khảo sát biến chứng thận và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi tại bệnh viện lão khoa trung ương - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh đái tháo đường là một bệnh tăng đường huyết mạn tính do thiếu
insulin tương đối hay tuyệt đối, nếu không kiểm sóat tốt, sau một thời gian
tiến triển kéo dài có thể gây nhiều biến chứng [1]. Bệnh khá phổ biến trên thế
giới cũng như ở Việt Nam.Trên thế giới, tính đến năm 2010 hiện có khoảng
285 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và dự báo năm 2030 sẽ có khoảng
438 triệu người [2]. Trong số các bệnh nhân đái tháo đường thì đái tháo
đường typ 2 có tỷ lệ khoảng 85-95 % [3].
Đái tháo đường typ 2 tiến triển âm thầm, từ từ gây ra nhiều biến chứng
mạn tính nguy hiểm [4]. Tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ngày một tăng
kèm theo cuộc sống được cải thiện, tuổi thọ của người đái tháo đường tăng
cũng làm cho tỷ lệ biến chứng mạn tính có điều kiện xuất hiện và ngày
càng tăng theo thời gian bị bệnh.Trong đó có biến chứng thận [5]. Biến
chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường là một trong những biến chứng
mạn tính hay gặp nhất và là nguyên nhân hàng đầu của suy thận và cần
phải lọc máu để duy trì sự sống tại các nước phát triển. Theo báo cáo Ở Mỹ
Khoảng 40% trường hợp suy thận giai đoạn cuối do đái tháo đường mới
xuất hiện hàng năm [5], [6], ở Singapo năm 2000 đái tháo đường chiếm
gần một nửa trong số các nguyên nhân gây suy thận mạn giai đoạn cuối. Sự
gia tăng số lượng bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối do đái tháo đường
là một vấn đề có tính thời sự toàn cầu [7].
Tại Việt Nam, theo thống kê cuả một số tác giả tỉ lệ biến chứng thận
tiết niệu nói chung do đái tháo đường là 30%. Tác giả Lê Quang Toàn, Tạ
Văn Bình (2006) thấy tỷ lệ biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2
là 29%[ 8], tác giả Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Tiến Dũng (2013) thấy tỷ lệ
biến chứng thận do đái tháo đường typ 2 là 41,5%% [9].
2
Điều trị bệnh lý thận do đái tháo đường hết sức phức tạp và tốn kém
đặc biệt là suy thận giai đoạn cuối [10]. Nếu chẩn đoán muộn biến chứng thận
sẽ nhanh chóng chuyển thành suy thận giai đoạn cuối [11]. Biến chứng thận

Đái tháo đường là một trong ba bệnh không lây (Ung thư, tim mạch,
đái tháo đường) phát triển nhah nhất. Theo số liệu của hiệp hội đái tháo
đường quốc tế năm 1995 cả thế giới có 135 triệu người mắc bệnh đái tháo
đường chiếm 4% dân số toàn cầu, năm 2000 có 151 triệu người mắc bệnh đái
tháo đường. Theo WHO, năm 2025 ước tính 300-330 triệu người mắc đái
tháo đường chiếm 5,4 % dân số toàn cầu, bệnh có tốc độ tăng 42 % ở các
nước phát triển còn ở các nước đang phát triển lên tới 170% [3]. Khu vực Tây
thái bình dương vào năm 2005 có 30 triệu người mắc bệnh đái tháo đường,
ước tính đến năm 2025 số người mắc bệnh đái tháo đường khoảng 56-60
triệu. Hiện tại khu vực này trên phạm vi 12 quốc gia có tỷ lệ đái tháo đường
trên 8% dân số, đặc biệt có nơi tỷ lệ rất cao trên 20 % [3]. Tỷ lệ đái tháo
đường typ 2 cao nhất ở người châu Mỹ và các đảo Thái Bình Dương tiếp theo
là người Mỹ gốc Mehico, người Mỹ gốc Ân, tiếp đó là người Đông Nam Á và
người Mỹ gốc Phi [3].
