BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
CẤN THỊ VIỆT HÀ
Ph¸t triÓn nguån nh©n lùc chÊt lîng cao
ë c¬ quan qu¶n lý nhµ níc ngµnh c«ng th¬ng, thµnh
phè hµ néi
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 931 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Bùi Ngọc Quỵnh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tác giả, các số liệu, kết quả nêu
trong luận án là trung thực, các tài liệu được
trích dẫn đúng quy định và được ghi đầy đủ
trong danh mục tài liệu tham khảo, không
trùng lặp với các công trình khoa học đã công
bố.
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Cấn Thị Việt Hà
10
10
14
24
CHẤT LƯỢNG CAO Ở CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC NGÀNH CÔNG THƯƠNG, THÀNH PHỐ HÀ
2.1.
2.2.
2.3
NỘI VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
Một số vấn đề chung về nguồn nhân lực chât l
́ ượng
cao, nguồn nhân lực chất lượng cao ở cơ quan quản
lý nhà nước ngành công thương
Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở cơ quan
quản lý nhà nước ngành công thương, thành phố Hà
Nội
Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
29
29
Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở CƠ QUAN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC NGÀNH CÔNG THƯƠNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI
4.1.
4.2.
Quan điểm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương,
thành phố Hà Nội thời gian tới
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương, thành
phố Hà Nội thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
129
129
139
163
165
Ủy ban nhân dân
Chư viêt tăt
̃ ́ ́
CNH, HĐH
HĐND
KT XH
LLSX
NNL
NNLCLC
QHSX
XHCN
UBND
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
1
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1: Tổng hợp số lượng NNLCLC ở cơ quan quản lý
nhà nước ngành công thương, thành phố Hà Nội theo trình
độ đào tạo giai đoạn 2010 2017
Bảng 3.2: Tổng hợp số lượng NNLCLC ở cơ quan quản lý
2
nhà nước ngành công thương, thành phố Hà Nội theo chức
viên ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương, thành
phố Hà Nội giai đoạn 2010 2017
96
Biểu đồ 3.2: Kết quả đánh giá chất lượng đảng viên ở cơ
2
quan quản lý nhà nước ngành công thương, thành phố Hà
Nội giai đoạn 2010 2017
Biểu đồ 3.3: Sự phát triển về trình độ đào tạo của nguôǹ
3
nhân lực ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương,
thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 2017
Biểu đồ 3.4: Cơ cấu NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà
4
105
NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương,
thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 2017
Biểu đồ 3.9: Sự phát triển NNLCLC về chất lượng theo
9
104
cơ quan quản lýnhà nước ngành công thương, thành phố
107
chức danh chuyên môn ở cơ quan quản lý nhà nước ngành
công thương, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 2017
110
5
MỞ ĐẦU
1. Ly do chon đ
́
̣ ề tài luận án
Nguồn nhân lực, nhât la NNLCLC
́ ̀
là nguồn lực có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Đặc biệt, đối với
nước ta, trong quá trình CNH,HĐH, NNL có vị trí, vai trò cực kỳ to lớn, giữ vị
trí quan trọng nhất trong các nguồn lực. Nhận thức sâu sắc vai trò NNLCLC,
Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định tiếp tục thực hiện có hiệu quả 3 đột
phá chiến lược (do Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam thông
qua), trong đó có đột phá chiến lược: đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục,
đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thực hiện chủ trương phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao của Đảng, đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương nươc ta,
́
trong đó có cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương phải đây manh
̉
6
năng lực công tác. Đặc biệt là, trước tác động của hội nhập quốc tế và tác
động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), để nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tham mưu, đề xuất với cấp
ủy, chính quyền các cấp của thành phố Hà Nội về chủ trương, kế hoạch,
biện pháp phát triển ngành công thương, đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước
ngành công thương của Thành phố phải chú trọng phát triển NNL, nhất là
NNLCLC.
Nhận thức được sự cần thiết của việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là
NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương, trong thời gian qua
thành phố Hà Nội đã chú trọng phát triển NNLCLC ở cơ quan quản lý ngành
công thương các cấp của Thành phố. UBND thành phố Hà Nội đã xây dựng và
ban hành nhiều văn bản pháp luật về tuyển dụng, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quy
hoạch, luân chuyển, điều động, đánh giá, nâng lương, nâng ngạch đối với cán
bộ, công chức, viên chức ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương các
cấp. Tuy nhiên, NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương,
thành phố Hà Nội con nhiêu han chê c
̀
̀ ̣
́ ả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Số
lượng cán bộ, thể lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong công tác của
một bộ phận công chức, viên chức có trình độ cao ở cơ quan quản lý ngành
công thương còn ít và chưa đáp ứng yêu cầu; năng lực công tác, trình độ thực tế
của một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan quản lý
nhà nước ngành công thương chưa tương xứng với bằng cấp đại học và sau
đại học mà họ đã được cấp và chưa đáp ứng vị trí công tác, chức năng, nhiệm
vụ được giao; cơ cấu về trình độ chuyên môn, giới tính, lứa tuổi của NNLCLC
còn nhiều bất cập, chưa hợp lý.
