài
(elongate - ovate). Dạng xoắn ốc dẹt (depressed - heliciform) có vỏ ngắn nhưng
rộng. Dạng xoắn ốc (heliciform) có chiều cao và chiều rộng xấp xỉ nhau. Dạng
xoắn ốc nón (conic - heliciform) cũng giống dạng heliciform nhưng có các vòng
xoắn hình côn nhiều hơn [20], [28].

Hình 1.1 Cấu tạo ngoài của vỏ ốc cạn [20]

5


1.1.1.2. Đỉnh vỏ
Đỉnh vỏ là điểm khởi đầu của các vòng xoắn, là nơi hình thành các vòng
xoắn đầu tiên của vỏ (còn gọi là vòng xoắn phôi), các vòng xoắn này thường rất
nhỏ và nhẵn. Đỉnh vỏ có thể nhọn, tù hoặc tầy.
1.1.1.3. Kích thƣớc vỏ
Kích thước vỏ là đặc điểm dùng nhiều trong mô tả và nhận dạng các
taxon bậc loài, giống. Các số đo quan trọng về kích thước của vỏ ốc cạn gồm:
Chiều cao hay chiều dài (tính từ đỉnh vỏ đến vành miệng, không tính bờ vành
môi), chiều rộng (khoảng cách rộng ngang lớn nhất), chiều cao tháp ốc, chiều cao
và chiều rộng miệng vỏ. Dựa vào kích thước vỏ có thể phân chia ốc cạn thành:
Nhóm kích thước bé (dưới 20mm) và nhóm kích thước lớn (trên 20mm).
1.1.1.4. Các vòng xoắn
Các vòng xoắn bao gồm các vòng xoắn tính từ đỉnh vỏ tới vòng xoắn
cuối cùng, trừ lỗ miệng. Các vòng xoắn có thể là thuận hay ngược chiều kim
đồng hồ, có nhiều loài ốc xoắn ngược ( ví dụ: Neptunea angulate) và có nhiều
loài có cả hai kiểu xoắn (Amphidromus perversus); tròn đều, phồng lên hay

Bradybaenidae, Euconulidae, Trochomorphidae, Plectopylidae). Ngoài ra, tỷ lệ giữa
kích thước lỗ rốn so với chiều rộng vỏ cũng là đặc điểm rất có giá trị chẩn loại.
Lỗ rốn được hình thành do trụ ốc rỗng và mở ra ngoài gần miệng vỏ, có
khi trụ ốc không rỗng vì thế vỏ không có lỗ rốn. Trong định loại và nhận dạng,
có thể phân biệt 3 dạng lỗ rốn: Dạng đóng, dạng vết lõm và dạng mở (rộng
hoặc hẹp). Ngoài ra, tỷ lệ giữa kích thước lỗ rốn so với chiều rộng vỏ là đặc
điểm rất có giá trị chẩn loại.

Hình 1.2 Hình dạng các kiểu lỗ rốn [20]

7


1.1.2. Đặc điểm sinh học và sinh thái học
Trên thế giới hiện nay, đặc điểm sinh học và sinh thái học của ốc cạn
ngày càng được chú ý nghiên cứu, đặc biệt là những loài có giá trị thực tiễn và
những loài thường xuyên gây hại.
Các loài ốc cạn phân bố rộng ở nhiều dạng địa hình và sinh cảnh khác
nhau. Trên môi trường cạn, ốc và sên trần thường ưa sống ở những nơi ẩm ướt,
giàu mùn bã thực vật, rêu và tảo. Kích thước cơ thể của ốc cạn dao động trong
khoảng tương đối lớn, từ một hoặc vài mm (họ Vertiginidae, Euconulidae) đến
hàng chục cm (họ Camaena, Achatina, Amphidromus) [2], [9].
Phần lớn các loài ốc cạn trong lớp Mang trước thường đơn tính, trong khi
ở phân lớp Có phổi thì lưỡng tính [2], [3], [9], [12]. Đối với các loài ốc cạn đơn
tính, ít có sự sai khác về hình thái ngoài giữa con đực và con cái, tỷ lệ đực cái
trong quần thể cũng thường ít dao động. Như tỉ lệ đực cái của hai loài ốc núi
Cyclophorus anamiticus và Cyclophorus martensianus trong quần thể là 1:1.
Trong sinh sản chúng giao phối và thụ tinh, trứng được đẻ thành từng đám trong
các hốc đá, khe đá, quanh rễ cây hoặc trứng được đẻ rải rác khắp bề mặt đất. Giai
đoạn ấu trùng thu gọn trong trứng và khi nở thành con non [2], [9]. Ốc cạn

