DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG TÓM TẮT LUẬN ÁN
TT
Phần viết tắt
Phần viết đầy đủ
1
NB
Người bệnh
2
ĐTĐ
Đái tháo đường
3
Nhóm NC
Nhóm nghiên cứu
4
ELISA
Enzyme-Linked Immunosorbent Assay
(Phương pháp miễn dịch gắn enzym)
10
AACE/ACE
American
Association
of
Endocrinologists/American
Clinical
College
Endocrinology
11
ADA
American Diabestes Association
12
BMI
Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)
13
MAU
Microalbumin niệu
19
MAC
Macroalbumin niệu
20
WHO
World Health Oganization
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh nội tiết chuyển hóa mạn tính,
tỉ lệ bệnh tăng rất nhanh trên toàn thế giới. Những lý thuyết mới về
bệnh ĐTĐ liên tục được cập nhật trong đó có incretin. Incretin là
những hormone dạng peptide, bao gồm glucagon - like peptide - 1
(GLP-1) và glucose - dependent insulinotroic polypeptide. GLP - 1
được tạo thành ở ruột non và đại tràng, nó kích thích tiết insulin phụ
thuộc vào glucose làm giảm glucose máu. Các nghiên cứu cho thấy
GLP - 1 còn có nhiều tác dụng có lợi như: kích thích tụy tái sinh và
tăng sinh, chống lại sự chết theo chương trình của tế bào β, bảo vệ
thần kinh, bảo vệ tim… Hiện nay, trên thế giới đã đưa liệu pháp
tim mạch, thần kinh ngoại vi), từ đó rút ra khuyến nghị một trong
những biện pháp điều trị để ngăn chặn sự xuất hiện cũng như tiến
triển biến chứng mạn tính ở NB ĐTĐ týp 2 là sử dụng thuốc tác động
làm tăng nồng độ GLP-1.
- Sau can thiệp sitagliptin thấy nồng độ GLP-1 khi đói được
khôi phục tương tự như người bình thường, nồng độ GLP-1 cũng
tăng ở nhóm có kiểm soát tốt glucose máu, HbA1c, giảm chỉ số
kháng insulin và tăng độ nhạy insulin sau điều trị. Từ đó khuyến cáo
sử dụng sớm sitagliptin trong điều trị ngay từ giai đoạn mới chẩn
đoán ĐTĐ týp 2 mang lại nhiều lợi ích tích cực cho người bệnh.
* Cấu trúc luận án: luận án có 136 trang (không kể phụ lục và tài
liệu tham khảo): đặt vấn đề 2 trang, tổng quan tài liệu 35 trang, đối
tượng và phương pháp nghiên cứu 24 trang, kết quả nghiên cứu 32
trang, bàn luận 40 trang, kết luận và kiến nghị 3 trang. Kết quả
nghiên cứu có 40 bảng, 14 biểu đồ, 2 sơ đồ. Có 142 tài liệu tham
khảo gồm: 32 tài liệu tiếng Việt, 110 tài liệu tiếng Anh.
4
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Bệnh đái tháo đường
ĐTĐ là “một nhóm bệnh chuyển hóa với đặc trưng tăng
glucose máu, do sự tiết insulin bị thiếu hụt hoặc do insulin tác dụng
kém, hoặc do cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ dẫn đến
những thương tổn, rối loạn chức năng và suy yếu nhiều cơ quan, đặc
biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu”.
Dựa theo tổn thương mạch máu của NB ĐTĐ týp 2 người ta
chia thành 2 nhóm biến chứng mạn tính: biến chứng mạch máu nhỏ:
bệnh võng mạc mắt, bệnh thận, bệnh thần kinh ngoại vi. Biến chứng
mạch máu lớn: bệnh mạch vành, bệnh mạch máu não, bệnh mạch
hóa, tăng sống sót, giảm chết theo chương trình.
- Tác dụng lên tế bào α và δ tụy: tăng bài tiết somatostatin,
giảm bài tiết glucagon.
- Làm chậm rỗng dạ dày, giảm thèm ăn.
- Ảnh hưởng cân nặng: giảm cân.
- Bảo vệ thần kinh: có tác dụng bảo vệ thần kinh.