Ở Việt Nam thống kê ở một số bệnh viện lớn cho thấy đái tháo đường
là bệnh thường gặp nhất và có tỷ lệ tử vong cao nhất trong các bệnh nội tiết.
4
Theo Trần Đức Thọ, Nguyễn Huy Cường tỷ lệ đái tháo đường người > 15 tuổi
tại Hà Nội năm 2002 là 2,42%. Điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường
của PGS.TS. Tạ Văn Bình Bệnh Viện Nội Tiết năm 2001 tại 4 thành phố
lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh) ở tuổi 30-64
tuổi,cho thấy tỷ lệ đái tháo đường là 4%, rối loạn dung nạp glucose là 5,1%.
Điều tra đái tháo đường toàn quốc của Bệnh Viện Nội Tiết năm 2002-2003 cho
thấy tỷ lệ đái tháo đường chung của cả nước là 2,7% (Tỷ lệ nữ là 3,75%, nam là
3,3%). Ở vùng cao tỷ lệ là 2,1%, trung du là 2,2%, vùng đồng bằng ven biển
là 2,7%, khu đô thị và khu công nghiệp là 4,4% [5]. Báo cáo tổng quan về
chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt nam
năm 2009 cho thấy tỷ lệ đái tháo đường ở nhóm tuổi từ 60-74 là 5,7%, ở
nhóm tuổi từ 75 tuổi trở lên là 4,2% [14].
1.1.2. Đái tháo đường người cao tuổi

hơn so với người không mắc đái tháo đường. Ngoài ra người cao tuổi bị mắc
đái tháo đường có nguy cơ cao hơn so với người không bị đái tháo đường ở
vài hội chứng lão khoa thường gặp như: Sử dụng nhiều loại thuốc, suy giảm
trí nhớ, tiểu tiện không tự chủ, đau mạn tính…[12],[17].
Như vậy đái tháo đường đặc biệt là đái tháo đường ở người cao tuổi với
những biến chứng tim mạch,thận, mắt, thần kinh, hoại tử bàn chân không chỉ là
vấn đề quan tâm của ngành y yế mà còn là vấn đề kinh tế xã hội nghiêm trọng.
1.1.3. Chẩn đoán đái tháo đường [5],[13],[18]
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường của WHO năm 2001. Đái
tháo đường được chẩn đoán khi thỏa mãn một trong các điều kiện sau:
- Glucose huyết tương lúc đói (ít nhất sau 8 giờ không ăn) ≥ 7,0 mmol/l
(126 mg/dl), làm ít nhất 2 lần.
- Glucose huyết tương ở thời điểm bất kì ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl),
kèm theo triệu chứng lâm sàng cổ điển: Đái nhiều, uống nhiều, sút cân.
- Glucose huyết tương 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose (uống
nhanh trong 5 phút 75 g glucose hòa 200 ml nước) ≥11,1 mmol/l (200 mg/dl).
Theo hiệp hội đái tháo đường Mỹ (ADA - 2012) có thêm 1 tiêu chuẩn
là HbA1c ≥ 6.5% làm với phương pháp sắc ký lỏng ở phòng thí nghiệm theo
chương trình chuẩn hóa HbA1c quốc gia của Hoa Kỳ Chuẩn hóa theo DCCT.
1.1.4. Phân loại bệnh đái tháo đường [1],[5],[13]
Đái tháo đường được chia làm 4 loại: Typ 1, typ 2, đái tháo đường thai
kỳ và các typ đặc biệt khác.
• ĐTĐ typ1: Do tế bào β bị phá hủy dẫn tới thiếu hụt insulin hoàn toàn
nên còn gọi là đái tháo đường phụ thuộc insulin. Đái tháo đường typ 1 chia
làm 2 phân nhóm:
7
- Đái tháo đường qua trung gian miễn dịch (chiếm 5-10% số người bị
ĐTĐ): Đặc trưng bởi sự có mặt của các kháng thể như tự kháng thể kháng
tiểu đảo (ICA), tự kháng thể kháng glutamic acid Decarboxylase (GAD65), tự
kháng thể kháng insulin (IAA)… Bệnh có tần suất cao đối với người có

cơ của các biến chứng mạn tính càng tăng. Bệnh nhân đái tháo đường typ 2
thường có một thời gian dài tăng glucose huyết mà không được phát hiện do
vậy nhiều bệnh nhân khi mới được chẩn đoán đã xuất hiện biến chứng [4].