phân bố gốc là Ethiopi nhưng lại rất phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới [26].
Trong tự nhiên, các loài ốc cạn thường hoạt động mạnh vào ban đêm.
Khẳng định này cũng được quan sát thấy trong điều kiện nuôi thí nghiệm đối với 2
loài ốc Cyclophorus anamiticus và Cyclophorus martensianus, một số cá thể hoạt
động cả ban ngày khi môi trường nuôi được tưới nước làm tăng độ ẩm hoặc có
mưa liên tục [9]. Thức ăn của hầu hết các loài ốc cạn là thực vật, mùn bã, rêu, tảo,
nấm… Chúng sử dụng lưỡi bào (radula) để cạo và cuốn thức ăn vào miệng. Lưỡi
bào (radula) là cấu trúc đặc trưng của lớp Chân bụng (Gastropoda), đó là một tấm
bằng kitin hoặc prôtêin lát trên thành dưới thực quản. Mặt trên lưỡi bào có nhiều
dãy răng kitin. Radula hình thành từ bao lưỡi. Khi phần phía trước của radula bị
mòn do thường xuyên cạo và cuốn thức ăn, bao lưỡi hình thành phần sau để thay
thế. Co duỗi cơ giúp lưỡi bào thò ra, cạo và cuốn thức ăn vào miệng [2], [3].

9


Bên cạnh đó, một số ốc cạn (Họ Succinea) và sên trần có thể là vật chủ
của các loài ký sinh trùng (sán lá Leucochloridium paradoxum) trong cơ thể ốc,
ấu trùng miracidium của sán được giải phóng khỏi trứng và chuyển thành
sporocyst (chứa các sán non) ký sinh trong gan nhưng phân nhánh trong đôi râu
của ốc, các nhánh của sporocyst với các vành đen và đốm được lộ rõ trên đôi
râu ốc, khi râu hoạt hoạt động trông giống ấu trùng của côn trùng nên dễ làm
cho chim (vật chủ chính thức) nhìn nhầm và ăn thịt [2].
1.2. Lịch sử nghiên cứu ốc cạn
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ốc cạn trên thế giới
Việc nghiên cứu ốc cạn trên thế giới về khía cạnh phân loại học, đặc
điểm sinh học, phân bố và sinh sản đã được tiến hành khá sớm và rộng rãi ở
nhiều quốc gia thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và một số nước xung quanh
Việt Nam như Nhật Bản, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Ấn Độ, Thái
Lan… Nghiên cứu sớm nhất có thể kể đến nhà khoa học người Hy Lạp,

không phổ biến [52], [71], [74], [86].
Khu hệ ốc cạn của các nước lân cận Việt Nam cũng được quan tâm
nghiên cứu nhưng ở các mức độ khác nhau giữa các quốc gia. Khu hệ Thân
mềm Chân bụng Trung Quốc được công bố bởi nhiều tác giả, tiêu biểu như
Moellendorff (1882, 1885, 1886), Fischer và Dautzenberg (1904), Teng Chieng
Yen (1939, 1941, 1948), Shannon & Weiner, 1963, Yu & Pan (1982), Chen &
Gao (1988), Wiktor và ctv. (2000), Qian, Zhang, Guo & Chen (2006)... [50],
[52], [57], [74], [76], [91], [103]. Teng Chieng Yen (1939, 1941) đã phát hiện
được 949 loài Thân mềm Chân bụng, thuộc 126 giống, xếp trong 21 họ [54],
[103]. Dẫn liệu có tính tổng quan về ốc cạn của Đài Loan được Hsieh Bo Chuan,
Hwang Chung Chi và Wu Shu Ping công bố năm 2006, với 182 loài và phân loài,
thuộc 29 họ, 7 bộ, 2 phân lớp. Trong số các họ xác định được, Clausiliidae (54
loài) và Cyclophoridae (21 loài) là những họ phong phú nhất [56].
Dẫn liệu về ốc cạn của Thái Lan được công bố bởi Solem (1965, 1966),
Panha (1995, 1996) với 421 loài và phân loài, thuộc 133 giống, 30 họ [82], [93],
[94]. Năm 2009, dẫn liệu có tính tổng quan về khu hệ ốc cạn của Thái Lan được

11


công bố bởi Panha và ctv. Công trình này ghi nhận có 800 loài, thuộc 133 giống,
sắp xếp vào 30 họ [82].
Dẫn liệu về ốc cạn đầu tiên của Lào và Campuchia đã được Crosse và
Fischer công bố từ năm 1863 cùng với dẫn liệu về nhóm trai ốc nước ngọt.
Những nghiên cứu ban đầu này là những hoạt động khảo sát chung trong cả
vùng Đông Dương [42], [45]. Các dẫn liệu này về sau được bổ sung bởi
Mabille và Le Mesle (1866) [70], Morlet (1886, 1891, 1892) [74], [75], [76],
[77], [78], [79], Dautzenberg và Hamonville (1887) [46], Dautzenberg (1893)
[47], Bavay và Dautzenber (1899, 1900, 1903, 1909) [31], [32], [33], [35],
Fischer (1904) [52]... Thành phần loài được tìm thấy và công bố trong các công

