VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
=====***=====
CAO VÂN HUYỀN
THỰC TRẠNG NHIỄM VÀ MỘT SÔ YẾU TÔ
LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM ẤU TRÙNG GIUN ĐŨA
CHÓ/MÈO (Toxocara spp.) CỦA CÁC ĐÔI
TƯỢNG KHÁM TẠI BỘ MÔN KY SINH TRÙNG
– TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Chuyên ngành
: Động vật học
Mã số
: 60420103
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
Cán bộ hướng dẫn
TS. PHẠM NGỌC DOANH
Hà Nội - 2017
LỜI CẢM ƠN
Đê hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo,
quy thầy cô phòng Đào tạo sau đại học, phòng Ky sinh trùng cùng các thầy
cô, các nhà khoa học tại Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật – Viện hàn lâm
ABZ
Albendazole
BCAT
Bạch cầu ai toan
cs
Cộng sư
CT
Cắt lớp vi tính
ELISA
Enzym – linked immune sorbent assay
(Phản ứng miễn dịch gắn men)
MBZ
Mebendazole
MRI
Cộng hưởng từ
2.2.1. Xac định tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở cac đối
tương có dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ nhiễm Toxocara spp. đên
kham và làm xet nghiêm tại Bộ môn Ky sinh tùng - Trường đại học
Y Hà Nội.
........................................................................................................ 17
2.2.2. Xac đinh một số yêu tố liên quan đên nhiễm ấu trùng giun đũa
chó/mèo.......................................................................................... 17
2.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................17
2.3.1. Cơ mẫu nghiên cứu.........................................................................17
2.3.2. Kỹ thuật xet nghiêm ELISA tìm khang thể chống ấu trùng giun đũa
chó/mèo.......................................................................................... 18
2.3.3. Xet nghiêm công thưc bạch cầu......................................................21
2.3.4. Phương pháp điêu tra hiểu biết và hành vi phòng chống bênh.......21
2.3.5. Xử ly số liệu................................................................................... 22
2.3.6. Vấn đê đạo đức trong nghiên cứu...................................................22
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.....................24
3.1. Thực trạng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở đối tượng nghiên cứu..24
3.1.1. Đặc điểm của đối tương nghiên cứu............................................... 24
3.1.2. Kêt qua xet nghiêm ELISA và BCAT.............................................24
3.1.3. Triệu chứng lâm sàng......................................................................27
3.1.4. Ty lê nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo theo giới tính...................29
3.1.5. Ty lê nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo theo nhóm tuôi................30
3.2. Một số yêu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo...........31
3.2.1. Kiến thức hiểu biết và hành vi của nhóm nghiên cứu đối với bệnh
ấu trùng giun đũa chó mèo............................................................. 31
3.2.2. Mối liên quan giưa nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo và một số yêu
tố nguy cơ lây nhiễm...................................................................... 34
3.2.3. Mối liên quan nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo với thói quen, tập
Hình 2.1: Bộ Kit Toxocara ELISA.................................................................. 18
Hình 3.1: Hình anh chứng âm, dương, mẫu (+), (-) và kết qua gia tri OD......25
9
ĐẶT VÂN ĐỀ
Toxocariasis là tên gọi của bệnh do ấu trùng giun đũa chó Toxocara canis
hoặc ấu trùng giun đũa mèo Toxocara cati gây nên ở người. Đây là bệnh lây
truyên từ động vật sang người [49, 31]. Trong chu ky phat triển, giun trưởng
thành ky sinh ở ruột vật chủ chính tư nhiên là chó/mèo. Giun cai trưởng thành
đe trứng, trứng ra ngoài môi trường theo phân vật chủ. Phôi trong trứng phat
triển qua cac giai đoạn ấu trùng L1, L2 và L3.Trứng chứa ấu trùng L3 có kha
năng lây nhiễm. Nêu chó/mèo nuốt phải trứng đã có ấu trùng L3 thì chúng sẽ
phat triển thành giun trưởng thành ky sinh ở ruột. Con người không phai là vật
chủ thích hơp của giun đũa chó/mèo, khi vô tình ăn phải trứng có chứa ấu
trùng L3 hoặc ăn thit của vật chủ khac có chứa ấu trùng [49, 31] thì ấu trùng
thoat vỏ xâm nhập thành ruột và theo đường mau đên gan, phổi, mắt, hê thần
kinh trung ương và những cơ quan khac trong cơ thể người hoặc di chuyển
dưới da. Ở những cơ quan này, ấu trùng di chuyển hàng tuần hay hàng thang
hoặc nằm im thành những vật lạ gây viêm và kích thích tạo ra u hạt thâm
nhiễm bạch cầu ai toan [49, 31].
