NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC ỐC CẠN (GASTROPODA) TẠI XÃ THẦN SA, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN - Pdf 36

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

NGÔ THÀNH ĐẠT

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC ỐC CẠN
(GASTROPODA) TẠI XÃ THẦN SA, HUYỆN VÕ NHAI,
TỈNH THÁI NGUYÊN

HÀ NỘI, THÁNG 06 NĂM 2016


ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

NGÔ THÀNH ĐẠT

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC ỐC CẠN
(GASTROPODA) TẠI XÃ THẦN SA, HUYỆN VÕ NHAI,
TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã ngành: D850101

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. Nguyễn Quốc Bình

HÀ NỘI, THÁNG 06 NĂM 2016



4


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt/Ký hiệu

Nội dung

ĐDSH

Đa dạng sinh học

ĐCT

Đất canh tác

KBTTN

Khu bảo tồn thiên nhiên

KVNC

Khu vực nghiên cứu

NĐV

Núi đá vôi

RTN

(Mollusca) được biết đến với khoảng 130.000 loài, phân bố rộng khắp. Trong ngành
Thân mềm, lớp Chân bụng (Gastropoda) là lớp đa dạng và phong phú nhất, có
khoảng 90.000 loài, chiếm khoảng 70% tổng số loài Thân mềm. Lớp thân mềm
Chân bụng (Gastropoda) là một trong 7 lớp thuộc Ngành thân mềm (Mollusca) có
vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái và có giá trị thực tiễn đối với con
người. Trong lớp Chân bụng có 3 phân lớp: Phân lớp Mang trước (prosobranchia),
phân lớp Mang sau (Opisthobranchia) và phân lớp Có phổi (Pulmonata). Trong 3
phân lớp này, phân lớp Mang sau hoàn toàn ở biển, phân lớp Mang trước tỷ lệ loài
sống ở nước chiếm phần lớn còn một số ở cạn, phân lớp Pulmonata sống trên cạn.
Trải qua sự tiến hóa hàng triệu năm của Thân mềm Chân bụng đã phát sinh nhiều
loài có số lượng loài phong phú chỉ đứng thứ 2 sau lớp côn trùng. Đặc biệt nhóm ở
cạn bởi môi trường sống đặc trưng nên đã hình thành nên đa dạng cao, nhiều loài
được dùng làm thực phẩm quan trọng cho con người, mang lại nguồn kinh tế cho
người dân tại khu vực. Trong hệ sinh thái có nhiều loài còn là thành phần không thể
thiếu trong chuỗi thức ăn và lưới thức ăn dành cho một số loài chim và thú ăn thịt
nhỏ. Tuy nhiên bên cạnh đó còn có một số loài là vật chủ trung gian lây truyền bệnh
cho con người và động vật. ở Việt Nam các nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng
còn hạn chế, nhiều vùng chưa có dẫn liệu. Các nghiên cứu từ rất sớm nhưng kéo dài
vài thế kỷ, kết quả nghiên cứu chưa phản ánh đầy đủ về đa dạng, đăc trưng về hình
thái, kích thước, phân loại, phân bố, giá trị trong thực tiễn. Các nghiên cứu cho thấy
vùng núi đá vôi là nơi tập trung nhiều ốc cạn về số lượng loài cũng như số lượng cá
7


thế. Thần Sa là một xã của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Xã nằm ở
phía bắc của huyện và được biết đến với và có nhiều khoáng sản quý như chì, kẽm,
vàng. Khu di tích Thần Sa nằm trọn trên địa bàn xã Thần Sa. Đặc trưng địa hình là
những dãy núi đá vôi dày đặc thuộc phần cuối của dãy núi Bắc Sơn và những dải
thung lũng hẹp dọc theo bờ sông Thần Sa. Tại khu di tích này đã phát hiện một nền
khảo cổ học Thần Sa gắn liền với thời đại đồ đá cũ có niên đại trên dưới 3 vạn năm

I.1.1.

Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm, tính chất
Hầu hết các loài ốc cạn được phát hiện dựa vào các đặc điểm hình thái của vỏ,
dấu hiệu được sử dụng nhiều trong mô tả, sự xoắn của vỏ ốc là tính chất phức tạp
trong vỏ ốc. Sự tiến hóa của dạng ống đã tạo nên vỏ xoắn quen gọi là vòng xoắn.
Các vòng xoắn chụm lại ở giữa trục (axis), trục này chạy xuyên trung tâm gọi là trụ
giữa (central pillar) của vỏ. Vòng xoắn (sutunre). Một vài loài vỏ mỏng có dường
thứ sinh hay một đường rộng (broad), thêm vào một dãy mở đục (opaque) bên cạnh
đường xoăn như đường xoắn kép. Hầu như trong các mẫu vỏ, vòng xoắn rộng nhất
là vòng xoắn cuối (last whorl). Đỉnh của vòng xoắn (apex), đối diện với đáy (base).
Phần mở ra bên ngoài của vỏ gọi là miệng vỏ (aperture).

a) Vỏ ốc

Vỏ ốc là một ống rỗng dài chứa cơ thể ốc, cuộn vòng quanh một trục tạo nên các
vòng xoắn. Hình dáng vỏ rất đa dạng có thể là hình cầu, hình nón, dạng tháp xoắn,
hình trụ, dạng con quay, dạng xoắn dài, dạng cuộn trong. Vỏ có thể dày hay mỏng,
chắc chắn hay không, trong suốt hay mờ đục. Vỏ có màu rất đa dạng, mỗi loài, thậm
chí mỗi cá thể có màu sắc khác nhau. Màu trên vỏ ốc thường được trang trí ở hầu
hết theo kiểu các dãy băng xoắn màu hẹp hay rộng hay có sọc. Vỏ có thể không có
trang trí màu gọi là không màu. Màu sắc vùng với các hoa văn gặp ở hầu hết các
loài ốc cạn có thể đặc trưng cho các taxa hậc giống hay phân giống. Trong cùng một
loài vẫn có sự sai khác đáng kể về màu sắc và hoa căn trên vỏ ốc nguyên nhân có
thể do môi trường sống, yếu tố mùa trong năm và đáng chú ý là giai đoạn còn non
có nhiều thay đổi so với trường thành111
Vỏ thường xoắn có hình hoặc dạng xoắn trong một mặt phẳng, có khi có nắp vỏ
(vẩy), hoặc không có nắp vỏ. Vỏ có thể bị tiêu giảm ở nhiều mức độ: Vỏ không
chứa đủ phần thân (giống ), vỏ bé và một phần vị vạt áo phủ (giống Aplysia), vạt áo

Các vòng xoắn bao gồm các vòng xoắn từ đỉnh vỏ tới vòng xoắn cuối cùng, trừ
lỗi miệng. Các vòng xoắn có thể thuận hay ngược chiều kim đồng hồ, có nhiều loài
ốc xoắn ngược (Neptunea angulate) và có nhiều loài có cả hai kiểu xoắn
(Amphidromus perversus); tròn đều, phồng lên hay phình ra ở phần dưới. Các vòng
xoắn có thể có hoa văn trang trí, đường viền có gai hay nốt sần, có hông hoặc
không. Số vòng xoắn của vỏ ốc cũng có thể thay đổi từ con non đến con trưởng
thành (Achatina fulica)
e) Miệng vỏ

Miệng vỏ là nơi ốc thông với bên ngoài. Ở vùng miệng vỏ có thể phân biệt bờ
trục (bờ trong hay bờ ngoài) và vành miệng ngoài (vành ngoài hay vành trên). Có
thể phân biệt góc trên và góc dưới lỗ miệng vỏ. Hình dạng lỗ miệng thay đổi: có thể
xiên, bầu dục, hìn thoi, hình thang, hình oval, hình bán nguyệt, hình quả lẻ... Bờ
viền của miệng là môi, được chia thành 4 khu vực: Bên ngoài môi, gốc môi, trụ môi
và môi trong vách. Trong hầu hêt các vỏ, môi trong vách không phân biệt, được
tách rời hay nối liền đi trước vòng xoắn và chỉ với một lớp mỏng có thể chai. Phía
ngoài và gốc môi trong có thể dày, loe ra hay cuộn lại. Miệng có thể có một hay
nhiều hơn các mấu chìa ra gọi là răng, tên của nó có thể tùy theo vị trí của chúng.
Gờ vành miềng ngoài có thể liên tục hay ngắt quãng ở bờ trụ. Lỗ miệng có nắp
miệng hay không.

