ĐẶT VẤN ĐỀ
Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất cả về
thể chất và trí tuệ. Lứa tuổi các em có mối liên quan chặt chẽ với những năm tháng
ngồi học trên ghế nhà trường phổ thông. Môi trường học tập, chế độ học tập, lao động,
nghỉ ngơi và vui chơi ở trường và gia đình, các hoạt động ngoại khóa và việc chăm sóc
sức khỏe đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bệnh tật của các em [9].
Hiện nay, cận thị học đường chiếm tỷ lệ cao trong lứa tuổi học sinh và trở
thành vấn đề sức khỏe của cộng đồng nhiều quốc gia trên thế giới [5].
Châu Á đang là nơi có tỷ lệ mắc cận thị học đường cao nhất thế giới. Theo ước
tính của Kovin Naidoo ở tổ chức ICEE (International Center for Eye Care
Education), đến năm 2020 tật khúc xạ và nhu cầu kính sẽ chiếm 70% dân số toàn
cầu (5,3 tỷ người) trong đó cận thị chiếm tỷ lệ 33% (3 tỷ người) [10].
Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra của nhiều nhà nghiên cứu, trong những
năm gần đây tỷ lệ cận thị gia tăng rất nhanh và là nguyên nhân chính gây giảm thị
lực học sinh Việt Nam [13]. Theo nghiên cứu của Viện khoa học Giáo dục Việt Nam
(2008), tỷ lệ mắc cận thị học đường trong các trường học rất cao là 26,14% trên tổng số
học sinh [21]. Đến năm 2014, PGS.TS. Đỗ Như Hơn, phó chủ tịch hội Nhãn Khoa Việt
Nam, công bố tỷ lệ mắc tật khúc xạ học sinh ở nước ta là từ 10%-15% ở học sinh nông
thôn và từ 40% - 50% ở học sinh thành thị và ước tính cả nước hiện có khoảng 3 triệu
học sinh cần đeo kính [15]. Bệnh cận thị có số lượng học sinh mắc ngày càng nhiều và
độ tuổi mắc ngày càng nhỏ là điều rất đáng lo ngại.
Cận thị làm cho không nhìn thấy vật ở xa và gây nhiều tác hại như: hạn chế sự
phát triển toàn diện của học sinh; hạn chế các hoạt động thể dục thể thao nâng cao
sức khỏe; hạn chế sự lựa chọn ngành nghề trong cuộc sống; hạn chế một số hoạt
động sinh hoạt hàng ngày của học sinh và hạn chế một phần kết quả học tập do mắt
chóng bị mỏi, do nhìn bảng không rõ, viết và đọc chậm; dễ bị tai nạn trong lao
động, sinh hoạt.
Tuổi học sinh là giai đoạn hết sức quan trọng. Ở giai đoạn này trẻ em dễ bị tác
động rất nhiều bởi các yếu tố bất lợi. Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường,
nhu cầu của xã hội đòi hỏi con người phải có kiến thức cao, do đó học sinh cần tăng
cường học tập cả về cường độ lẫn thời gian. Các phương tiện học tập, làm việc cũng
1.1. Một số khái niệm chung về cận thị học đường
1.1.1. Một số khái niệm chung về cận thị học đường
Cận thị là một tật khúc xạ gây rối loạn chức năng thị giác và chiếm một vị trí
đáng kể trong nhóm tật về thị giác, đặc biệt ở học sinh và người lao động trẻ.
Mắt cận thị là mắt mà ảnh của một vật ở vô cực hội tụ trước võng mạc. Cận thị
xảy ra khi không có sự cân bằng giữa lực hội tụ của mắt và chiều dài của trục nhãn
cầu, tức là cận thị có thể do độ hội tụ của hệ thống thấu kính của mắt quá lớn hoặc
do trục của nhãn cầu dài hơn bình thường (trường hợp này chiếm đa số). Điều này
khiến cho người bị cận thị chỉ có thế nhìn được những vật ở gần mà không nhìn rõ
những vật ở xa [35].
