BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN CÔNG MINH
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG ĐẠI DỊCH
COVID-19 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG TẠI TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2020
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI, 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN CÔNG MINH
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG ĐẠI DỊCH
COVID-19 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG TẠI TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2020
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Tuyết Hạnh
Giảng viên hướng dẫn
Chữ ký
HSSV
Học sinh sinh viên
ICTV
International Committee on Taxonomy of Viruses
MERS-CoV
Middle East Respiratory Syndrome Coronavirus –
Virus Corona gây Hội chứng hô hấp Trung đông
SARS-CoV
Severe acute respiratory syndrome Coronavirus –
Virus Corona gây Hội chứng Hô hấp cấp tính nặng
SARS-CoV-2 Severe acute respiratory syndrome coronavirus 2 –
Virus Corona gây bệnh viêm phổi cấp do virus
Corona mới (COVID-19)
THPT
Trung học phổ thông
WHO
World Health Organization – Tổ chức Y tế thế giới
Bảng 8
Thực hành phịng, chống COVID-19
Bảng 9
Trung bình điểm thực hành phịng, chống COVID-19
Bảng 10
Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành chung
Bảng 11
Mối liên quan đến thực hành không đi tới nơi đông người
Bảng 12
Mối liên quan đến thực hành đeo khẩu trang
Bảng 13
Mối liên quan đến thực hành rửa tay bằng xà phòng và nước sạch
Bảng 14
Kế hoạch nghiên cứu
Sơ đồ 1
sinh và nhà trường, các biện pháp phịng chống dịch COVID-19 cần phải được thực
hiện nghiêm, đặc biệt là giai đoạn các em quay trở lại trường sau đợt giãn cách xã hội
và nghỉ để phòng, chống dịch bệnh. Để làm tốt các biện pháp này đòi hỏi học sinh
cần phải có hiểu biết đầy đủ về dịch COVID-19 cũng như các biện pháp bảo vệ bản
thân và cộng đồng trước đại dịch đặc biệt nguy hiểm này.
Tỉnh Vĩnh Phúc là một trong các địa phương đầu tiên phát hiện người mắc
COVID-19 trên cả nước, hiện ghi nhận 19 ca mắc. Khối trường trung học phổ thông
(THPT) tại đây được nghỉ học muộn hơn các bậc học khác và muộn hơn so với hầu
hết tỉnh thành khác. Học sinh THPT tại tỉnh đã sớm được phổ biến và thực hành các
biện pháp phòng dịch. Phòng chống dịch COVID-19 là vô cùng cần thiết, nhất là ở
các cộng đồng có nguy cơ có thể bùng phát dịch, dễ bị lây bệnh như môi trường học
đường. Tuy nhiên, kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống dịch COVID-19 ở học
sinh THPT tại đây hiện ở mức độ nào và có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào
đang là một khoảng trống. Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi dự kiến thực hiện
một nghiên cứu cắt ngang trên 860 học sinh tại 03 trường THPT với mục tiêu: “Mơ
tả kiến thức, thái độ, thực hành phịng, chống đại dịch COVID-19 của học sinh một
số trường Trung học phổ thông, tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2020”; và “Xác định một số
yếu tố liên quan đến thực hành phòng, chống đại dịch COVID-19 của học sinh một
số trường Trung học phổ thông, tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2020”.
1
I. NỘI DUNG
1. Đặt vấn đề
Virus SARS-CoV-2 là là một chủng virus corona mới gây bệnh COVID-19
[20]. Người mắc COVID-19 có thể bị biến chứng viêm đường hơ hấp cấp nặng, nguy
cơ tử vong cao, đặc biệt với người cao tuổi, người có bệnh mạn tính, người có hệ
miễn dịch yếu [1]. Từ những ca nhiễm đầu tiên Trung Quốc, số ca mắc COVID-19
đã gia tăng nhanh chóng tại đây và lây lan ra hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tại
hành phòng chống đại dịch COVID-19 và một số yếu tố liên quan của học sinh
Trung học phổ thông tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2020” để tìm hiểu kiến thức, thái độ,
thực hành của học sinh THPT về phòng chống dịch bệnh nguy hiểm này cũng như
các yếu tố liên quan tới thực hành phòng chống dịch; từ đó cung cấp thơng tin kịp
thời cho các ban ngành địa phương trong chỉ đạo, phòng ngừa đại dịch.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu 1: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống đại dịch
COVID-19 của học sinh một số trường Trung học phổ thông, tỉnh Vĩnh Phúc, năm
2020.
Mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng, chống đại
dịch COVID-19 của học sinh một số trường Trung học phổ thông, tỉnh Vĩnh Phúc,
năm 2020.
3. Tổng quan tài liệu
3.1 Một số khái niệm
Virus Corona (CoV): là một họ virus lây truyền từ động vật sang người, có
khả năng gây ra các bệnh viêm đường hơ hấp cấp tính nguy hiểm, đe dọa tính mạng
người bệnh như Hội chứng hơ hấp cấp tính nặng (SARS- CoV) năm 2002 và Hội
chứng hơ hấp Trung Đông (MERS-CoV) năm 2012 [1] [18].
SARS-CoV-2: là virus Hội chứng hơ hấp cấp tính nặng Corona-2, một chủng
mới của virus Corona, đã được xác định là căn nguyên gây dịch viêm đường hơ hấp
cấp tính (COVID-19) [18].
COVID-19: là bệnh do virus SARS-CoV-2 gây ra được Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) và Ủy ban quốc tế về phân loại virus (ICTV) đặt tên [20].
3.2 Tình hình dịch COVID-19 trên thế giới và Việt Nam
3
Dịch COVID-19 bắt đầu xuất hiện và lây lan tại thành Phố Vũ Hán (Trung
Quốc) từ cuối tháng 12/2019, sau đó đã lan rộng ra tồn Trung Quốc và hầu hết các
ban đầu, 60% người mắc có lịch sử tiếp xúc với chợ hải sản Hoa Nam [10] [24] [18].
Đường lây truyền
Sự lây truyền từ người sang người đã được xác nhận gần đây. Virus corona
chủ yếu lây lan qua các giọt bị bắn ra trong khơng khí khi một cá nhân bị nhiễm bệnh
ho hoặc hắt hơi hoặc tiếp xúc gián tiếp với các chất tiết của người bệnh qua đồ vật,
môi trường xung quanh [1].
Khả năng lây truyền
Nghiên cứu của tác giả Q. Li cho thấy hệ số lây nhiễm cơ bản (R0) của virus
SARS-CoV-2 là 2,2, có nghĩa là một người bị nhiễm virus có thể lây nhiễm cho trung
bình 2,2 người khác [13]. Trong nghiên cứu này chỉ rất ít trường hợp xảy ra ở trẻ em,
gần một nửa số bệnh nhân là người từ 60 tuổi trở lên (tuổi trung bình là 59 tuổi) [13].
Yếu tố nguy cơ
Theo các thống kê trên thế giới cho thấy: những người lớn tuổi, có bệnh mạn
tính, hệ miễn dịch yếu là những người có nguy cơ mắc và tử vong cao vì bệnh
COVID-19 [8], [12], [22], [15]. Nghiên cứu trên 191 bệnh nhân COVID-19 tại Bệnh
viện Jinyintan và Bệnh viện phổi Vũ Hán (Trung Quốc) cho thấy bệnh nhân thường
mắc bệnh mạn tính như tăng huyết áp (30%), tiểu đường (19%) và bệnh mạch vành
(8%); Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân COVID-19 tăng lên liên quan đến tuổi già (OR:
1,10; 95% CI: 1,03-1,17; p=0,0043) [22]. Nhiều nghiên cứu khác tại Trung Quốc
cũng chỉ ra sự xuất hiện của các bệnh trên ở bệnh nhân COVID-19 [8]. Tác giả S.Law
khi phân tích các biện pháp phịng ngừa, kiểm sốt dịch COVID-19 tại Hồng Kông
xác định rằng bệnh nhân trẻ tuổi hơn có cơ hội phục hồi tốt hơn nhưng bệnh nhân từ
40 đến 50 tuổi [12].