- Bảo vệ tim mạch: cải thiện các yếu tố nguy cơ (huyết áp,
lipid, yếu tố viêm…)
- Ảnh hưởng đến xương: tăng tân tạo, giảm hủy xương
1.3. Vai trò của GLP-1 với đái tháo đường týp 2
1.3.1. Vai trò của GLP-1 trong cơ chế bệnh sinh
* Sự suy giảm bài tiết GLP-1 và ảnh hưởng của nó đến bài
tiết insulin ở người bệnh ĐTĐ týp 2
Có nhiều nghiên cứu về GLP-1 đã công bố chứng minh ở NB
ĐTĐ týp 2 giảm bài tiết GLP-1 ở cả trạng thái cơ bản và sau ăn, làm
suy giảm kích thích bài tiết insulin, đây được coi là cơ chế quan trọng
6
trong diễn biến của bệnh ĐTĐ. Vilsboll T. (2003) thấy ở NB ĐTĐ
týp 2 có giảm đáp ứng của incretin với thức ăn trong ruột hoặc sau
các bữa ăn đạt chuẩn mà nguyên nhân là do có sự giảm bài tiết GLP1. Nghiên cứu trên các đối tượng sinh đôi không cùng trứng bị ĐTĐ
đều thấy đáp ứng của GLP-1 ở các đối tượng này đều giảm.
* Tác động của GLP-1 lên tế bào beta
Ở NB ĐTĐ týp 2 có hiện tượng giảm bài tiết incretin, chính
hiện tượng này đã tác động trở lại làm suy yếu thêm chức năng tế bào
beta và tăng kháng insulin. Điều trị với GLP-1 làm giảm tỷ lệ chết
theo chương chình của tế bào beta 20% và bảo vệ tế bào beta khỏi
tình trạng ngộ độc glucose và lipid.
1.3.2. Vai trò của GLP-1 trong biến chứng mạn tính
sau ăn, HbA1c; giảm lipid sau ăn; tăng chỉ số chức năng tế bào beta,
giảm tỷ lệ proinsulin/insulin; chống viêm; chống stress oxy hóa…
1.4. Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài về GLP - 1
Năm 1986 người ta đã chứng minh incretin giảm ở NB ĐTĐ
týp 2. GLP-1 - incretin thứ 2 phát hiện trên người năm 1987.
Tác giả Nielsen T. M. (2001) nghiên cứu trên NB ĐTĐ týp
2 thấy nồng độ GLP-1 khi đói trung bình là 6,6 ± 0,5 pmol/l.
Nghiên cứu của Vilsboll T. (2001) trên NB ĐTĐ týp 2 mới
chẩn đoán thấy nồng độ GLP-1 thấp hơn so với người khỏe mạnh.
Nghiên cứu của Ryskjaer J. (2006) trên 40 NB ĐTĐ týp 2
mới chẩn đoán: GLP-1 khi đói là 7,3 ± 0,6 pmol/l, ở NB được điều trị
có metformin nồng độ GLP-1 trung bình là 23,6 ± 1,8 pmol/l.
Nghiên cứu của Sakura H. (2016) sử dụng 50mg
sitagliptin/ngày điều trị NB ĐTĐ týp 2: giảm HbA1c được - 0,73%,
tỷ lệ đạt mục tiêu điều trị 53,1%.
8
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồ Lan (2015) tại
bệnh viện Nội tiết Trung ương thấy nồng độ cơ bản GLP-1 ở NB
ĐTĐ týp 2 (đã điều trị) thấp hơn so với nhóm chứng (p < 0,001).