Cận thị làm giảm sức nhìn, gây cản trở, khó khăn trong việc học tập và sinh
hoạt hàng ngày. Các em học sinh từ 7-16 tuổi rất dễ mắc chứng cận thị, và độ cận
thị tăng nhanh do mắt phải điều tiết nhiều [20].
Bệnh cận thị đã xuất hiện từ rất lâu và cận thị học đường cũng đã có từ rất
sớm. Tuy nhiên, cận thị học đường mới chỉ bắt đầu gia tăng nhanh chóng vào đầu
thế kỷ XX và tăng rất nhanh vào những thập kỷ gần đây [10].
1.1.2. Phân loại cận thị
Cận thị được chia làm 2 loại:
- Cận thị học đường: là loại cận thị mắc phải trong lứa tuổi đi học, độ
cận thị ≤ - 6D, là cận thị do sự mất cân xứng giữa chiều dài trục nhãn cầu
và công suất hội tụ của mắt làm cho ảnh của vật được hội tụ ở phía trước
của võng mạc, nhưng chiều dài trục nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt
chỉ tăng ít và không kèm theo những tổn thương bệnh lý khác [3].
- Ở mắt cận thị học đường, các tia sáng song song đi từ một vật ở xa sau khi
bị khuất triết sẽ được hội tụ ở phía trước võng mạc bất kể mắt có điều tiết hay
không [1]. Trên thực tế, sự điều tiết ở mắt cận thị học đường sẽ làm cho mắt bị mờ
hơn. Cận thị học đường thường gặp do trục trước sau nhãn cầu quá dài hoặc các
thành phần khúc xạ quá mạnh [34].
3
12 – 13 tuổi là 46,5% [42].
Châu Á được coi là khu vực có tỷ lệ cận thị vào loại cao nhất thế giới và có
xu hướng gia tăng.
4
- Australi: Ip J. M. (2008) nghiên cứu trên 2.353 học sinh từ 11 – 15 tuổi
trong 21 trường trung học ở Sydney cho thấy tỷ lệ cận thị là 11,9% [47].
- Tại Trung Quốc: Lian Hong Pi (2010) có tỷ lệ cận thị ở lứa tuổi từ 6-15 tuổi
là 37,43 [48].
- Hồng Kông: Carly Siu – Yin Lan (2012) công bố tỷ lệ cận thị ở học sinh 12
tuổi là 61,5% [44].
Châu Phi: tại Ethiopia theo nghiên cứu của Assefa W. (2012) nghiên cứu trên
8 trường tiểu học tại thị trấn Gondar đã công bố tỷ lệ cận thị là 9,4% [43].
Tỷ lệ cận thị ở một số nước Đông nam Á như Singapore, Đài Loan chiếm tới
80 - 90% ở tuổi 17-18 [44].
Kết quả điều tra của nhiều nhà nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới cho
thấy, thực trạng mắc cận thị đang gia tăng nhanh chóng, tỷ lệ mắc cận thị học đường
năm sau cao hơn năm trước rất rõ rệt.
1.2.2. Tình hình bệnh cận thị học đường tại Việt Nam
Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra của các nhà nghiên cứu tại nhiều tỉnh,
thành phố thì trong những năm gần đây tỷ lệ cận thị gia tăng rất nhanh.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2002 tỉ lệ bị cận thị là 17,2% và đến năm
2006 tăng lên là 38,88% [36]. Theo công bố của Lê Thị Thanh Xuyên (2006) cho
thấy tỷ lệ cận thị học đường tại thành phố Hồ Chí Minh đang có xu hướng gia tăng
một cách đáng báo động [36].
Một nghiên cứu của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục & Đào tạo (2007) trên 5.536
học sinh tiểu học và trung học cơ sở cũng cho thấy, tỷ lệ học sinh tiểu học bị cận thị
là 5,52%, ở trung học cơ sở là 14,38% [18].