Biến chứng mạn tính của đái tháo đường typ 2 được chia thành 2 nhóm
chính là biến chứng mạch máu nhỏ và biến chứng mạch máu lớn.
1.1.5.1 Biến chứng mạch máu nhỏ [1],[13].
Biến chứng này tác động đến tất cả các cơ quan do tổn thương các mạch
máu có đường kính <30 µm. Một số yếu tố đóng vai trò dẫn tới biến chứng
như tăng huyết áp làm tăng thêm áp lực mao mạch; Rối loạn huyết động , tăng
tổng hợp thromboxan A2, tăng độ kết dính và ngưng tập tiểu cầu, tăng độ
quánh của máu; Rối loạn nội tiết như tăng hormone sinh trưởng, cường
insulin và cường glucagon. Tổn thương mạch máu nhỏ do tổn thương vách
mạch nhỏ, màng đáy dày lên, lắng đọng collagen, hậu quả làm tăng tính thấm
mao mạch, phù, thiếu oxy tổ chức, ngoài ra lớp thượng bì biến mất chất
glycosaminoglycan, tạo điều kiện cho tiểu cầu tập trung.Biến chứng mạch
máu nhỏ bao gồm:
- Bệnh võng mạc tiểu đường.
- Bệnh thận đái tháo đường.
- Bệnh thần kinh
1.1.5.2. Biến chứng mạch máu lớn [1],[13].
- Bệnh động mạch vành.
9
- Bệnh mạch máu ngoại vi.
- Tai biến mạch máu não.
- Tăng huyết áp.
- Xơ vữa mạch.
1.2. Biến chứng thận do đái tháo đường
Biến chứng thận do đái tháo đường được các nhà lâm sàng và bệnh học
(Cotunnius và Bright) đề cập rất sớm vào đầu thế kỷ 19. Biến chứng thận do
đái tháo đường là một trong những biến chứng rất quan trọng trong số biến

cầu thận bị phá hủy ở tuổi 75,
Những biến đổi giải phẫu đã để lại hậu quả về mặt chức năng đáng kể:
Độ thanh thải creatinin giảm theo một đường thẳng khi tuổi tăng lên; giảm độ
acid trong nước tiểu, biến đổi bài tiết acid Điều hòa thần kinh có vai trò đặc
biệt đối với hoạt động thận cũng bị giảm. Chức năng hormon thận cũng bị
biến đổi theo tuổi.
11
1.2.3. Điểm qua một số mốc lịch sử nghiên cứu về biến chứng thận đái
tháo đường ở trên thế giới và trong nước
Trên thế giới [10]:
1882 Lundback và Ehrlich, dùng Iode phát hiện sự lắng đọng nhiều
glycogen tế bào ở ống thận ở bệnh nhân đai tháo đường
1883, Ebstein cho thấy có hiện tượng giãn mạch, hoại tử và lắng đọng
nhiều glucogen ở cầu thận được gọi là “Glycogen nephrosis).
1936 Kimmelstiel và Wilson mô tả cầu thận ở bệnh nhân đái tháo đường
có biểu hiện lắng đọng nhiều hyaline ở mạch máu cầu thận. Cầu thận có hiện
tượng hoại tử đám và hoại tử lan tỏa.
1951 Iversen và Brun: áp dụng phương pháp sinh thiết thận qua da để
chẩn đoán bệnh lý cầu thận do đái tháo đường.
1969 Keen và cộng sự: áp dụng phương pháp mới để chẩn đoán sớm
bệnh lý cầu thận do đái tháo đường typ1 bằng định lượng vi đạm niệu trong
nước tiểu. Kết luận với lượng vi đạm niệu từ 30-150 mg/ngày được chẩn đoán
là có tổn thương cầu thận.Vi đạm niệu này được gọi là microalbumin niệu.