Bênh giun đũa chó/mèo xuất hiện ở mọi nơi trên thê giới, đặc biêt là ở
cac nước nhiêt đới. Ty lê nhiễm bênh cao thường xuất hiên ở những vùng
nuôi nhiều chó/mèo và dân trí thấp. Nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo tac
động đến cơ thể người một cach âm i kéo dài (ấu trùng có thể sống trong cơ
thể người đến 10 năm) làm anh hưởng đên sưc khỏe, thể chất lẫn tinh thần
người bênh.
Tại Viêt Nam trước đây, bênh giun đũa chó /mèo đươc xem là bênh ít
Tac nhân gây bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo là giun tròn thuộc
giống Toxocara, họ Toxocaridae, liên họ Ascaridiodea, bộ Ascaridida. Giống
Toxocara gồm nhiều loài ky sinh ở các loài động vật khac nhau, tuy nhiên chi có
2 loài được ghi nhận là gây bệnh ở người, đó là Toxocara canis ky sinh ở chó
và Toxocara cati ky sinh ở mèo [49, 31].
Hình thái học giun đũa chó/mèo:
Giun đũa chó/mèo có màu vàng trắng, phân tính đực cai. Con cai (9 - 18
cm) lớn hơn con đực (4 - 10 cm). Tử cung con cái trưởng thành chứa đầy
trứng hình ban thùy, dày, vỏ xù xì, kích thước 90 x 75 µm [35].
Vòng đời phát triên của giun đũa chó/mèo (hình 1.1)
Trong vòng đời phat triển, giun đũa chó/mèo trưởng thành ky sinh ở
ruột chó/mèo, chúng thải trứng ra ngoài theo phân vật chủ. Sau 1 - 3 tuần, phôi
phat triển thành ấu trùng qua các giai đoạn L1, L2, L3 ở trong trứng. Trứng
chứa ấu trùng L3 có thể nhiễm cho vật chủ. Khi chó, mèo nuốt phải trứng giun
đũa đã chứa ấu trùng L3. Ở ruột non chó/mèo với điều kiện thích hơp ấu trùng
thoát khỏi trứng, chui qua thành ruột, theo dòng mau đên gan, tim, phôi và
sau đó trở vê lại ruột non phat triển thành giun trưởng thành và bắt đầu sinh
san, đe trứng.
Con cai có thể đe khoang 200.000 trứng/ngày [23]. Trứng giun đũa
chó/mèo đươc thải ra ngoài theo phân vật chủ. Trong đất, trứng có thể bảo tồn
kha năng sống và kha năng gây bệnh trong thời gian dài, có thể tới 1 năm
trong điều kiện thuận lợi [22].
Giun đũa chó/mèo có thể truyên từ mẹ sang con qua bào thai. Thời gian
sống trung bình của giun đũa chó/mèo khoang 4 tháng.
Hình 1.1: Vòng đời phát triển của giun đũa chó
(Nguồn: www.dpd.cdc.gov/dpd.x)
Người nhiễm bênh do ăn phải trứng có chứa ấu trùng L3 qua rau, bui,
1.1.3. Đặc điểm lâm sang của bệnh giun đũa chó/mèo ở người
Phu thuộc vào mức độ nhiễm ấu trùng giun nhiều hay ít và tính nhạy
của người bênh mà thời gian ủ bênh từ vài tuần đên vài thang.
Đặc điểm lâm sàng của bênh rất đa dạng, phu thuộc rất nhiêu vào số
lương, vi trí ky sinh của ấu trùng và đap ưng của cơ thể người bi nhiễm.
Thông thường người bênh có cac triêu chưng toàn thân như: mêt mỏi, ăn
không ngon, thể trạng kem, sốt bất thường và bi di ưng (nôi mân ngưa, nôi
ban mày đay…).
Hình 1.2: Triệu chứng mẩn ngứa trên bệnh nhân
Nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo thường gây cac hội chưng chính
như sau: ấu trùng di chuyển nội tạng (Visceral larva migrans = VLM), ấu
trùng di chuyển ở mắt (Ocular larva migrans = OLM), thể không điển hình,
thể thần kinh (Neurological toxocariasis).