Theo điều tra tại Hà Nội (2000) của Hà Huy Tiến, tỷ lệ cận thị của học sinh
1.3.2. Các yếu tố nguy cơ do điều kiện vệ sinh trường học và thực hiện vệ sinh
trong học tập
Các nhà Giáo dục đã tính toán rằng, trong suốt quãng thời gian ngồi học trên
ghế nhà trường phổ thông lien tục từ lớp 1 đến lớp, học sinh phải ngồi trên ghế nhà
trường để học tập liên tục gần 15.000 giờ, nếu như trong suốt thời gian đó các em
phải ngồi học trong những phòng học không đủ tiêu chuẩn vệ sinh, thực hiện vệ
sinh trong học tập không tốt sẽ rất dễ phát sinh các bệnh như cận thị học đường,
cong vẹo cột sống... [6]
Vệ sinh chiếu sáng
6
Chiếu sáng có một vị trí quan trọng trong vệ sinh học đường. Chiếu sáng
không đủ sẽ ảnh hưởng xấu tới các quá trình sinh học của cơ thể. Một số nghiên cứu
cho thấy chiếu sáng tồi có khả năng dẫn tới giảm cường độ trao đổi chất. Các chức
năng thị giác tỷ lệ thuận với cường độ chiếu sáng như: thị lực (khả năng phân biệt
các vật của mắt), thời gian nhận biết (thời gian nhỏ nhất để nhận biết vật), cảm nhận
sáng tối (khả năng phân biệt giữa các cường độ chiếu sáng khác nhau).
Từ năm 2000, Bộ Y tế đã ban hành qui định về vệ sinh trường học, trong đó
yêu cầu về chiếu sáng “phải đảm bảo độ chiếu sáng đồng đều không dưới 100 lux”
[5], [17]. Hiện nay, quy định về chiếu sáng tại phòng học của Bộ Khoa học và Công
nghệ (Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7114-1:2008) và của Bộ Xây dựng (Quy chuẩn
xây dựng Việt nam QCXDVN 05 : 2008/BXD) là ≥ 300 lux [2].
Năm 2007, dự án chiếu sáng hiệu quả trường học đã khảo sát thực trạng
chiếu sáng lớp học trước khi cải tạo 405 lớp học thuộc 135 trường tiểu học trên 27
tỉnh thành. Kết quả cho thấy 100% các phòng học được khảo sát đều không đủ sáng
theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7114: 2005 [29].
Theo một điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường tại Hải
Phòng, Thái Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh về quy hoạch, thiết kế, xây dựng
Hiện nay, thói quen giải trí bằng những trò chơi đòi hỏi mắt phải liên tục làm
việc nhìn gần như trò chơi điện tử làm mắt phải điều tiết nhiều khiến tình trạng trẻ
bị cận thị gia tăng. Do hình ảnh di chuyển liên tục và các em phải ngồi gần màn
hình máy tính nên độ cận thị càng tăng lên nhanh chóng. Ngoài ra, nhiều loại sách
in cho trẻ em đọc như các loại truyện tranh, sách báo in chữ quá nhỏ cũng làm cho
mắt phải điều tiết liên tục gây tăng gánh nặng cho mắt. Việc quá tải trong các hoạt
động cần nhìn gần như học tập, làm việc, giải trí, máy tính... đã góp phần làm cho tỷ
lệ cận thị trong học sinh gia tăng nhanh chóng [11], [18], [21].
Do công tác phòng chống cận thị học đường chưa tốt
Thực tế cho thấy hoạt động tuyên truyền về chăm sóc bảo vệ mắt trong
trường học chưa được quan tâm đúng mức. Có tới 63,2% giáo viên được hỏi cho
biết chưa hề dạy cho học sinh về nội dung này; 85,4% ý kiến giáo viên cho biết
trong trường học không hề tổ chức các hoạt động truyền thông về phòng chống
cận thị. Thực tế trên đã dẫn tới tình trạng có nhiều học sinh không biết mình bị
cận thị, tỷ lệ này ở thành phố Hồ Chí Minh là 80%, Đà Nẵng là 50%, Bắc Ninh
là hơn 80% [21].