gian này (1848-1877) các vùng khác ở Nam Bộ bao gồm cả các đảo như Côn Đảo,
Phú Quốc đã được Pfeiffer phát hiện tới hàng chục loài mới (Nanina cambojiensis,
Nanina distincta, Nesta cochinchinensis, Trochomorpha saigonesis…) [85].
Từ những năm cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, những nghiên cứu về ốc
cạn ở vùng Nam Bộ và Trung Bộ được tiếp tục nghiên cứu đến những năm 60 của
thế kỷ XIX như công trình của Crosse và Fischer (1863, 1864, 1869), Mabille và
Mesle (1866), Crosse (1867) [41], [42], [44], [45], [69]. Trong giai đoạn này, những
dẫn liệu về ốc cạn ở khu vực phía Bắc Việt Nam còn rất ít, chỉ có một số loài như:
Camaena illustris trong nghiên cứu của Pfeiffer (1848-1877) ở Lạng Sơn, Alycaeus
anceyi trong nghiên cứu của Mabille (1841-1842) ở đảo Cái Bầu, Quảng Ninh [71],
[85]. Các công trình về ốc cạn ở miền Bắc chỉ xuất hiện nhiều vào nửa cuối thế kỷ
XIX, với các nghiên cứu của Crosse và Fisher (1864) [43], Morlet (1886, 1891,
1892) [77], [78], [79], [80], Dautzenberg và Hamonville (1887) [52], Dautzenerg
(1893) [48], Bavay và Dautzenberg (1899, 1900 - 1915) [32], [33], [34, [35], [36],
[37], [38], [39], Dautzenberg và Fischer (1905, 1906, 1908) [46], [49], [50]. Tổng
hợp các kết quả nghiên cứu từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam, đã
phát hiện 448 loài và phân loài ốc cạn, đã công bố trong 83 tài liệu công bố từ năm
1841 đến 1900. Tuy nhiên thành phần loài ốc cạn ở Việt Nam trong thời gian này
còn chưa đầy đủ và cần phải xem xét về phân loại học [25].
Trong thời gian đầu thế kỷ XX, từ 1901 đến 1975, chiến tranh vẫn diễn ra
ở Việt Nam, việc nghiên cứu ốc cạn cũng như các nhóm ốc khác ở Đông Dương

13


hầu như ngừng lại. Chỉ có một số điểm ở Bắc Bộ của Jaeckel (1950), Varga
(1963) [57]. Các công trình trong giai đoạn này bổ sung 82 loài cho khu hệ ốc
cạn ở Việt Nam trong tổng số 103 loài thống kê được ở Việt Nam. Trong đó
nhiều loài mới được tìm thấy trên các đảo ven bờ và vùng núi Nghệ An. Các
nghiên cứu cũng chỉ tập trung vào xác định thành phần loài. Ngoài ra, căn cứ

Văn Hào, Phạm Văn Sáng (2007 - 2013) với số lượng loài tới gần 200 loài thuộc
20 họ [60].
Năm 2011, Schileyko đã tu chỉnh toàn bộ các loài ốc ở cạn thuộc bộ
Stylommatophra, phân lớp ốc Có phổi (Pulmonata) được các tác giả trước thu thập
và nghiên cứu tại Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến thế kỷ XX (Bavay,
Dautzenberg, Fischer, Gude, Mabille, Mollendorff, Morelet và Pfeiffer). Nguồn
mẫu vật các loài ốc cạn trên hiện nay được lưu trữ tại một số bảo tàng lớn trên thế
giới. Công trình này bao gồm 477 loài và phân loài, thuộc 96 giống, 20 họ. Đây là
nguồn dẫn liệu mang tính tổng quát và rất có giá trị, giúp định hướng cho các
nghiên cứu phân loại học sau này [90].
Từ năm 2009 đến năm 2014, Đỗ Văn Nhượng và nhóm nghiên cứu thuộc
Trung tâm Động vật đất, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có hàng loạt công bố
về thành phần loài ở một số khu vực phía Bắc Việt Nam như: 23 loài ở khu vực
núi đá vôi Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Nội) thuộc 18 giống, 15 họ, 3 bộ [24]; 44 loài
và phân loài ở xóm Dù, vườn quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ) thuộc 27 giống, 14
họ, 2 phân lớp trong đó nhóm ốc Có phổi chiếm ưu thế với 36 loài và phân loài
[18]; 36 loài ở núi Voi (An Lão, Hải Phòng) thuộc 28 giống, 14 họ và 4 bộ trong
đó họ Ariophantidae (7 loài, 6 giống), Camaenidae (6 loài, 5 giống), Subulinidae
(6 loài, 4 giống), Cyclophoridae (6 loài, 2 giống) chiếm ưu thế về thành phần loài
[19]; 48 loài ở thôn Rẫy (Hữu Lũng, Lạng Sơn) thuộc 26 giống, 15 họ trong đó họ
Cyclophoridae phong phú nhất với 5 giống, 18 loài [21]; 54 loài và phân loài ở
khu vực Tây Trang, tỉnh Điện Biên thuộc 35 giống, 15 họ, 3 bộ và 2 phân lớp,
trong đó họ Cyclophoridae cũng phong phú nhất với 8 giống, 11 loài [8], [21]; 73
loài thu thập ở thành phố Sơn La, trong đó mới xác định tên khoa học được 50 loài
[25]; 52 loài và phân loài ở vườn quốc gia Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) thuộc 31
giống, 13 họ, trong đó họ Cyclophoridae và Clausiliidae có số loài nhiều nhất

15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status