Tuy nhiên, hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về nồng
độ GLP-1 và điều trị sitagliptin ở NB ĐTĐ týp 2 chẩn đoán lần đầu.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 270 người chia thành 3 nhóm: nhóm nghiên cứu: 170
NB ĐTĐ týp 2 chẩn đoán lần đầu, lựa chọn đươc 44 NB đủ tiêu
chuẩn can thiệp điều trị đơn trị liệu sitagliptin 100mg/ngày. Nhóm
chứng bệnh: 48 NB đang điều trị ĐTĐ týp 2. Nhóm chứng thường:
52 người bình thường.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại khỏi nghiên cứu
* Nhóm nghiên cứu: ĐTĐ týp 1, ĐTĐ có nguyên nhân. NB
có bệnh lý nặng kèm theo (hôm mê, suy tim…). NB có glucose máu
khi đói ≥ 25 mmol/l hoặc ≤ 3,9 mmol/l và nồng độ C-peptid ≥ 3,5
nmol/l hoặc ≤ 0,2 nmol/l, các bệnh nhiễm trùng, có thai. NB già yếu,
suy kiệt nặng, rối loạn tâm thần, viêm gan, bệnh thận không liên quan
ĐTĐ, suy tim mất bù. NB đang điều trị ung thư, nghiện rượu. NB đã
phẫu thuật tiêu hóa, đang điều trị các bệnh tiêu hóa, đã sử dụng thuốc
nam điều trị bệnh.
* Nhóm chứng bệnh: NB dùng liệu pháp incretin (chất đồng
vận thụ thể GLP-1 hoặc chất ức chế DPP-4) trong điều trị ĐTĐ. Các
tiêu chuẩn loại khỏi nghiên cứu của nhóm nghiên cứu.
* Nhóm chứng thường: người đã phẫu thuật ống tiêu hóa
(cắt dạ dày, cắt đoạn ruột), nghiện rượu, đang điều trị các bệnh lý ống
10
tiêu hóa từ trước, đang điều trị các bệnh lý cấp tính khác, rối loạn
lipid máu, tăng huyết áp, thừa cân béo phì.
Các đối tượng không hợp tác, không thu thập đủ chỉ tiêu
nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu, mô tả cắt ngang, can
thiệp theo dõi dọc trước và sau điều trị, so sánh với nhóm chứng.
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Nội Tiết Trung
ương. Thời gian nghiên cứu từ 11/2014 đến 06/2016.
Cách chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện có chủ đích.
2.2.2. Nội dung và các biến số sử dụng trong nghiên cứu
* Nhóm nghiên cứu:
* Nhóm chứng thường: tuổi, giới, chỉ số BMI, huyết áp tâm
thu, tâm trương, điện tâm đồ, định lượng glucose máu khi đói,
insulin, C-peptid, lipid máu, GOT, GPT, ure, creatinin, nước tiểu,
định lượng GLP-1 khi đói và sau 2 giờ uống 75 gam glucose, tính các
chỉ số HOMA2.
2.2.3. Định lượng glucagon - like peptid - 1
* Nguyên lý: dựa trên phản ứng đặc hiệu giữa kháng thể
được gắn ở đáy giếng ELISA với kháng nguyên GLP-1 trong huyết
thanh của NB, kết hợp với sự chuyển màu của cơ chất đặc hiệu trong
phản ứng ELISA, đo màu ở máy phổ quang kế bước sóng 450 nm.
* Nơi tiến hành: Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Y Sinh
Dược - Học viện Quân Y.
* Các bước tiến hành: lấy máu tĩnh mạch ở 2 thời điểm cho
vào ống nghiệm EDTA (có sẵn DDP-4 inhibitor): lần 1: khi đói, NB
12
nhịn ăn ít nhất 8 giờ (nhịn ăn qua 1 đêm). Lần 2: 2 giờ sau khi NB
uống 75 gam glucose, lắc đều, li tâm tách lấy phần huyết thanh. Tiến
hành làm phản ứng ELISA. Tính toán kết quả, đơn vị tính: pmol/l.
* Nhận định kết quả: dựa theo giá trị trung
bình và độ lệch chuẩn về
X
nồng độ GLP-1 của nhóm chứng thường
(
X
+ Giảm: nồng độ GLP-1
Nhóm nghiên cứu tỷ lệ nam là 52,9%, nữ 47,1%, tuổi trung
bình là 55,00 ± 10,35 năm, không có sự khác biệt về tuổi, giới giữa 3
nhóm. BMI của nhóm nghiên cứu (22,38 ± 2,81 kg/m 2) cao hơn
nhóm chứng thường 20,67 ± 1,78 kg/m2, tương đương với chứng
bệnh 22,59 ± 2,90 kg/m2. Tỷ lệ NB thừa cân 22,4%, béo phì 18,3%.