Chất lượng hoạt động của y tế trường học chưa cao, học sinh bị mắc cận thị
nhẹ chưa được phát hiện sớm để có chế độ điều trị thích hợp, chỉ đến khi học sinh
nhìn quá kém thì bố mẹ và thầy cô giáo mới biết, khi đó đưa trẻ đi khám thì đã mắc
cận thị nặng [11].
8
Hiểu biết về cận thị của cha mẹ, học sinh và giáo viên cũng là vấn đề cần hết
sức lưu ý. Kết quả nghiên cứu ở một số trường tiểu học Hà Nội (2003) cho thấy chỉ
có 21,2% học sinh, 25,3% cha mẹ học sinh và 33,3% giáo viên hiểu đúng về tác hại
của cận thị [21].
Hầu như trong tất cả các trường học chưa có các phương tiện, tài liệu phục
vụ cho việc phát hiện sớm và tuyên truyền phòng chống các bệnh về mắt cho học
sinh [21]. Nghiên cứu của Hoàng Văn Tiến (2006) cũng đã phân tích, một trong
hội, cần gấp rút triển khai các dự án can thiệp phòng chống cận thị học đường tại
cộng đồng [4].
1.4.1. Can thiệp vào các yếu tố nguy cơ gây cận thị học đường
Chính vì việc can thiệp vào nguyên nhân gây cận thị học đường rất khó khăn
và chưa tìm được những can thiệp có hiệu quả rõ ràng nên nhiều tác giả trên thế giới
nghiên cứu và tập trung can thiệp vào các yếu tố nguy cơ có liên quan chặt chẽ với
cận thị học đường.
Việc can thiệp để đảm bảo các yếu tố vệ sinh trường lớp học cũng được
nhiều nhà nghiên cứu tiến hành. Trong đó, việc thực hiện đúng các tiêu chuẩn 27 vệ
sinh về diện tích trường, lớp, chiếu sáng lớp học, chiều cao bàn ghế phù hợp với học
sinh... là việc rất quan trọng trong phòng ngừa các bệnh trường học nói chung và
cận thị học đường nói riêng.
Thực hiện tốt các tiêu chuẩn vệ sinh trường lớp và các yếu tố vệ sinh trong
học tập: việc đưa ra những tiêu chuẩn vệ sinh trong học tập và các biện pháp giúp
học sinh thực hiện đúng vệ sinh trong học tập cũng mang lại những hiệu quả tích
cực trong phòng chống cận thị học đường. Khi ngồi học ở trường và ở nhà, nhiều
em có thói quen cúi gằm mặt, nghiêng đầu, áp má lên bàn học khi đọc, viết và thậm
chí nằm học nên việc thầy cô giáo và cha mẹ học sinh phải thường xuyên nhắc nhở
là rất cần thiết. Học sinh cần thực hiện đúng tư thế ngồi học như góc cúi của đầu so
với phương thẳng đứng là 25 độ, góc giữa đầu và thân là 35 độ, góc giữa thân và
đường thẳng đứng là 10 độ, góc khuỷu tay là 90 độ, góc thân đùi là 115 độ. Khi học
ngồi thẳng lưng, hai chân khép, hai bàn chân để ngay ngắn sát nền nhà, đầu cúi 1015 độ. Khoảng cách từ mắt đến sách vở trên bàn học là 25 cm đối với học sinh tiểu
học, 30 cm với học sinh trung học cơ sở, 35 cm với học sinh trung học phổ thông...
[35].
Can thiệp tránh để mắt nhìn ở khoảng cách gần kéo dài, tăng các hoạt động
nhìn xa và hoạt động ngoài trời:trong nhiều nghiên cứu, việc hạn chế để mắt làm
việc trong tư thế nhìn gần trong thời gian dài liên tục gây điều tiết quá mức cho mắt
và tăng cường các hoạt động ngoài trời như ngoại khóa, tích cực rèn luyện thể dục
thể thao đã có tác động tích cực với việc phòng chống cận thị học đường.