Trong một nghiên cứu tại Italy với 33 bệnh nhân COVID-19 cần chăm sức
tích cực, có 91% là nam giới, độ tuổi trung bình là 64 và có 88% bệnh nhân bị thừa
cân hoặc béo phì; 45% mắc tăng huyết áp [15]. Nghiên cứu của María Dolores Arenas
cho rằng với sự bùng phát hiện tại của COVID-19, hoạt động của phòng chạy thận
5
6
kiến thức trung bình là 10,8 (SD:1,6) đa số những người được hỏi (97,1%) có niềm
tin rằng có thể chiến thắng dịch bệnh, gần như tất cả những người (98,0%) đều đeo
khẩu trang khi đi ra ngoài trong thời gian gần đây [21].
Nghiên cứu tại Paraguay trên 3141 người có độ tuổi trung bình 29,55 (SD:
10,7) về kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống COVID-19 cho thấy tỷ lệ đạt
kiến thức chung là 62%, điểm kiến thức trung bình là 7,45 (SD:1,51). Đa số người
được hỏi (66,28%) đồng ý rằng dịch bệnh sẽ được kiểm sốt thành cơng; 88,35%
người tham gia nghiên cứu đã không tới bất kỳ chỗ đơng người nào và có 74, 31% có
sử dụng khẩu trang khi đi ra ngoài trong những ngày gần đây [16].
Nghiên cứu của Zhou M và cộng sự thực hiện với 1357 nhân viên y tế tại bệnh
viện Hà Nam (Trung Quốc) cũng cho thấy đa số các nhân viên y tế nắm vững kiến
thức về bệnh (89%), hơn 85% có lo sợ bị nhiễm virus khi làm việc và 87,9% tuân thủ
các thực hành đúng về phòng, chống COVID-19 [23]. Một khảo sát trực tuyến khác
trên 860 nha sĩ (có trình độ cử nhân, thạc sĩ, bác sĩ và tiến sĩ) trên 5 châu lục cho thấy
điểm kiến thức và thực hành đạt ở 92,7% và 79,5% các nha sĩ [11].
Khảo sát 4016 người dân tại tỉnh An Huy (Trung Quốc) có độ tuổi trung bình
là 21 cho biết, các mạng xã hội là nguồn cung cấp thông tin chính về dịch bệnh
(97,8)%. Các triệu trứng bệnh được biết đến nhiều nhất là Ho (99,5%); Sốt (96%).
Đường lây truyền được biết đến nhiều nhất là qua giọt bắn đường hơ hấp (99,5%),
qua tiếp xúc là 92,3%. Có 92,6% người dân cho rằng dịch bệnh là đáng sợ; 71,9%
người dân hài lịng với các biện pháp kiểm sốt dịch của địa phương. Việc chấp hành
không tụ tập đông người được thực hiện ở hầu hết mọi người (97,4%) và 93,6% người
dân thường xuyên đeo khẩu trang [6].
3.4 Một số yếu tố liên quan đến thực hành về phòng chống dịch COVID-19
Trên thế giới, kết quả tìm kiếm trên cơ sở dữ liệu ScienceDirect.com, PubMed
chưa ghi nhận nghiên cứu nào tìm hiểu mối liên quan đến thực hành phòng, chống
sinh trung học cơ sở và tiểu học [16].
Người có bậc học thạc sĩ thái độ khơng rõ ràng về khả năng thành công đẩy
lùi dịch bệnh nhiều gấp 2,23 lần người có trình độ trung học trở xuống (95%CI: 1,543,23; p
Các biện pháp phòng ngừa quan trọng
Kiến thức chung
Đánh giá kiến thức
Thái độ phòng, chống dịch COVID-19
o Lo lắng về nguy cơ lây nhiễm
o Mức độ tin tưởng khả năng thành công của
công tác phòng dịch
o Mức độ hài lòng với các biện pháp chống
dịch của nhà trường
o Thái độ chung
o Đánh giá thái độ
Đặc điểm cá nhân
o
o
o
o
Giới tính
Tuổi
Khối lớp
Khu vực sống
Thực hành phịng,
chống đại dịch
COVID-19
Sơ đồ 1: Khung lý thuyết
chọn mẫu cụm.
Z: hệ số tin cậy, với = 0,05, Z(1 - /2) = 1,96.
Theo cơng thức trên thì cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 768 học sinh.
Để đảm bảo loại bỏ các nguy cơ sai số trong quá trình chọn mẫu, thu thập, cỡ
mẫu được tăng thêm 10% và làm tròn là 840 học sinh.