- Ấu trùng di chuyên nôi tạng (Visceral larva migrans = VLM)
Thể bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng ở người đầu tiên đươc phat hiên
năm 1952, ở tre em bi gan to và tăng bạch cầu ai toan [26]. Bênh nhân VLM
điển hình là tre ở độ tuổi 2 - 7 tuổi thường nghịch đất và chơi với chó nhà. Cac
dấu hiệu cấp tính của VLM liên quan đên sư di chuyển của ấu trùng ở gan và
phổi, gây đau bụng, giảm sư thèm ăn, bồn chồn, sốt, ho, thở khò khè, hen
suyễn. Ở thể bệnh này thấy rõ nhất sư tăng bạch cầu ai toan (> 2.000 tê
bào/mm3). Ở
cac quốc gia phương Tây, hội chứng VLM hiêm gặp, từ 1952 đến 1979 chi
thấy 970 trường hơp [34].
- Ấu trùng di chuyên ở mắt (Ocular larva migrans = OLM)
Hội chứng ấu trùng di chuyển ở mắt xay ra ở ca tre em và thanh thiêu
định qua hình anh ấu trùng Toxocara trong dich não tủy, mô não, màng não,
và/ hoặc chẩn đoan miễn dịch trên dịch não tủy [33]. Cũng như VLM, dấu
hiêu lâm sàng của các rối loạn thần kinh là không đặc hiêu [46], dẫn tới kha
năng có thể chẩn đoán nhầm tình trạng này.
Chẩn đoán bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người
Chẩn đoan bênh ấu trùng giun đũa chó/mèo tương đối khó khăn vì các
triêu chứng lâm sàng đa dạng và thường không đặc hiệu. Nêu thấy có cac triệu
chứng mê đay, mân ngưa, sốt keo dài, ho, thở khò khè, triêu chứng thần kinh,
tổn thương ở mắt…. thì cần nghĩ tới nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo và kêt
hợp thực hiện cac phương phap chân đoán khac để khẳng định, bao gồm cac
phương pháp sau:
- Tìm hiểu tiên sử bênh nhân: có tiếp xúc với chó/mèo hay cac hoạt
động liên quan đên tiếp xúc với nguồn bệnh không, như nghịch đất, mút tay,
ăn rau sống....
Chẩn đoán hình ảnh:
Kỹ thuật chẩn đoan hình ảnh có thể được sử dung để phat hiện và xac
đinh vi trí tổn thương u hạt do ấu trùng Toxocara. Siêu âm bụng cho thấy
nhiêu vùng giam âm trong gan ở tre em bi gan to, tăng bạch cầu ái toan và
huyêt thanh dương tính với Toxocara [25].
Sử dụng chup cắt lớp vi tính (CT) thấy hình anh tổn thương gan xuất
hiên dưới dạng cac vùng mật độ thấp [32, 39]. Trong hê thần kinh trung ương,
hình anh cộng hưởng từ (MRI) cho thấy u hạt xuất hiên là cac vùng cường
độ cao, chủ yêu nằm vỏ não hoặc dưới vỏ não [54]. Ở 11 bênh nhân bi thể
bệnh OLM,
siêu âm thấy khối ngoại vi phản chiêu cao, dai thủy tinh hoặc cac màng, võng
mạc bi bong tach [61].
Chẩn đoán cận lâm sang
Tăng bạch cầu ái toan mau ngoại vi mặc dù không đặc hiệu đối với
- Ag, đươc đo bằng kỹ thuật miễn dịch - phóng xạ và ELISA [45] đã đươc
xác định ở bệnh nhân có dấu hiêu lâm sàng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo.
ELISA xac đinh khang thể IgG trong huyêt thanh đặc hiêu với Toxocara
spp. ít nhạy cam hơn đối với chẩn đoan thể mắt OLM so với cac dạng bênh
khac [37]. Vì vậy, cần thu nước hoặc dich lỏng ở mắt khi nghi ngờ thể bệnh ở
mắt. Khang thể chống lại Toxocara spp. trong những chất lỏng này cao hơn so
với ở huyêt thanh và do đó, chân đoan tốt hơn so với huyêt thanh ở những
bệnh nhân thể mắt [27].