10
trị cận thị. Người bị cận thị có thể được phẫu thuật để khỏi mang kính, tuy nhiên
phẫu thuật chỉ được thực hiện cho những người từ 18 tuổi trở lên.
1.4.3. Truyền thông, giáo dục sức khỏe học đường
Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe học đường có vai trò rất quan trọng
trong phòng chống cận thị học đường. Việc áp dụng truyền thông giáo dục sức khỏe
học đường đến nhiều đối tượng đã bước đầu đem lại hiệu quả trong phòng chống
cận thị học đường.
Tại nước ta, mô hình truyền thông giáo dục sức khỏe học đường tập trung
vào một số nội dung chủ yếu sau: Tuyên truyền giáo dục sức khỏe về các bệnh
thường gặp tại trường học của học sinh, cung cấp kiến thức phòng chống cận thị
học đường. Phân tích thực trạng vệ sinh trường học và kiến nghị lãnh đạo các cấp
có thẩm quyền thực hiện đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh học đường đã quy định.
Vận động phụ huynh tích cực quan tâm chăm sóc sức khoẻ học sinh. Nghiên cứu và
đề xuất cụ thể các tiêu chuẩn mua sắm, sửa chữa bàn ghế; bố trí ánh sáng, bảng...
Tìm hiểu, phân tích các yếu tố nguy cơ và đưa ra những biện pháp can thiệp phòng
chống cận thị học đường [11],[ 38].
11
12
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh tiểu học từ khối 2 đến khối 5 của trường Tiểu học Định
Công, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
2.1.2. Địa điểm
Nghiên cứu được tiến hành tại trường Tiểu học Định Công, quận Hoàng Mai,
Thành phố Hà Nội.
−
Cách chọn mẫu:
+ Bước 1: Từ sĩ số học sinh của
Khối 2: 477 học sinh
Khối 3: 397 học sinh
Khối 4: 429 học sinh
Khối 5: 280 học sinh
Lập danh sách toàn bộ các em học sinh đang theo học các khối 2, 3, 4,
5 thuộc trường tiểu học Định Công, quận Hoàng Mai, Thành Phố Hà Nội.
+ Bước 2: Tại mỗi khối 2, 3, 4, 5, sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
đơn (theo tỷ lệ các khối), lấy ngẫu nhiên số học sinh từ khối 2 đến khối 5
lần lượt là: Khối 2: 80 học sinh
Khối 3: 66 học sinh
Khối 4: 72 học sinh
Khối 5: 47 học sinh
+ Bước 3: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp với bảng hỏi dành cho những em
học sinh đã được lập danh sách từ bước 2.
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin
-
Xây dựng bộ công cụ:
+ Xây dựng bộ công cụ nghiên cứu: Các câu hỏi do nghiên cứu viên xây dựng dựa
trên các mục tiêu, nội dung nghiên cứu của đề tài.
+ Thử nghiệm: bộ câu hỏi được tiến hành phỏng vấn thử đối với 10 đối tượng tại
trường Tiểu học Định Công, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Phương
Chỉ số
pháp
thu thập
Công
cụ
Tỷ lệ % đối tượng
theo khối học
Hỏi
chung
Tỷ lệ % đối tượng
Giới
Phiếu
hỏi
theo nam/nữ
Tỷ lệ % đối tượng cận
Tình trạng thị lực
thị
Tỷ lệ % đối tượng
mắc cận thị theo giới,
thị mắt trái, mắt phải
Tỷ lệ % đối tượng có
thành viên trong
thành viên trong gia
gia đình
đình bị cận
Mục tiêu 2: Yếu tố vệ sinh trường học, học tập:
Các yếu tố
Mối liên quan giữa tình trạng chiếu sáng (đủ sáng/ thiếu sáng);
liên quan
kích thước bàn ghế (thấp/ cao/ phù hợp); tư thế ngồi học (đúng
đến cận thị
tư thế/ sai tư thế); biểu hiện sau khi học (mờ mắt/ mỏi mắt/ mỏi
học đường
vai/ bình thường) và việc thầy cô giáo nhắc nhở với cận thị học
đường.