Giả định rằng số lượng học sinh trung bình từ 40 - 45 học sinh, ở từng khối
lớp sẽ lựa chọn toàn bộ học sinh trong 02 lớp tham gia nghiên cứu, mỗi trường chọn
6 lớp. Như vậy, có tất cả 18 lớp đại diện cho toàn bộ 3 trường THPT tham gia vào
nghiên cứu này.
11
*Phương pháp chọn mẫu:
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm, đảm bảo tiêu chí lấy mẫu
đa dạng giữa nhóm học sinh thuộc 03 khối lớp (lớp 10, lớp 11, lớp 12), nhóm học
sinh thuộc các khu vực trên địa bàn thành phố (khu vực thành phố và huyện thị) và
giữa nhóm học sinh theo học các loại hình đạo tạo khác nhau.
Bước 1: Lập danh sách các trường THPT đã được thống kê trên website của
Sở GD&ĐT tỉnh Vĩnh Phúc, trong đó có 12 trường (34,2%) ở khu vực thành phố, 23
trường (65,7%) ở khu vực huyện thị.
Bước 2: Lựa chọn ngẫu nhiên 03 trường, đảm bảo tiêu chí đa dạng về địa giới
hành chính và loại hình đào tạo. Theo đó xác định được 01 trường ở thành phố là 02
trường ở huyện thị bằng phương pháp chọn ngẫu nghiên hệ thống.
+ Khu vực thành phố: trường THPT dân lập Vĩnh Yên (trường dân lập)
+ Khu vực huyện thị: trường THPT Bình Xun (trường cơng lập) và trường
THPT Đồng Đậu (trường công lập)
Bước 3: Chọn đối tượng tham gia nghiên cứu tại mỗi trường, ở mỗi khối học
chọn ngẫu nhiên 02 lớp, toàn bộ học sinh của 02 lớp này sẽ tham gia nghiên cứu.
Tổng số lớp học được chọn là 06 lớp/trường.
Khi xét mối liên quan giữa kiến thức và thực hành thì kiến thức là biến độc lập
và thực hành là biến phụ thuộc. Khi xét mối liên quan giữa thái độ và thực hành, thái
độ là biến độc lập và thực hành là biến phụ thuộc.
13
Bảng 1: Các biến số nghiên cứu
STT
Biến số nghiên cứu
Phần 1: Đặc điểm nhân khẩu học
1 Tuổi
2 Giới tính
3 Khối lớp
4 Trường học
5 Dân tộc
6 Tôn giáo
7 Khu vực sống
Phần 2: Nguồn thông tin
8 Nhận biết về dịch COVID19
9 Nguồn nghe được thông tin
Định nghĩa
Là tuổi dương lịch của ĐTNC
Giới tính của ĐTNC
Khối lớp mà ĐTNC đang học
Trường mà ĐTNC đang học
ĐTNC là người dân tộc nào
Kiến thức của ĐTNC về nguồn
gốc bệnh COVID-19
17 Khả năng lây truyền của Kiến thức của ĐTNC về khả
người nhiễm
năng lây truyền của người mắc
COVID-19
18 Đường lây truyền hô hấp
Kiến thức của ĐTNC về đường
lây truyền hô hấp của bệnh
COVID-19
Loại biến,
thang đo
Liên tục
Nhị phân
Thứ bậc
Định danh
Định danh
Nhị phân
Nhị phân
Nhị phân
Định danh
Thứ bậc
Định danh
Định danh
Định danh
Định danh
Định danh
Định danh
với gần với người mắc COVID19
24 Giãn cách xã hội
Kiến thức của ĐTNC về hiệu
quả của biện pháp giãn cách xã
hội
25 Đường lây truyền tiếp xúc Kiến thức của ĐTNC về đường
lây truyền COVID-19 qua tiếp
xúc
26 Điểm kiến thức chung
Điểm kiến thức chung của
ĐTNC
27 Đánh giá kiến thức
Đánh giá kiến thức phòng,
chống dịch của ĐTNC
Phần 4: Thái độ phòng chống dịch COVID-19
28 Sự lo lắng bị lây nhiễm
Sự lo lắng của ĐTNC bị lây
nhiễm COVID-19 ở trường học
29 Mức độ tin tưởng vào thành
cơng của cơng tác phịng
dịch
30 Mức độ hài lòng với các
biện pháp chống dịch
Định danh
Định danh
Định danh
Định danh
Phần 5: Thực hành phòng bệnh COVID-19
33 Đi tới nơi đông người
Thực hành không đi tới nơi
Nhị phân
đông người của ĐTNC khi tiếp
15
34
35
36
37
38
xúc với người có biểu hiện ho,
sốt
Thực hành đeo khẩu trang Thực hành đeo khẩu trang của
ĐTNC khi tiếp xúc với người có
biểu hiện ho, sốt
Thực hành rửa tay
Thực hành 6 bước rửa tay bằng
xà phòng của ĐTNC sau khi che
mũi, miệng lúc ho, hắt hơi hoặc
sau khi tháo khẩu trang
Thực hành phòng, chống Thực hành các biện pháp phòng,
COVID-19 khi đi học trở lại chống dịch khi đi học trở lại của
*Phương pháp đánh giá thái độ: Mỗi câu trả lời tích cực về thái độ tích cực
được 01-02 điểm, điểm càng cao thì thái độ của đối tượng càng tích cực.