Khi đọc kêt qua huyêt thanh học, cần lưu y rằng rất nhiều bệnh nhân
huyêt thanh dương tính qua xet nghiêm sàng lọc cac quần thể lớn có thể bi
nhiễm trong qua khư chư không phải nhiễm hiên tại. Chi những bệnh nhân có
dấu hiệu lâm sàng nhiễm Toxocara spp. mới cần điều tri, vì xet nghiêm miễn
dịch học không có kha năng phân biêt giữa nhiễm hiện tại và qua khứ. Vì vậy,
chẩn đoán miễn dich học cần kèm theo kiểm tra bạch cầu ai toan mau và nêu
có thể, xac định lương IgE huyêt thanh.
Phat hiện ca tăng bạch cầu ai toan mau ngoại vi và xet nghiệm huyêt
thanh dương tính là chi thi của nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo hiện tại.
Chẩn đoan ít chắc chắn ở những bệnh nhân không tăng bạch cầu ai toan,
nhưng có những dấu hiệu của thể bênh ẩn tính. Trong những trường hơp đó,
tăng nồng độ IgE tổng số > 500 IU ml là bằng chứng của nhiễm gần đây. Phat
hiên protein trao đôi cation với bạch cầu ai toan (ECP) đươc tiết ra bởi bạch
cầu ai toan cũng có thể hữu ích, vi sư tích tu cac tê bào này ở cac mô.
1.1.4. Điêu tri bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo ở người
Cac dẫn xuất từ Benzimidazole bao gồm Thiabendazole
(TBZ),
Mebendazole (MBZ), và Albendazole (ABZ) đươc sử dụng phô biến.
DEC, hoặc MBZ hoặc TBZ, hoặc chi DFC hoặc TBZ. Kêt qua của những
nghiên cứu này không rõ ràng.
Theo dõi sau điêu trị
Đối với viêc theo dõi sau điêu tri (ngoại trừ thể OLM), chi số bạch cầu
ai toan có ve hữu ích. Trong một thử nghiệm so sánh DEC và MBZ, ca hai đều
giam số lương bạch cầu ai toan sau 1 tháng điều tri, trong khi nồng độ IgE
không thay đôi. Viêc phat hiện IgG chống Toxocara spp. đặc hiêu bởi ELISA
dường như không hữu ích để theo dõi liệu phap. Khi so sánh hàm lương kháng
thể giữa tre không đươc điều tri và tre được điêu tri, biên động khang thể
chống IgG Toxocara spp. không bi anh hưởng. Ngươc lại, nồng độ huyêt
thanh IgE chống Toxocara spp. dường như giam đang kể sau điêu tri nêu nó
tăng đáng kể trước khi điều tri, đặc biệt ở bênh nhân di ứng.
1.1.5. Phòng bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo
•
Hạn chê tối đa tiêp xúc cac vật chủ nhạy cam, cac con chó/mèo bi
nhiễm và môi trường nghi ngờ có bệnh.
•
Chó/mèo cần tây giun bắt đầu từ 2 đến 3 tuần tuổi. Tây 2 tuần/ 1 lần
cho đến 12 tuần tuổi. Chó mèo trưởng thành nên tây hai lần/năm. Điều
tri chó cái cũng đươc chi định sau mỗi chu ky động dục.
•
Phải có quy trình kiểm tra phân định ky và có kê hoạch điều tri cần
thiết.
•
Mỹ, Úc, Pháp, vẫn có kha năng nhiễm và thậm chí nhiêu hơn ở một số vùng
so với cac quốc gia đang phat triển. Cac nghiên cứu nhận thấy rằng ty lê mắc
bênh do giun đũa chó/mèo ở vùng nhiêt đới cao hơn do nhiêt độ và độ âm
thích hợp cho sư hình thành phôi của trứng.
Đây là bênh lây truyên từ động vật và truyên qua đất. Nghịch đất hoặc ăn
đất làm tăng nguy cơ nhiễm bênh, đặc biêt là tre em sống ở nhà có chó con
chưa đươc tây giun. Vê sinh ca nhân kem cũng như ăn rau sống đươc trồng ở
vườn nhà bi nhiễm bân có thể gây nhiễm liêu thấp mãn tính. Ít phô biến hơn
liên quan đến tiêu thu thịt sống của vật chủ chứa, như gà [52], cừu [55]
hoặc thỏ [56]. Trong số sinh viên thú y tại Toulouse (Phap), ty lê huyêt thanh
dương tính với Toxocara spp. cao hơn ở những người thường ăn sống gan bê
hoặc nấu chưa chín kỹ so với những người ăn chín [24]. Điêu này cho thấy
rằng ấu trùng lây nhiễm có thể giai phóng khỏi mô động vật trong qua trình
tiêu hóa và sau đó gây bênh cho người.