Nhóm nghiên cứu tỷ lệ tăng triglycerid là 58,8%, tăng
cholesterol 55,9%, tăng LDL-C 46,3%, tăng HDL-C 14,1%, tỷ lệ rối
loạn lipid chung là 80,6%.
Chỉ số HOMA-B của nhóm nghiên cứu (44,16 ± 33,98%) và
nhóm chứng bệnh (53,30 ± 46,70%) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so
với nhóm chứng thường (105,85 ± 31,24%). Chỉ số HOMA-IR của
nhóm nghiên cứu (2,87 ± 2,06) và nhóm chứng bệnh (3,44 ± 2,43)
cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm người bình thường (1,39 ±
0,61). Ở nhóm nghiên cứu, tỷ lệ giảm chỉ số HOMA-B là 58,2%,
giảm chỉ số HOMA-S là 55,9% và tăng HOMA-IR là 55,3%.
- Nhóm nghiên cứu, nồng độ glucose máu trung bình lúc đói: 11,90
± 4,49 mmol/l, HbA1c: 9,55 ± 2,63%, C-peptid: 0,86 ± 0,54 nmol/l),
insulin: 86,08 ± 71,36 pmol/l cao hơn so với nhóm chứng thường.
Tỷ lệ NB chẩn đoán ĐTĐ bằng glucose máu ngẫu nhiên + lâm
sàng là 48,8%, chẩn đoán bằng HbA1c là 7,1%, chẩn đoán bằng glucose
máu khi đói là 20,6% và bằng nghiệm pháp dung nạp glucose là 23,5%.
- Tỷ lệ NB có dày vách liên thất - dày thất là 12,4%, tỷ lệ có
dày nội trung mạc động mạch đùi là 35,7%, vữa xơ động mạch mạch
đùi là 24,8%, biến chứng mắt là 20,1%, MAU (+) là 7,5%, biến
chứng thận là 20,6%, biến chứng thần kinh ngoại vi là 35,0%.
14
3.2. Nồng độ glucagon - like peptid -1 và mối liên quan với đặc
điểm lâm sàng, xét nghiệm và biến chứng mạn tính
(2,3)
p
p
< 0,001, p
(1,2)
< 0,05, p
X
(1,3)
12,97 ± 5,85
- SD: 7,12
< 0,001
Nồng độ trung bình GLP-1 của nhóm nghiên cứu thấp hơn có
ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng bệnh và nhóm người bình
thường (p < 0,001). Nồng độ trung bình GLP-1 của nhóm chứng
bệnh thấp hơn so với nhóm người bình thường (p < 0,05).
Bảng 3.14. So sánh giá trị trung bình GLP-1 khi đói và sau 2 giờ uống 75
gam glucose của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng thường
Khi đói
Sau 2 giờ uống 75
GLP-1
15
Bảng 3.15. Tỷ lệ giảm nồng độ GLP-1 khi đói và sau 2 giờ uống 75 gam
glucose ở nhóm nghiên cứu
GLP-1
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
Khi đói (n = 170)
103
60,6
Sau 2 giờ (n = 33)
3
9,1
Tỷ lệ NB có giảm nồng độ GLP-1 khi đói cao (60,6%). Tỷ lệ
giảm nồng độ GLP-1 sau 2 giờ uống 75 gam glucose thấp (9,1%).
Không có sự khác bệt về nồng độ trung bình và tỷ lệ giảm
của GLP-1 giữa các nhóm người bệnh được chẩn đoán đái tháo
đường theo các tiêu chuẩn chẩn đoán của ADA - 2015 (p > 0,05).
3.2.2. Liên quan giữa nồng độ GLP-1 với đặc điểm lâm sàng
- Nồng độ trung bình GLP-1 khi đói và sau 2 giờ uống 75
- Nồng độ trung bình GLP-1 giảm có ý nghĩa thống kê ở
nhóm NB có dày vách liên thất dày thất hoặc dày nội mạc động mạch
đùi. Phân tích tương quan hồi quy đa biến logistics thấy sự xuất hiện
vữa xơ động mạch đùi có liên quan đến giảm nồng độ GLP-1, tăng
cholesterol, CRPhs và triglycerid (p < 0,05).