11


Hình 1.2: các loại hình dạng miệng vỏ ốc
f)

Trụ ốc và lỗ rốn
Trụ ốc là do các vòng xoắn chập lại với nhau tạo nên. Trụ ốc có thể rỗng và mở
ra ngoài gần miệng tạo thành lỗ rốn, lỗ rốn cs thể rộng hay hẹo, nông hay sâu. Các

được chú ý nghiên cứu, đặc biệt là những loài có giá trị thực tiễn và nững loài
thường xuyên gây hại.
Các loài ốc cạn phân bố rộng ở nhiều dạng địa hình và sinh cảnh khác nhau.
Trên môi trường cạn, ốc và sên trần thường ưa sống ở những nơi ẩm ướt, giàu mùn
bã thực vật, rêu và tảo.
Kích thước cơ thể của ốc cạn dao động trong khoảng tương đối lớn, từ 1 hoặc
vài mm (ở họ Vertigini, Euconulidae) hàng chục cm (Camaena, Achatina,
Amphidromus) 1. Phần lớn các loài ốc cạn trong lớp Mang trước thường đơn tính,
trong khi phân lớp Có phổi thì lưỡng tính. Đối với các loài ốc cạn đơn tính, có ít sự
sai khác về hình thái ngoài giữa con đực và con cái. Tỉ lệ đực cái trong quần thể
tương ứng l:1 Trong ngành từ sinh sản chúng giao phối và thụ tinh, trứng được đẻ
thành từng đám trứng trong hốc đá, khe đá, quanh rễ cây hoặc trứng được đẻ thành

I.2.
I.2.1.
I.2.1.1.

từng đám trên mặt đất.
Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Vị trí địa lý

13


14


Tên gọi: Xã Thần Sa, Huyện Võ Nhai, Tỉnh Thái Nguyên
Tọa độ: 2100 51/ 26// Vĩ bắc, 1050 58/ 18// Kinh đông

15


Khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, lạnh về mùa đông, mặt khác do ảnh hưởng bởi
hoàn cảnh địa lý, địa hình của dãy núi Bắc Sơn tạo ra kiểu khí hậu khắc nghiệt hơn
so với các vùng khác, nóng về mùa hè, lạnh hơn và có sương muối về mùa đông.
Một năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9; mùa khô từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là 24 0C.
Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 6,7,8 nhiệt độ trung bình là 27,80C; thấp nhất là vào
tháng 1 trung bình 14,90C. Số giờ nắng bình quân trong năm là 1.402,5 giờ, cao
nhất vào tháng 9 là 2.305 giờ; thấp nhất vào tháng 3 là 43 giờ. Đây là môi trường
khí hậu thuận lợi cho ốc cạn sinh sống, sự chênh lệch nhiệt độ, độ ẩm, ượng mưa
giữa 2 mùa mưa và mùa khô là nhân tố quyết định sự khác biệt về phành phần loài
ốc cạn giữa hai mùa3
c) Thảm thực vật

Khu Thần Sa là nơi giao thoa của nhiều luồng thực vật khác nhau, kết hợp điều
kiện khí hậu và địa hình của khu vực tạo nên tính đa dạng, phong phú về thảm thực
vật ở đây. Thảm thực vật đặc trưng là của hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, các loài
động vật ở đây có ưu thế thích nghi với điều kiện địa hình hiểm trở3
I.2.1.3.

Tình hình kinh tế - xã hội
a) Dân số và lao động

So với các xã khác của huyện Võ Nhai, Thần Sa là một xã có tổng diện tích tự
nhiên rộng, xong dân số ít do đó vấn đề lao động cũng còn nhiều khó khăn (Năm
2012 có 558 hộ, 2.382 nhân khẩu; năm 2013 có 560 hộ, 2.394 nhân khẩu; năm 2014
có 562 với 2442 nhân khẩu). Qua 3 năm dân số tăng bình quân đạt 0,60%. Số hộ
0,60%. Nhìn chung tốc độ tăng dân số của xã tăng không đáng kể.3


Tình hình nghiên cứu về đa dạng ốc cạn
Trên thế giới
Việc nghiên cứu ốc cạn trên thế giới về khía cạnh phân loại và đặc điểm sinh
học, phân bố và sinh sản đã được tiến hành khá sớm và rộng rãi ở nhiều quốc gia
17


châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và một số quốc gia xung quanh như Nhật Bản, Trung
Quốc, Philippines, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan... Nghiên cứu sớm nhất là nhà khoa
học người Hy Lạp Aristotle (384-322 TCN).
Từ nửa cuối thế kỷ XVIII Linnaeus (1758) đã định tên cho ngành Thân mềm
(Mollusca), Cuvier (1795) đã định tên cho lớp Chân bụng (Gastropoda) 15
Đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XXI là thời kỳ phát triển mạng của ngành khoa
học nghiên cứu cơ bản về sinh vật nói chung và ốc cạn nói riêng. Hầu hết các phát
hiện trong giai đoạn này có số lượng lớn, được công bố bởi nhiều nhà khoa học, tiến
hành trên phạm vi rộng khắp thế giới bởi các nhà khoa học tiêu biểu thuộc các nước
Pháp, Anh, Đức, Hà Lan.. đã tiến hành nghiên cứu ốc cạn ở Châu Á. Giai đoạn này
có nhiều bảo tàng trên thế giới đã thu thập được một số khối lượng mẫu khổng lồ,
các tác giả đã công bố một số lượng lớn với các mô tả Giốngtiết hơn về hình thái.
Có thế nói quá trình nghiên cứu trong giai đoạn này đã tạo nên đà nghiên cứu sâu và
rộng hơn về ốc cạn trên toàn thế giới. Tuy nhiên vì kết quả nghiên cứu và công bố
trước đây chỉ tập trung tại một số bảo tàng lớn trên thế giới nên việc tiếp cận và sử
dụng tài liệu này còn hạn chế và không phổ biến.
Khu hệ ốc cạn của các nước lân cận Việt Nam cũng được quan tâm nhưng ở
mức độ khác nhau giữa các quốc gia. Khu hệ Thân mềm Chân bụng Trung Quốc
được công bố bởi nhiều tác giả, tiêu biểu như Möellendorff (1882, 1885, 1886),
Fischer và Dautzenberg (1904), Teng Chieng Yeng (1939, 1941, 1948)...
Dẫn liệu về ốc cạn của Thái Lan được công bố bởi Solem (1965, 1966), Panha
(1995, 1996) với 421 loài và phân loài thuộc 133 giống, 30 họ

chương trình khoa học quốc tế FFI (Flora and Fauna Intenational). Tuy thời gian
khảo sát không dài và địa bàn khảo sát hạn chế, song công trình đã công bố 259 loài
và phân loài thuộc 23 họ, 77 giống. Trong tổng số các loài đã công bố có đến 246
loài và phân loài (phân lớp ốc mang trước có 73 loài, phân lớp ốc Có phổi 186 loài)
được bổ sung cho thành phần loài khu hệ ốc cạn ở Việt Nam. Đáng chú ý là trong
số các loài được bổ sung có 123 loài còn chưa xác định được vị trí phân loại, đó có
thể là loài mới cho khoa học.
Năm 2006, Maaseen công bố 4 loài ốc mới (Arinia angduensis, Arinia
loumboensis, Eostrobilops infrequens, Hemiplecta esculenta) ở phía Bắc Việt Nam.
Trong giai đoạn 2007 đến 2013, có một số công trình nghiên cứu trên diện rộng
từ miền Trung ra miền Bắc đã có sự kết hợp chặt chẽ giữa Việt Nam và nước ngoài,
trong đó có các công trình: Nghiên cứu khu hệ ốc cạn miền Bắc Việt Nam của
19


nhóm nghiên cứu Ohara, Okubo, Otani, Lương Văn Hào (2008) phát hiện được 107
loài thuộc 17 họ; Ohara, Okubo, Ishibe, Nakahra, Otani, Lương văn Hào, Phạm Văn
Sáng (2007 – 2013) với số lượng loài tới gần 200 loài thuộc 20 họ.
Từ năm 2009 đến năm 2014, Đỗ Văn Nhượng và nhóm nghiên cứu thuộc trung
tâm Động vật đất, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có hàng loạt công bố về
thành phần loài ở một số khu vực phía Bắc Việt Nam như: 23 loài ở khu vực núi đá
vôi Sài Sơn ( Quốc Oai, Hà Nội) thuộc 18 giống, 15 họ, 3 bộ 12; 44 loài và phân
loài ở xóm Dù, vường quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ) thuộc 27 giống, 14 họ, 2 phân
lớp trong đó có nhóm ốc Có phổi chiếm ưu thế với 36 loài và phân loài 10. . Cũng
trong giai đoạn này, các khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ bắt đầu nghiên cứu
về ốc cạn, Nguyễn Thị Ngọc Anh cung cấp 48 loài ốc cạn trong đó có 36 loài chưa
từng gặp ở nơi nào khác ở Việt Nam ngoài khu vực Hàm Rồng, Thanh Hóa. Năm
2011, Nguyễn Thị Nhàn trong nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm phân bố
của ốc cạn ở Thúc Thủy (Tuyên Quang) đã xác định được 58 loài, thuộc 18 họ 8 .
Năm 2012 Nguyễn Thị Quỳnh đã phát hiện 62 loài thuộc 20 học ở khu vực núi đã

Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Mẫu ốc cạn ở các khu thuộc xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
được thu định tính và định lượng vào mùa khô và mùa mưa trong năm vì đây là
thời gian thích hợp cho các loài ốc phát triển. Phần lớn các mẫu ốc cạn được thu
theo các sinh cảnh khác nhau, căn cứ vào điều kiện tự nhiên, địa hình, loại đất canh
tác, mục đích sử dụng và loại cây trồng… có thể chia sinh cảnh ở KVNC theo 3 sin
cảnh khác nhau: Rừng tự nhiên trên núi đất; Rừng tự nhiên trên núi đá vôi và sinh
cảnh vườn nhà.

2.1.2.

-

Thời gian nghiên cứu
Các mẫu ốc cạn được thu định tính và định lượng vào mùa khô và mùa mưa
(tháng 04 năm 2016 và tháng 5 năm 2016)
Đợt 1: từ ngày 08 tháng 04 đến ngày 10 tháng 04 năm 2016
Đợt 2: từ ngày 28 tháng 04 đến ngày 01 tháng 05 năm 2016
Bảng 2.1: Địa điểm, thời gian, tọa độ và độ cao ở KVNC.
STT

Địa Điểm

1

Bản Trung Sơn

2


105o53’20.3” Đ
21o50’14.6”B
105053’41.8”Đ
21o49’04.5”B
105o55’06.9”Đ
21o51’07.4”B
105o53’13.2”Đ
21o51’23.3”B
105o55’48.3”Đ

+ Chọn vị trí thu mẫu:

22


Hình 2.1: Sơ đồ vị trí các điểm lấy mẫu tại xã Thần Sa.

23


2.2.
2.2.1.

Phương tiện và phương pháp nghiên cứu
Phương tiện nghiên cứu
+ Dụng cụ thiết bị thu mẫu: Xẻng nhỏ đào đắt, túi vải hoặc túi nilon đựng mẫu,
túi lưới, sàng rây mẫu đất có mắt lưới từ 3mm đến 8mm, thùng nhựa, giấy can ghi
nhãn, thước dây, thước palme, hóa chất bao gồm cồn 90o để lưu trữ mẫu.
+ Dụng cụ hỗ trợ: Máy ảnh, GPS, bản đồ, thước dây, sổ tay, đèn pin, dao, khay
nhựa.



Ô thu mẫu định lượng


Phương pháp điều tra cộng đồng địa phương:
Tiến hành phỏng vấn điều tra trực tiếp người dân, cán bộ quản lý – bảo tồng về
tình trạng và giá trị sử dụng của ốc cạn tại nơi thu mẫu và những người am hiểu và
quan tâm tới loài ốc cạn một số thông tin như: Nơi ở, thức ăn, giá trị kinh tế, tình
hình khai thác ốc cạn ở địa phương.



Phương pháp quan sát, ghi chép, chụp ảnh:
Quan sát bằng mắt thường nơi phân bố của ốc cạn, chúng có thể bám trên các bộ
phận của cây hay trên mặt đất, dưới thảm lá mục, trong hang đá, khe đá, chân núi đá
vôi. Quan sát tập tính kiếm ăn, di chuyển, hình thái bên ngoài, sự tác động của nhân
dân đối với nơi phân bố của ốc cạn.
Ghi chép đầy đủ thông tin về mẫu vật và môi trường vào sổ ghi chép thực địa.
Ảnh thực địa đã phản ánh được nội dung nghiên cứu như các loại sinh cảnh điển
hình, các loại thảm thực vật, các loại địa hình, các tính chất đặc biệt của KVNC, các
mẫu đang hoạt động, các loài cây làm thức ăn của ốc cạn, các vị trí tập trung nhiều
mẫu sống và chết.



Phương pháp phân chia sinh cảnh
Năm 2013, Đỗ Đức Sáng và Đỗ Văn Nhượng khi nghiên cứu về ốc cạn ở
KBTTN Copia đã chia thành 4 dạng sinh cảnh chính là Rừng trên núi đá vôi, rừng
trên đồi đất, rừng thông và đất canh tác. Do đó, căn cứ vào thực tế KVNC và theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status