Ty lê mắc bênh giun đũa chó/mèo ở người liên quan trưc tiêp với ty lê
nhiễm trùng ở chó/mèo và tập quan tha rông chó/mèo ở nơi công cộng. Bệnh
xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng tre em có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người lớn
do thói quen chơi của tre và khuynh hướng đưa tay vào miệng, đặc biệt ở
những tre chậm phat triển, không có sư khac biệt vê chủng tộc, be trai có ty lê
mắc bệnh cao hơn tre gai. Hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng thường xảy
ra ở tre 1-7 tuổi, trong khi ấu trùng di chuyển ở mắt hay gặp ở tre lớn và trung
niên.
Cac cuộc điều tra vê ty lê nhiễm ở cac nước phương Tây thấy rằng từ 25% người trưởng thành khỏe mạnh ở khu vưc thành thi dương tính và ty lê
này ở nông thôn là 14,2 - 37% [47].
Ở cac nước nhiêt đới ty lê huyêt thanh dương tính với Toxocara spp. cao
hơn, cu thể là 63,2% ở Bali [28], 86% ở tre em tại Saint - Lucia, Tây Ấn Độ
[60], và 92,8% ở người lớn ở La Reunion (Lãnh thô nước ngoài của Phap, Ấn
Độ Dương) [48].
TP. HCM, cho các số liệu sau: năm 2011 huyết thanh dương tính với Toxocara
spp. là 40/861 (4,6%) trường hợp, năm 2012 ty lê này là 130/1628 (8%) trường
hợp [20].
Tại phòng kham của Viên Sốt ret - Ky sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
trong năm 2009 đã phat hiên 4.652 trường hơp huyêt thanh dương tính với
giun đũa chó/mèo. Cac trường hợp nhiễm này phân bố rất rộng nhưng chủ
yêu là khu vưc miên Trung - Tây Nguyên. Số ca bênh phat hiên nhiều nhất
ở Bình Định 2.706 ca, tiêp theo là Gia Lai 786 ca, Phú Yên 520 ca, Quảng
Ngãi 304 ca, Đăk Lăk 228 ca. Nhóm tuôi từ 15 tuổi trở lên nhiễm chủ yếu
với 4.134 ca, nhóm tuôi nhỏ từ 1 - 4 tuổi chi phat hiên có 44 ca. Tuy nhiên, đa
số bệnh nhân đến kham là người lớn, tre em rất ít nên không thể xac định là
nhóm tuôi nhỏ nhiễm thấp hơn người lớn.
Ở miên Bắc chưa có nhiều bao cao vê tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa
chó/mèo ở người. Theo nghiên cưu của Nguyễn Thi Quyên tại tỉnh Phú Thọ
cho thấy ty lê huyêt thanh dương tính với ấu trùng giun đũa chó/mèo rất cao từ
72,5 – 87,6% [18]. Ty lê nhiễm giun đũa chó/mèo trên bênh nhân đên kham
và điều tri tại Bênh viện 103 là 35% [17].
Như vậy điều tra tại cộng đồng cho thấy ty lê nhiễm giun đũa chó/mèo
tại một số địa phương ở nước ta tương đối cao. Nguyên nhân là ở nước ta
chó/mèo đươc nuôi phô biến, thường tha rông, phân chó gặp ở khắp nơi. Ty lê
chó mẹ nuôi con nhiễm giun đũa chó tới 73,7%. Một khao sát tình hình nhiễm
giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại một số đia phương tinh Thanh Hóa gần đây
cho thấy qua mô khám ty lê chó nhiễm T. canis chiêm từ 10% - 25% và qua
xet nghiêm phân là 22,8% - 40% [15]. Ngoài ra, khảo sát trên 90 mẫu rau
sống ban tại cac siêu thi trên đia bàn TP. Hồ Chí Minh thấy 67,7% số mẫu
rau nhiễm trứng giun đũa chó/mèo [14], số mẫu đất có nhiễm trứng giun đũa
chó/mèo thay đổi từ 5 - 26% [6].
Có thể thấy rằng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo tương đối phô biên ở
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Cơ mẫu nghiên cứu
- Tổng số 397 bênh nhân đến kham và làm xet nghiêm ELISA Toxocara
spp. tại Bộ môn Ky sinh trùng - Trường Đại học Y Hà Nội.
- Lấy mau và tach huyêt thanh: bệnh nhân đươc lấy 1ml mau ở tĩnh mạch