Yếu tố học tập tại nhà:
Mối liên quan giữa tình trạng góc học tập riêng (có/ không có
góc học riêng); nguồn chiếu sáng để học tại nhà; tình trạng bàn
gian sử dụng máy tính/điện thoại, chơi game).
- Mối liên quan giữa hoạt động cần nhìn xa với cận thị học
đường ( tần suất và thời gian hoạt động thể lực, giải trí ngoài
trời)
Yếu tố liên quan hiểu biết, thực hành:
- Mối liên quan giữa kiến thức của ĐTNC với cận thị học đường
(sự hiểu biết về biểu hiện, nguyên nhân, tác hại và cách phòng
chống cận thị)
- Mối liên quan giữa thực hành của ĐTNC với cận thị học
đường ( có ý thức báo bố mẹ khi thấy mờ mắt, khám mắt định
kỳ, bổ sug dưỡng chất cho mắt)
2.4. Một số tiêu chí đánh giá
- Mức độ cận thị:
+ Cận thị độ I (nhẹ) :< -3,0D;
+ Cận thị độ II (trung bình) :Từ -3,0D đến -6,0D;
+ Cận thị độ III (nặng) :≥ -6D.
- Khoảng cách mắt khi đọc truyện/ sách được đánh giá theo 2 mức độ:
+ Khoảng cách mắt đúng: Từ 25 cm – 30cm;
+ Khoảng cách mắt không đúng: Dưới 25cm
2.5. Sai số và biện pháp khống chế
Bảng 2.2 Sai số và cách khắc phục
ST
T
Sai số nghiên cứu
Biện pháp khắc phục
16
Biến định lượng: Trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị min-max.
Biến định tính: Tần suất và tỷ lệ %.
+ Kiểm định và so sánh:
Kiểm định với biến định tính: Test χ 2 được sử dụng để so sánh tỷ lệ
%, các so sánh có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. (Sử dụng test khi bình
phương có hiệu chỉnh khi các giá trị mong đợi đều lớn hơn 5).
+ Các yếu tố liên quan được đánh giá thông qua sử dụng phân tích hồi quy logistic
đơn biến và tính tỷ suất chênh OR với khoảng tin cậy 95% (95% CI). Mức ý nghĩa
thống kê p < 0,05 được sử dụng để đánh giá mối liên quan có ý nghĩa trong thống
kê phân tích.
-
Số liệu được trình bày bằng bảng và biểu đồ minh họa.
2.7. Đạo đức nghiên cứu
-
Các đối tượng tham gia vào nghiên cứu đã được giải thích rõ ràng về mục
đích của nghiên cứu và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu.
17
-
Bộ câu hỏi không bao gồm các câu hỏi mang tính riêng tư, các vấn đề nhạy
cảm nên không ảnh hưởng gì đến tâm lý hay sức khoẻ của đối tượng nghiên cứu.
-
Các số liệu này chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nghiên cứu nhằm góp phần
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (N=265)
Đặc điểm
Nam
Giới
Nữ
2
3
Lớp/khối
4
5
Chung
Số lượng (n)
132
133
80
66
72
47
265
Tỷ lệ (%)
49,8
50,2
30,2
24,9
27,2
17,7
100
97
36
27,1
71
26,8
Tỷ lệ
(%)
Tổng
p*
73,5
Số
lượng
(n)
132
97
72,9
133
Không cận
S
T
19
Tổng
S
p
T
*
ố
lượng
(n)
2
ỷ lệ
(%)
1
3
3
6,3
0
8
7
0,3
6
ỷ lệ
(%)
6
3
2
5
T
ổng
1
2
4
ố
lượng
0,2
6
2
6
4,9
7
2
0,
2
7,2
043
4
1
7
7,7
2
1
65
00
*: Test khi bình phương.
Nhận xét: Tỷ lệ mắc cận thị cao nhất ở đối tượng học sinh khối 4 (36,1%),
thấp nhất ở khối 2 (16,3%); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p
39
54,9
Không
32
45,1
Chung
71
100
20
Nhận xét: Có 54,9% đối tượng có thành viên trong gia đình bị cận thị.