Để giải quyết những vấn đề trên rất cần có sự nghiên cứu công phu,
nghiêm túc cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cho đến nay
nước ngành công thương, thanh phô
̀
́ Hà Nội; phân tích kinh nghiệm phát triển
NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương ở các thành phố
trực thuộc Trung ương và rút ra bài học cho ngành công thương thanh phô
̀
́ Hà
Nội.
Đánh giá đúng thực trạng phát triển NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà
nước ngành công thương, thanh phô
̀
́ Hà Nội thời gian qua; xác định nguyên
nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển NNLCLC ở cơ quan quản
lý nhà nước ngành công thương, thanh phô
̀
́ Hà Nội thời gian tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà
nước ngành công thương.
* Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: Nghiên cưú phát triển NNLCLC ở cơ quan
quản lý nhà nước ngành công thương vê sô l
̀ ́ ượng, chât l
́ ượng va c
̀ ơ câu
́
dưới góc độ của chuyên ngành kinh tế chính trị.
của luận án: NNL, NNLCLC, NNLCLC ở cơ quan qu ản lý nhà nước
ngành công thương, phát triển NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà nước
9
ngành công thương, thành phố Hà Nội. Nghiên cứu các mối quan hệ và
tính quy luật trong phát triển NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà nước ngành
công thương, thanh phô
̀
́ Hà Nội.
Phương pháp kết hợp lôgic lịch sử; thống kê so sánh được sử
dụng tập trung trong chương 3 để đánh giá thực trạng phát triển NNLCLC
ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương, thanh phô
̀
́ Hà Nội; xác
định nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng trong chương 1 của
luận án để tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án,
xác định những kết quả của những công trình nghiên cứu có liên quan mà
luận án có thể kế thừa và những khoảng trống khoa học mà luận án cần
tập trung giải quyết. Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng trong
chương 2 của luận án để phân tích đặc điểm, vai trò NNLCLC ở cơ quan
quản lý nhà nước ngành công thương; nghiên cứu sự tác động của các nhân
tố đến phát triển NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công
thương, thanh phô
̀
́ Hà Nội; nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNLCLC ở
cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương ở một số thành phố trực
thuộc Trung ương và rút ra bài học đối với thành phố Hà Nội. Phương pháp
phân tích tổng hợp còn được sử dụng ở chương 3 để đánh giá thực trạng
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo
nghiên cứu khoa học, giảng dạy môn Kinh tế chính trị Mác Lênin và các
môn khoa học khác có liên quan ở các nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (10 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố và phụ
lục.
11
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực
nói chung
Kelly D.J (2001), Dual Perceptions of HRD: Issues for Policy: SME’s,
Other Constituencies, and the Contested Definitions of Human Resource
Development (Quan điểm kép về HRD: Các vấn đề về chính sách: SME’s,
Các Khu vực khác nhau và các định nghĩa còn tranh cãi về phát triển nguồn
nhân lực) [123]. Công trình đã đưa ra khái niệm về NNL và phát triển NNL.
Theo đó, phát triển NNL là một phạm trù nằm trong tổng thể quá trình
thuộc về sự nghiệp phát triển con người. Vì vậy, cần phải có các cơ chế,
chính sách tổng thể để phát triển con người một cách toàn diện. Tuy nhiên,
tác giả chưa xây dựng được các tiêu chí đánh giá quá trình phát triển NNL.
Naohiro Ogawa; Gavin W. Jones; Jeffrey G. Williamson (2003), Human
resources in development along the Asian Pacific Rim (Nguồn nhân lực trong
phát triển ở khu vực vành đai châu Á Thái Bình Dương) [128]. Cuốn sách
nghiên cứu các chính sách kinh tế, sự thay đổi dân số, y tế, giáo dục, các nước
Châu Á cũng đã rút ra những bài học về chính sách phát triển NNL qua khủng
tập, đào tạo nghề của người dân; sự phân cấp và sự liên thông trong các cấp,
cơ sở đào tạo nhân lực. Đặc biệt, bài báo nhấn mạnh chất lượng đào tạo
NNL là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của hệ thống đào tạo
nhân lực ở Hoa Kỳ.
Charles Cowell et al (2006), Alternative training model in human resonrce
development (Mô hình đào tạo thay thế tiến bộ trong phát triển nguồn nhân
lực) [120]. Bài báo đề cập các mô hình đào tạo tiên tiến nhằm phát triển NNL
trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trong đó nhấn mạnh việc đào tạo NNL theo
nhu cầu thị trường, có địa chỉ; đào tạo NNLCLC theo hướng chuyên sâu,
13
chuyên gia; ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến trong đào tạo
NNL.