*Phương pháp đánh giá thực hành: Mỗi câu trả lời thực hành tốt được 02 điểm,
trả lời thực hành ở mức độ khá thường xuyên được 01 điểm, thực hành ở mức độ
thường xuyên được 02 điểm, điểm càng cao thì thực hành của đối tượng càng tốt.
(Phụ lục 05: Hướng dẫn đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của ĐTNC)
16
*Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích
với phần mềm SPSS 22.0 theo các mục tiêu của nghiên cứu.
Thống kê mô tả về điểm kiến thức sử dụng giá trị trung bình/độ lệch chuẩn
(phân bố chuẩn) hoặc trung vị/khoảng phân vị (phân bố lệch chuẩn)
Sử dụng kiểm định t-test/ANOVA so sánh sự khác biệt điểm kiến thức, thái
độ, thực hành giữa các nhóm đối tượng; Kiểm định χ2 để so sánh sự khác biệt giữa
các tỷ lệ, sử dụng tỷ suất chênh OR để tìm yếu tố liên quan.
4.8. Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên
cứu trước khi tiến hành thu thập số liệu. Chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác
tham gia của đối tượng. Các đối tượng dưới 18 tuổi chỉ tham gia nghiên cứu khi có
sự đồng ý của gia đình/người giám hộ. Các đối tượng khi đồng ý tham gia nghiên cứu
sẽ ký vào: “Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu”.
Đối tượng có thể từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào mà bản thân khơng muốn
và có thể dừng cuộc khảo sát mà khơng chịu bất cứ sự ràng buộc nào về mặt pháp lý.
Đối tượng tham gia sẽ không bị ảnh hưởng hay chịu bất kỳ một tác động xấu nào từ
nghiên cứu. Đối tượng có thể yêu cầu nhóm gửi bản kết quả phân tích sau khi thực
hiện nghiên cứu. Những thơng tin cá nhân mà đối tượng tham gia nghiên cứu cung
cấp được bảo mật. Các số liệu, thông tin thu thập được mã hóa dưới dạng số và chỉ
trả lời sai nội dung câu
hỏi.
Trong quá trình trả lời
phiếu phát vấn, học sinh
trao đổi, sao chép kết quả
với nhau.
Sai số xảy ra do lựa chọn cỡ mẫu chưa đủ lớn để đại
diện cho quần thể.
Cách khắc phục
Xây dựng bộ câu hỏi rõ ràng, dễ
hiểu, phù hợp với hình thức phát
vấn để thu thập tối đa thơng tin
chính xác nhất của học sinh.
Trước khi phát vấn, điều tra viên
phổ biến, giải thích rõ các cụm
từ mà học sinh chưa rõ. Đồng
thời hướng dẫn cách điền theo
thứ tự bộ câu hỏi, để học sinh
tránh nhầm lẫn.
Chọn mẫu ngẫu nhiên và tăng cỡ
mẫu thêm 10%, để có số lượng
đối tượng gần giống với quần thể
nhất.
18
5. Dự kiến kết quả, kết luận và khuyến nghị
5.1 Dự kiến kết quả