1971 Mogensen có nhiều nghiên cứu về microalbumin niệu và đã phân
loại cụ thể từng mức độ của vi đạm niệu ở bệnh nhân đái thái đường. Ông
nhận thấy rằng ở giai đoạn có vi đạm niệu thì mức lọc cầu thận ở bệnh nhân
đái tháo đường typ1 tăng tới trên 40 % so với bình thường.
1973 Mogensen và Andersen nghiên cứu bệnh lý cầu thận ở bệnh nhân
đái tháo đường cho thấy ở giai đoạn microalbumin niệu thì có hiện tượng thận
to ra. Bệnh nhân được điều trị tích cực bằng insulin thì microalbumin niệu

13
1.2.4. Dịch tễ học bệnh lý thận do đái tháo đường
Các nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ mắc mới bệnh thận dái tháo
đường đã từng được công bố, thường có những kết quả rất khác nhau. Đó là
vì tỷ lệ hiện mắc bệnh thận đái tháo đường chịu ảnh hưởng mạnh bởi các yếu
tố khi tiến hành nghiên cứu như cách lựa chọn quần thể (ở bệnh viện hay từ
cơ sở chăm sóc ban đầu), yếu tố dân tộc,các yếu tố liên quan đến số lượng và
các loại test được thực hiện, các tiêu chuẩn để chẩn đoán, đánh giá [3].
Tỷ lệ hiện mắc của bệnh thận lâm sàng cũng khác nhau đáng kể giữa
các nghiên cứu, tùy theo đối tượng nghiên cứu ở bệnh viện hay trong quần
thể. Tức là những kết quả này khác nhau là do có sự khác biệt về tiêu chuẩn
lựa chọn, phương pháp sử dụng để xác định microalbumin niệu và chủng tộc,
các giá trị khác biệt này giao động từ 6-27% tùy theo nghiên cứu [3].
Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về tỷ lệ biến chứng thận do
đái tháo đường typ 2:
Nghiên cứu của một số tác giả ở các nước trong khu vực châu Á cho
thấy tỷ lệ biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 như sau:
Nghiên cứu ở châu Á MAP (Microalbuminuria prevalence study), thực
hiện trên 5549 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 ở 10 quốc gia hoặc vùng lãnh
thổ của châu Á (Gồm Trung Quốc, Hongcong, Indonesia, Malaysia, Pakistan,
Phi-lip-pin, Singapo, Hàn quốc, Đài loan, Thái Lan), được công bố mới đây
cho thấy tần suất lưu hành của microalbumin niệu lên đến 39,8% và của
albumin niệu lâm sàng là 18,8% [31]; Onyechi Modebe cùng cộng sự (2000),
ở Ả rập xê út) [21] cho thấy tỷ lệ biến chứng thận chung là 42,3%, trong đó
microalbumin niệu là 25%, macroalbumin niệu là 10,6%, thận hư là 6,7%;
Varghese A cùng cộng sự (2001), ở Ấn độ [22], cho thấy tỷ lệ biến chứng thận
chung là 36,3%.Wu AY cùng cộng sự (2006) ở Singapo [23], cho thấy tỷ lệ biến
chứng thận chung là 72%, trong đó microalbumin niệu là 48,5%, protein niệu là
23,5%. Peera Buranakitjaroen MD cùng cộng sự (2005) ởThái Lan [24], cho
14

Tiến Dũng (2013) cho thấy tỷ lệ biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường
typ 2 tại Bệnh viện đa khoa trung ương Thái nguyên là 41,5% [9].
1.2.5. Sinh lý bệnh học bệnh thận đái tháo đường [3]
1.2.5.1. Đặc điểm tổn thương và thay đổi chức năng thận nói chung
Chỉ một thời gian ngắn sau khi mắc bệnh đái tháo đường, tỷ lệ lọc cầu
thận và lưu lượng máu đến thận đều tăng. Để thích ứng, thận tất yếu phải tăng
cả về trọng lượng và kích thước. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tăng
tỷ lệ lọc máu ở thận có liên quan đến nồng độ glucose máu và tỷ lệ này giảm
xuống khi glucose máu được kiểm soát tốt.