- Phân tích tương quan hồi quy đa biến logistics thấy nồng độ
GLP-1 giảm, tăng gluocse máu khi đói ảnh hưởng có ý nghĩa thống
kê đến sự xuất hiện MAU niệu (p < 0,05). Nồng độ trung bình GLP-1
giảm, tỷ lệ NB giảm GLP-1 tăng có ý nghĩa thống kê ở NB có biến
chứng thận.
3.3. Sự thay đổi nồng độ GLP - 1 sau điều trị bằng sitagliptin
3.3.1. Sự thay đổi của một số chỉ số xét nghiệm và HOMA2
Nồng độ trung bình của HbA1c giảm (-0,43 ± 0,86%),
glucose máu khi đói giảm (-3,14 ± 3,27 mmol/l), cholesterol, LDL-C
17
giảm có ý nghĩa thống kê sau điều trị. Tỷ lệ NB đạt kiểm soát mức tốt
chấp nhận của HbA1c 90,9%, của glucose máu khi đói 77,3%.
Chỉ số HOMA2-B trung bình tăng (36,28 ± 45,40%) có ý
nghĩa thống kê sau điều trị (p < 0,001). Chỉ số HOMA2-IR giảm (0,54 ± 1,68) có ý nghĩa thống kê sau điều trị (p < 0,05).
3.3.2. Sự thay đổi nồng độ glucagon - like peptid - 1 sau điều trị
Bảng 3.36. Sự thay đổi của nồng độ trung bình và tỷ lệ giảm GLP-1
khi đói trước và sau điều trị
GLP-1
Trung bình (pmol/l)
Trước điều
Sau điều trị
OR = 12,24 (95%CI: 4,23 - 35,45)
Nồng độ trung bình GLP-1 tăng (+5,99 ± 6,09 pmol/l) sau
điều trị so với trước điều trị (p < 0,001). Tỷ lệ NB giảm nồng độ
GLP-1 giảm gấp 12 lần sau điều trị so với trước điều trị (p < 0,001).
Bảng 3.37. So sánh giá trị trung bình glucagon - like peptid - 1 khi đói của
các nhóm chứng với nhóm sau điều trị
GLP-1
(pmol/l)
GLP-1
p
Nhóm sau điều trị
(4)
(n = 44)
Chứng bệnh
(n = 48)
12,83 ± 5,78
10,17 ± 3,01
(2,4)
p
(1,4)
(mmol/l)
p
< 0,05
< 0,05
Tốt, chấp nhận (n = 40) 13,40 ± 5,76
5 (12,5)
HbA1c
Kém (n = 4)
7,18 ± 0,41
1 (25,0)
(%)
p
< 0,05
> 0,05
Nồng độ trung bình GLP-1 tăng có ý nghĩa thống kê ở NB có
mức kiểm soát glucose máu khi đói hoặc HbA1c tốt, chấp nhận so
với nhóm NB có có mức kiểm soát kém sau điều trị (p < 0,05).
Bảng 3.39. Nồng độ trung bình, tỉ lệ giảm GLP-1 khi đói của người
bệnh theo các mức chỉ số HOMA2 sau điều trị
GLP-1 (pmol/l)
Chỉ số HOMA2
Trung bình
Tỷ lệ giảm
Giảm (n = 4)
7,60 ± 0,62
1 (25,0)
HOMA2-B
Bình thường (n = 40) 13,37 ± 5,80
5 (12,5)
(%)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi trung bình của NB ĐTĐ týp
2 chẩn đoán lần đầu là 55,0 ± 10,35 (năm). Nam chiếm tỷ lệ cao hơn
so với nữ giới. Chỉ số BMI trung bình là 22,38 ± 2,81 (kg/m 2), tỷ lệ
NB thừa cân (21,8%), béo phì (17,6%). Chỉ số BMI trung bình của
nghiên cứu phù hợp với thể trạng trung bình của người Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số HMOA2-B ở nhóm
nghiên cứu là thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với người bình thường
(p < 0,001), tỷ lệ NB giảm chỉ số HOMA2-B là 58,2%, chỉ số kháng
insulin ở nhóm nghiên cứu cao hơn so với chứng thường có ý nghĩa
thống kê (p < 0,001), tỷ lệ tăng chỉ số HOMA-IR là 55,9%. Kết quả
nghiên cứu tương tự với các kết quả nghiên cứu ở NB ĐTĐ mới chẩn
đoán khác như: Đỗ Đình Tùng, Nguyễn Thanh Xuân, Nguyễn Thị
Thu Thảo, Phạm Thị Huyền, Trần Thị Thanh Hóa.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số NB có mức glucose lúc đói
trung bình 11,90 ± 4,49 mmol/l, chỉ số HbA1c trung bình là 9,55 ±
2,63%. Kết quả này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Trần Thị
Thanh Hóa, Nguyễn Thị Phi Nga, Đỗ Đình Tùng.