21
3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng cận thị
3.2.1. Các yếu tố tại trường học ảnh hưởng đến cận thị
Bảng 3.6. Một số yếu tố tại trường học (N=265)
Đặc điểm
Tình trạng chiếu
nhở về việc ngồi học
Không
đúng tư thế
Thầy cô giáo nhắc
Có
nhở về tình trạng cận
Không
thi học đường
Chung
Nhận xét:
Số lượng (n)
221
44
4
77
25
159
7
253
5
59
206
Tỷ lệ (%)
83,4
16,6
1,5
29,1
9,4
-Đối với tình trạng chiếu sáng trong lớp học: vẫn còn 16,6% đối tượng thấy hơi thiếu
-
ánh sáng/tối.
Tình trạng bị chói mắt khi nhìn lên bảng: 30,6% đối tượng thỉnh thoảng/thường
xuyên bị mắc phải tình trạng này.
4,5% đối tượng đánh giá tình trạng bàn ghế chưa phù hợp với chiều cao của cơ thể
22,3% đối tượng ngồi sai tư thế, 11,7% đối tượng cảm thấy mỏi mắt/ mờ mắt sau
khi học xong.
21,5% đối tượng không được thầy cô giáo nhắc nhở về việc ngồi đúng tư thế;
36,6% đối tượng không được thầy cô giáo nhắc nhở về thực trạng cận thị học
đường.
22
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa các yếu tố tại trường học và tình trạng cận thị
(N=265)
Đặc điểm
Tình trạng
chiếu sáng
trong lớp
học
Tình trạng
bị chói mắt
khi nhìn lên
bảng
Tình trạng
bàn và ghế
so với chiều
gáy (n=63)
Các biểu
Mỏi mắt, mờ mắt
hiện sau khi
(n=31)
học
Bình thường
(n=171)
Thầy cô
Có
nhắc nhở về
(n=208)
Không
việc ngồi
(n=57)
học đúng tư
Có cận
(n=71)
n
%
52
23,5
Không cận
(n=194)
n
%
169 76,5
12
48
24
15,1
135
84,9
4
33,3
8
66,7
67
26,5
186
73,5
23
(0,26-0,88)
20
31,8
43
68,25
13
41,9
18
58,1
38
22,2
133
77,8
56
26,9
Thầy cô
nhắc nhở về
tình trạng
cận thi học
đường
Có
(n=168)
Không
(n=97)
Có cận
(n=71)
n
%
Không cận
(n=194)
n
%
47
28
121
72
24
ngồi học tại lớp; các biểu hiện sau khi học; thầy cô nhắc nhở về việc ngồi đúng tư thế
và tình trạng cận thị. p>0,05.
3.2.2. Các yếu tố tại nhà ảnh hưởng đến cận thị
Bảng 3.8. Một số yếu tố học tại nhà (N=265)
Đặc điểm
Góc học tập riêng
Có
Không
24
Số lượng (n)
251
14
Tỷ lệ (%)
94,7
5,3
Đặc điểm
Sử dụng nguồn chiếu
Đèn bàn
Đèn trần
Số lượng (n)
225
40
29,4
1 giờ
≥2 giờ
120
145
45,3
54,7
265
100
sáng
Loại bàn ghế được sử
dụng để học tập
Bố mẹ nhắc nhở về
việc ngồi đúng tư thế
Bố mẹ nhắc nhở về
tình trạng cận thị
Thời gian tự học/ngày
1,6 ± 0,5h
(0 – 4h)
Chung
Nhận xét:
− Có 5,3% đối tượng không có góc học tập riêng tại nhà.
− 15,1% đối tượng sử dụng đèn trần; 84,9% sử dụng đèn bàn tại nơi học tập cá nhân.
(n=194)
n
%
187
74,5
7
50
62
27,6
163
72,4
9
22,5
31
77,5
25
OR
(95%CI)
p