Lượng creatinin và ure có thể được giảm nhẹ vì có sự tăng của khối
lượng thận. Cũng nên lưu ý, do hiện tượng tăng lọc nên có thể có protein niệu
thoáng qua. Hiện tượng này sẽ mất đi sau khi điều chỉnh tốt glucose máu.
Ở giai đoạn sớm, hình thái học của thận vẫn bình thường mặc dù thận có
bị phì đại (về kích thước). Khi có tổn thương tăng sinh tế bào gian mạch và
dày màng đáy, có thể đã có ảnh hưởng đến tỷ lệ lọc cầu thận, dòng máu đến
thận tăng nhưng vẫn không có protein niệu. Khi nồng độ albumin >30mg/24
giờ được xem là có protein vi thể - microalbumin. Ngày nay, người ta cho
rằng đây là dấu hiệu sớm nhất của tổn thương vi thận.
Có nhiều yếu tố có thể làm tăng lượng microalbumin niệu như kiểm soát
glucose máu kém, người bệnh bị các stress, bị nhiễm trùng, hoặc do chế độ ăn
tăng protid, do tăng luyện tập thể lực v.v.
Vì thế khi đặt chẩn đoán xác định có microalbumin niệu dương tính cần
loại bỏ các yếu tố này.Thận trọng hơn người ta thường phải làm lại nhiều lần
trước khi kết luận. Ngày nay, người ta coi microalbumin niệu là một test sàng
16
lọc để tiến hành sớm các thăm dò, chẩn đoán bệnh lý mạch máu nhỏ. Khi đã có
microalbumin niệu dương tính, nguy cơ bệnh lý tim mạch tăng lên rất đáng kể.
Ngay sau khi đã có protein niệu, tỷ lệ lọc cầu thận có thể vẫn tăng, tỷ lệ
này sẽ giảm khoảng 50% sau 3 năm có protein niệu. Thông thường lúc này
creatinin máu sẽ tăng trên 2mg/dl (<177,0 mmol/l) và ure máu sẽ vượt trên 40

khởi đầu cho các đáp ứng bệnh lý của thận. Các rối loạn chuyển hóa khởi đầu
cho các đáp ứng bệnh lý thận đái tháo đường trên cơ sở các tổn thương xơ hóa
tiểu cầu thận do bệnh lý gen. Cũng có giả định rằng các tổn thương gen này
có liên quan đến bệnh tăng huyết áp vô căn có tính gia đình.
Tuy các giai đoạn của bệnh thận đái tháo đường đối với type 1 và type 2
sẽ được mô tả riêng rẽ theo mức bài tiết albumin niệu (UAER), nhưng điều quan
trọng cần ghi nhớ rằng protein niệu là một biến số chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tổ rất khác nhau, cũng như bất kỳ ngưỡng chẩn đoán nào, về một khía cạnh nào
đó, cũng còn nhiều bất cập cần được cố gắng khắc phục về mặt kỹ thuật.
Giai đoạn tăng lọc của cầu thận
Có nhiều bằng chứng cho thấy tăng tỷ lệ lọc cầu thận và tăng dòng máu
đến thận ở giai đoạn sớm dù chưa làm thay đổi chức năng cũng có thể đã bắt
đầu quá trình phá hủy thận, bởi chúng đã làm tăng áp lực lọc ở cầu thận.
Giai đoạn này thường kết hợp với tăng kích thước cầu thận, tăng thể tích
thận, tăng tỷ lệ lọc cầu thận. Giai đoạn tổn thương này sẽ có khả năng phục
hồi, nếu kiểm soát tốt glucose máu.
Giai đoạn microalbumin niệu dương tính
Thường kèm theo tăng huyết áp nhẹ (≥140/90 mmHg), lúc này có thể đã
có phì đại tim trái. Tổn thương giai đoạn này có thể làm chậm lại nhờ điều trị
bằng các thuốc ức chế men chuyển.