Kết quả nghiên cứu thấy tỷ lệ NB có biến chứng mắt là
20,1%, nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ NB có biến chứng thận là
20,0%, biến chứng thần kinh ngoại vi là 35%. Kết quả này phù hợp
một số nghiên cứu về biến chứng mạn tính tại Việt Nam.
4.2. Đặc điểm về nồng độ GLP-1 và mối liên quan với lâm sàng,
xét nghiệm, HOMA2 và biến chứng mạn tính
4.2.1. So sánh nồng độ GLP-1 ở người bệnh đái tháo đường týp 2
chẩn đoán lần đầu với người bình thường
20
Kết quả nghiên cứu này cho thấy: nồng độ trung bình của
GLP-1 lúc đói ở NB ĐTĐ týp 2 chẩn đoán lần đầu thấp hơn có ý
tượng này có xu hướng tăng, như nghiên cứu của Ryskjaer J.,
Alssema M. (2013), Yabe D. (2010), Nyholm B. (1999). Điều này
cho thấy sự suy giảm bài tiết GLP-1 có thể được hồi phục sau điều
trị, có lẽ do sự kiểm soát tốt glucose máu và đa yếu tố (cân nặng, HA,
rối loạn lipid máu…) có vai trò nào đó trong sự hồi phục bài tiết
GLP-1, hoặc là các thuốc điều trị làm hạ glucose máu khác có ảnh
hưởng đến sự bài tiết GLP-1 theo một cơ chế gián tiếp nào khác.
Wang X. C. (2015) tổng kết nhiều nghiên cứu thấy sự bài tiết GLP-1
thay đổi ngoài phụ thuộc vào tình trạng bệnh lý (ĐTĐ, bệnh gan
nhiễm mỡ không do rượu, bệnh buồng trứng đa nang), chế độ dinh
dưỡng, tình trạng phẫu thuật dạ dày ruột… còn liên quan tới một số
thuốc điều trị ĐTĐ (acarbose, miglitol, metformin, insulin…).
4.2.3. Liên quan giữa nồng độ GLP-1 với tuổi, giới, BMI, glucose
máu, HbA1c và chỉ số HOMA2
Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ GLP-1 khác biệt chưa
có ý nghĩa thống kê theo nhóm tuổi và 2 giới (p > 0,05). Kết quả này
tương tự của tác giả Vollmer K. (2008) và Yamaoka M. (2010).
Kết
quả nghiên cứu nhận thấy, nồng độ GLP-1 giảm có ý nghĩa thống kê
khi BMI tăng dần. Kết quả nghiên cứu tương tự nhiều tác giả trên thế
giới: Vollmer K.; Lugari G. đều cho thấy, nồng độ GLP-1 giảm ở NB
thừa cân béo phì (p < 0,001).
Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ GLP-1 giảm ở nhóm
NB có mức HbA1c tăng (p < 0,05). Khi phân tích đa biến thấy có
mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa glucose máu khi đói với các
yếu tố: GLP-1 khi đói, insulin, HbA1c và HOMA-IR. Nghiên cứu
23
minh có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn các phản ứng viêm
thành mạch, chống vữa xơ mạch máu, chống stress oxi hóa thành
mạch…do đó nó có vai trò bảo vệ thành mạch.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ GLP-1 giảm có ý nghĩa
thống kê ở NB ĐTĐ có biến chứng mắt hoặc biến chứng thận so với
(p < 0,05). GLP-1 đã được chứng minh có liên quan tới tình trạng
biến đổi dày thành mạch máu và vữa xơ mạch máu, do đó khi có sự
giảm nồng độ GLP-1 sẽ suy giảm cơ chế bảo vệ thành mạch máu nói
chung và võng mạc nói riêng. Piotrowski K. (2013) thấy có mối liên
quan giữa GLP-1 với mức lọc cầu thận. Kodera R. (2011) chứng
minh GLP-1 còn làm giảm các marker hấp dẫn sự xâm nhập của đại
thực bào trong mô thận, ngăn chặn sản xuất các cytokin tại thận.