Kristine Sydhagen và Peter Cunningham (2007), Human Resource
Development International (Phát triển nguồn nhân lực quốc tế) [124]. Công
trình đã tập trung làm rõ quan niệm về NNL quốc tế, đó là bộ phận nhân lực
mà vị trí công tác, chức năng, nhiệm vụ có phạm vi ảnh hưởng đối với nhiều
quốc gia (những chuyên gia có tầm cỡ quốc tế). Đồng thời, công trình lý giải
sự ra đời, xuất hiện NNL quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc
tế. Đặc biệt, công trình đưa ra những tiêu chí đối với NNL quốc tế về trình
độ, học vấn, kinh nghiệm chuyên môn, ngoại ngữ, tin học,..
Julia Storberg và Walker Claire Gubbins (2007), Social Networks as a
Conceptual and Empirical Tool to Understand and ‘Do’ HRD (Mạng xã hội là
công cụ khái niệm và thực nghiệm để hiểu và làm “Phát triển nguồn nhân
lực”) [126]. Công trình đưa ra nội dung phát triển NNL ở các phạm vi khác
nhau. Mặc dù đã luận giải khá sâu sắc những mối liên hệ toàn diện trong
phát triển NNL song các tác giả chưa đề cập đến NNL chất lượng cao và
các nhân tố tác động đến quá trình phát triển bộ phận nhân lực này trong
bối cảnh hiện nay.
education in their development” (Bốn con rồng nhỏ châu Á: một sự so sánh về
vai trò của giáo dục trong phát triển) [129]. Công trình đề cập tới Đông Á
dưới góc độ giáo dục và nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục trong đào
tạo NNLCLC phục vụ quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Steyn, Schulze (2003), “Assuring Quality of a Module in Human
Resource Management: Learners' Perceptions (Đảm bảo chất lượng cho
một mô đun trong quản trị nguồn nhân lực: nhận thức của người học)
[130]. Trong công trình này các tác giả đã nghiên cứu về chất lượng NNL
quản lý, trong đó đã chỉ ra quan niệm về NNLCLC.
Dave Ulrich (2007), The Talent Trifecta (Tài năng Trifecta) [121].
15
Trong công trình này, tác giả đã đưa ra định nghĩa về nhân tài. Theo đó,
nhân tài vừa phải có năng lực tốt, vừa phải có cam kết làm việc hết mình
và có sự cống hiến với công việc, với công ty mình làm việc. Tác giả cũng
đưa ra những giải pháp phát hiện những “người giỏi”, có khả năng và bồi
dưỡng, vun đắp họ thành “nhân tài”, mang lại giá trị cao cho tổ chức, xã
hội.
Steve M.Kosiak (2008), Military manpower for The LongHaul Centrer
of Strategy and Budgetary Assessments (Nhân lực quân sự cho trung tâm
đánh giá chiến lược và ngân sách Long Haul) [131]. Tác giả khẳng định
NNLCLC trong lĩnh vực quân sự có vị trí rất quan trọng, đặc biệt là trong
chiến lược dài hạn của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ. Tác giả đưa ra dự
báo những yêu cầu và các khuyến nghị tập trung vào cải thiện chế độ đãi
ngộ cho việc thu hút và giữ chân NNLCLC, tinh gọn lực lượng vũ trang và
phát triển việc tư vấn, nâng cao chất lượng đào tạo NNL quân sự.
J.N. Bradley (2010), Total Quality and Human Resource Management
(Chất lượng tổng thể và quản trị nguồn nhân lực), [127]. Tác giả đã nghiên
cứu khá toàn diện về NNLCLC trong lĩnh vực quản lý, trong đó đã đưa ra
Đề tài phân tích thực trạng đội ngũ viên chức, công chức trong khu vực
quản lý nhà nước để thấy rõ những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại của
NNL này, đồng thời tìm ra những nguyên nhân có được các ưu điểm cũng
như những tồn đọng trong việc sử dụng đội ngũ công chức, viên chức quản
lý nhà nước trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
Phạm Minh Hạc (2008), Phát triển văn hoá con người và nguồn nhân
lực thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [40]. Cuốn sách nghiên
cứu sâu sắc về con người trên những giác độ tiếp cận độc đáo. Tác giả cho
rằng, NNLCLC là những người lao động có tri thức tốt, kĩ năng cao và có
tính nhân văn. Tuy nhiên, công trình mới chỉ nghiên cứu NNL dưới giác độ
của khoa học tâm lý, giáo dục mà chưa tiếp cận nó với tư cách một nguồn
lực chủ yếu trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội.