18
Giai đoạn tổn thương thận
Tổn thương thận từ giai đoạn này là một quá trình tịnh tiến, quá trình
này sẽ tiến triển nhanh hơn nếu có những đợt nhiễm trùng kèm theo, tình
trạng huyết áp xấu đi rõ rệt, protein niệu xuất hiện, có thể kèm theo hội chứng
thận hư, có tăng lipid máu, tăng nguy cơ thiếu máu cơ tim. Các tổn thương ở
giai đoạn này sẽ chậm lại nếu dùng các thuốc ức chế men chuyển và giữ
không để nhiễm trùng tiết niệu.
Giai đoạn cuối
Lúc này buộc phải lọc máu thận hoặc ghép thận. Các tổn thương kèm theo

Tỷ lệ THA ở người đái tháo đường typ 2 luôn cao, mối liên quan giữa
THA với MAU cũng phức tạp hơn nhiều so với đái tháo đường typ 1. Hầu hết
những người có MAU hoặc protein niệu đều có THA đồng hành và trị số
huyết áp của họ cũng tiếp tục tăng lên khi mức albumin niệu tăng dần.
* Bệnh thận giai đoạn cuối
Sự tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối ở người đái tháo đường typ 1
và typ 2 rất giống nhau. Mức lọc cầu thận thường ổn định hoặc hơi cao lúc bắt
đầu có MAU, và chỉ giảm khi bệnh thận lâm sàng phát triển.
Ở những người có bệnh thận lâm sàng, tốc độ giảm mức lọc cầu thận là
10-12 ml/năm.
Số lượng người bệnh đái tháo đường cần thay thế thận tiếp tục tăng lên
nhanh chóng trên khắp thế giới. Ở hầu hết các quốc gia, đái tháo đường hiện
là nguyên nhân đơn độc phổ biến nhất của bệnh thận giai đoạn cuối.
20
1.2.6. Cơ chế bệnh sinh của bệnh thận do đái tháo đường [3],[10]
* Cơ chế chuyển hóa
Giai đoạn đầu của bệnh thận đái tháo đường là sự liên quan đến thời gian
mắc bệnh và mức độ của các rối loạn chuyển hóa. Gần đây người ta đưa ra
một số quan điểm về cơ chế, giải thích tác động của tăng glucose huyết tới
những thay đổi cấu trúc và chức năng protein kinase C trong mạch máu thận
và sự kích hoạt theo con đường polyol. Các cơ chế này có thể kích hoạt các
thay đổi huyết động, tác động những thay đổi trong yếu tố tăng trưởng và biểu
hiện cytokine.
+ Sự glycat hóa bậc cao
Quá trình glycat hóa bậc cao đại diện cho một dãy các phản ứng phức
tạp xảy ra khi glucose và các loại đường khử khác phản ứng với protein, lipid
và các acid nucleic, cả ngoài và trong tế bào. Sự glycat hóa bậc cao là một cơ
chế liên quan tới tăng glucose huyết dẫn tới những bất thường cấu trúc và
chức năng của thận đái tháo đường. Những hiện tượng này cũng có trong quá
trình lão hóa và suy thận trên những người không đái tháo đường.

- Yếu tố tăng tưới máu: bất thường đầu tiên của bệnh nhân đái tháo
đường có thể là sự tăng tưới máu thận mãn tính. Sự giãn động mạch cầu thận
đến và đi khỏi cầu thận làm tăng lưu lượng huyết tương qua thận, làm tăng
gradient áp lực thủy tĩnh qua mao mạch, qua màng đáy cầu thận, gây ra
protein niệu. Vai trò tăng tưới máu thận được ủng hộ bới những quan sát về
sự giảm tưới máu thận giường như bảo vệ khỏi bệnh thận đái tháo đường.