4.3. Sự thay đổi nồng độ GLP-1 sau điều trị bằng sitagliptin
Kết quả nghiên cứu (bảng 3.36) cho thấy nồng độ GLP-1 ở
nhóm NB sau điều trị bằng sitagliptin cao hơn so với nhóm trước
điều trị (p < 0,001). Nồng độ trung bình GLP-1 của nhóm sau điều trị
khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với nhóm người bình thường
(p > 0,05) (bảng 3.37). Như vậy, thông qua việc ức chế enzym DPP4, sitagliptin đã làm tăng rõ rệt nồng độ GLP-1 khi đói trong huyết
thanh người bệnh, đạt nồng độ tương đương với người bình thường.
Khi so sánh với đối tượng NB ĐTĐ týp 2 đã được điều trị trên một
năm (không dùng liệu pháp incretin), mặc dù ở các đối tượng này có
tăng bài tiết GLP-1 hơn so với đối tượng NB ĐTĐ týp 2 chẩn đoán
lần đầu, nhưng nồng độ GLP-1 của các đối tượng này vẫn thấp hơn
so với nhóm NB được dùng sitagliptin (bảng 3.37). Kết quả nghiên
cứu này cũng tương tự nghiên cứu của Marques C. (2014), Sangle G.
V. (2011) và nghiên cứu của Marney A. (2012).
24
đoán đái tháo đường theo các tiêu chuẩn chẩn đoán của ADA - 2015.
- Nồng độ trung bình GLP-1 giảm, tỷ lệ người bệnh giảm GLP-1
tăng có ý nghĩa thống kê ở người bệnh thừa cân béo phì, tăng HbA1c. Nồng
độ GLP-1 khi đói có tương quan nghịch với HOMA2-IR, tương quan thuận
với HOMA-B và HOMA-S. Sự xuất hiện của các tình trạng: vữa xơ và dày
nội trung mạc động mạch đùi, dày thành tâm thất - vách liên thất, biến
chứng mắt, thận có liên quan đến giảm nồng độ GLP-1 (p < 0,05).
2. Sự thay đổi nồng độ GLP-1 sau đơn trị liệu bằng sitagliptin
- Sau điều trị bằng sitagliptin 100 mg/ngày, nồng độ trung bình
GLP-1 (12,83 ± 5,78 pmol/l) tăng cao hơn so với trước điều trị (6,84 ± 3,12
pmol/l) (p < 0,001). Tỷ lệ NB giảm GLP-1 giảm gấp 12,24 lần (p < 0,001).
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ GLP-1 khi đói ở
nhóm sau điều trị và nhóm chứng thường (p > 0,05).
- Sau điều trị, nồng độ trung bình GLP-1 tăng cao hơn ở nhóm
người bệnh có mức kiểm soát glucose máu khi đói, HbA1c, HDL-C tốt,
chấp nhận và nhóm người bệnh có chỉ số HOMA-S bình thường, HOMAIR không tăng (p < 0,05).
KIẾN NGHỊ
1. Nên quan tâm định lượng nồng độ GLP-1 ở NB ĐTĐ týp 2
chẩn đoán lần đầu. Đặc biệt, ở các đối tượng có tăng huyết áp, thừa
cân, biến chứng mạn tính nên lựa chọn nhóm thuốc làm tăng nồng độ
GLP-1 hoặc tăng hoạt tính sinh học của GLP-1 nhằm cải thiện, ngăn
chặn sự phát triển của các biến chứng và các tổn thương này.
2. Cần có nghiên cứu sâu hơn nữa để đánh giá một cách toàn
diện hiệu quả điều trị của nhóm thuốc ức chế DPP-4 ở NB ĐTĐ týp 2
lên nồng độ glucose máu sau ăn và biến chứng mạn tính.