17
Nguyễn Kim Diện (2008), Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương” [18]. Luận án đề cập đến chất
lượng NNL trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp. Những phân tích đánh giá
thực trạng NNL thực hiện công tác hành chính với những thành công và
hạn chế nhất định thuộc tỉnh Hải Dương, những phân tích đánh giá này có
thể là điển hình cho đội ngũ công chức hành chính nói chung nhưng không
đại diện cho NNL trong các cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương.
Trần Khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong
thế kỷ XXI” [39]. Cuốn sách phân tích vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục
và đào tạo trong phát triển con người nói chung và NNL nói riêng. Tác giả đã
đưa ra những khái niệm và những tiêu chí đánh giá chất lượng NNL trên thế
giới. Đồng thời tác giả cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong
đó đổi mới giáo dục đào tạo phải là khâu đột phá để phát triển NNL của đất
nước.
Nguyễn Ngọc Phú (2010), Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển
NNL, tạo sức bật mới trong quá trình tái cơ cấu ngành điện lực theo đề án
của Chính phủ.
Nguyễn Thị Minh Phước (2011), “ Phát triển nguồn nhân lực: kinh
nghiệm ở một số nước trên thế giới” [72]. Bài viết đánh giá khái quát về
kinh nghiệm phát triển NNL ở một số nước trên thế giới. Tác giả đã đi sâu
khảo sát những kinh nghiệm có tính chất đột phá thuộc về giáo dục đào tạo
và những cơ chế, chính sách đặc thù trong phát triển NNL ở một số quốc
gia có trình độ phát triển tiên tiến. Trên cơ sở đó, bài viết cũng đã đưa ra
một số khuyến nghị cụ thể đối với Việt Nam trong quá trình phát triển
NNL, nhất là bộ phận NNL có chất lượng cao để phát triển kinh tế tri
thức, thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH rút ngắn.
Đường Vĩnh Sường (2012), “Giáo dục, đào tạo với phát triển nguồn
nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [79]. Bài báo phân
19
tích vai trò của NNLCLC; đánh giá thực trạng NNL và NNLCLC ở nước ta,
phân tích một số hạn chế, yếu kém của NNL nước ta so với một số nước khác
trong khu vực và thế giới; đưa ra những giải pháp chính về giáo dục và đào tạo
để phát triển NNLCLC phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Tạ Ngọc Tấn (2012), Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực,
nhân tài, Một số kinh nghiệm của thế giới [84]. Cuốn sách đã phân tích khá
sâu sắc những vấn đề cơ bản về NNL, nhân tài và phát triển giáo dục và đào
tạo nguồn nhân lực, nhân tài của một số nước trên thế giới, rút ra những
kinh nghiệm bổ ích đối với Việt Nam trong thực hiện đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục đào tạo để phát triển NNL, nhân tài đất nước.
Đặng Xuân Hoan (2015), “Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai
đoạn 20152020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, số tháng 4/2015 [43]. Bài báo
khẳng định trong điều kiện Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
lực còn thấp. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư
(4.0).
Quyên Lưu (2019), Thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên
số, Cổng Thông tin điện tử Bộ Công thương, ngày 19/4/2019 [60]. Bài viết cho
rằng phát triển nguồn nhân lực thúc đẩy đào tạo nghề, tăng cường thông tin về
thị trường lao động hiệu quả, tạo việc làm bền vững thực hiện các chính sách an
sinh phù hợp, nhằm đảm bảo các tầng lớp xã hội có thể tham gia tích cực vào
lực lượng lao động và hưởng lợi từ cuộc cách mạng khoa học thuật là một
trong những hướng ưu tiên của tổ chức APEC trong những năm tới hướng tới
tăng trưởng bền vững.
1.2.2. Những công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao
Nghiêm Đình Vỳ, Nguyễn Đắc Hưng (2002), Phát triển giáo dục và
21
đào tạo nhân tài [81]. Các tác giả đã trình bày khái quát về lịch sử giáo dục
Việt Nam và những vấn đề đặt ra, nhiệm vụ của giáo dục Việt Nam trong
thế kỷ thử XXI. Các tác giả cũng đề cập nhiều nội dung quan trọng về
phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài.
Vũ Thị Phương Mai (2004), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
qua thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một số nước ” [63]. Bài viết
phân tích những kinh nghiệm phát triển NNLCLC ở một số nước Mỹ, Nhật
và một số nước công nghiệp hóa mới Đông Á. Những kinh nghiệm đáng chú
ý như: Coi trọng giáo dục đào tạo theo nhu cầu xã hội; tạo môi trường thuận
lợi và có cơ chế đãi ngộ thỏa đáng…
Nguyễn Định Luận (2005), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [59]. Bài viết
phân tích vai trò của NNLCLC đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước ở