- Yếu tố tăng huyết áp
Ở thận các tiểu động mạch vòng liên thùy, liên tiểu thùy và các động
mạch tới và đi khỏi cầu thận có thể co giãn độc lập, để điều chỉnh áp lực và
lượng máu ở cầu thận. Nếu huyết áp hệ thống giảm, động mạch tới cầu thận
22
sẽ giãn nở để duy trì độ lọc cầu thận. khi huyết áp hệ thống tăng, động mạch
tới cầu thận sẽ co thắt để giảm áp lực ở cầu thận. Trên bệnh nhân đái tháo
đường do ảnh hưởng của prostaglandin tại chỗ và 1 số yếu tố như atrial
natriuretic peptid động mạch tới cầu thận giãn nở nhiều hơn, do đó huyết áp
hệ thống được truyền trực tiếp tới cầu thận và tăng huyết áp hệ thống là mối
đe dọa trực tiếp làm tăng áp lực cầu thận.
- Yếu tố tăng trưởng
Liên quan đến bệnh thận đái tháo đường là đặc trưng bởi sự tổng hợp
tăng và sự thoái biến giảm của matrix ngoại bào gây ra sự phát triển trung mô
và sơ hóa mô kẽ ống thận. Sự giảm độ lọc cầu thận do mất bề mặt lọc cầu
thận là kết quả của sự tăng sinh trung mô ngoài ra còn có mối quan hệ gần
giữa thể tích mô kẽ và chức năng thận suy giảm. có bằng chứng rằng các ống
thận góp phần trong sự bài tiết albumin thận và dẫn tới sự tiến triển của đạm
niệu trong đái tháo đường thực nghiệm. các tài liệu này gợi ý rằng sự kích
thích các yếu tố tăng trưởng và các cytokine trong mô kẽ thận cũng có tầm
quan trong như vai trò của cầu thận.
- Yếu tố di truyền
Có sự ấn định trước về di truyền đối với bệnh thận đái tháo đường. Có tỷ
lệ xuất hiện bệnh thận đái tháo đường khác nhau trong những dân tộc khác

* Các ảnh hưởng khác:
- Nhiễm trùng đường tiết niệu.
- Bệnh lý thần kinh tự động bàng quang.
- Nhồi máu đài bể thận.
- Dùng các thuốc độc với thận.
24
1.2.7. Các yếu tố nguy cơ [10]
Bệnh lý cầu thận do đái tháo đường bao gồm cả đái tháo đường typ1
và đái tháo đường typ 2. Trong một số nghiên cứu lớn cho thấy có vai trò của
gen và sự kích hoạt các gen này bởi yếu tố bên ngoài như:
+ Tăng glucose huyết mạn tính.
+ Tăng huyết áp.
+ Hút thuốc lá.
+ Nhiễm vius.
Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ làm tăng bệnh lý cầu thận do đái tháo
đường đã được công nhận, trong nhiều nghiên cứu cho thấy ở người đái tháo
đường typ 2 có hút thuốc lá khi có biến chứng cầu thận do đái tháo đường thì
mặc dù điều trị tích cực khả năng giảm creatinin huyết kém hơn so với người
không hút thuốc.
1.2.8. Yếu tố liên quan tới bệnh lý thận do đái tháo đường [10]
- Tăng huyết áp.
- Bệnh lý mạch máu nhỏ.
- Bệnh lý võng mạc mắt.
- Bệnh lý thần kinh.
- Rối loạn mỡ máu.
1.2.9. Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân chia giai đoạn [3],[10]
* Tiêu chuẩn chẩn đoán:
- Biểu hiện lâm sàng: Bệnh lý thận đái tháo đường đầy đủ bao gồm:
+ Protein niệu dương tính.
+ phù.

nước tiểu là xét nghiệm định lượng albumin. Theo Hiệp hội Đái tháo đường
Hoa Kỳ, có 3 phương pháp tìm albumin niệu vi lượng là: (1) Đo tỉ số
albumin/creatinin trong nước tiểu với mẫu nước tiểu lấy ngẫu nhiên; (2) Đo
lượng albumin trong nước tiểu 24 giờ (phải lưu nước tiểu 24 giờ); (3) Đo

Trích đoạn Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Liên quan giữa biến chứng thận với tăng huyết áp (Bảng 3.10, 3.11, 3.12) Liên quan giữa biến chứng thận với lipid máu (Bảng 3.15,3.16,3.17, 3.18)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status