Luận văn tiến sĩ Kinh tế: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương, thành phố Hà Nội - Pdf 58

BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

CẤN THỊ VIỆT HÀ

Ph¸t triÓn nguån nh©n lùc chÊt lîng cao
ë c¬ quan qu¶n lý nhµ níc ngµnh c«ng th¬ng, thµnh
phè hµ néi

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 931 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Bùi Ngọc Quỵnh


LỜI CAM ĐOAN
 Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu  
của  riêng   tác   giả,  các  số  liệu,  kết  quả   nêu  
trong luận án là trung thực, các tài liệu được  
trích dẫn đúng quy định và được ghi đầy đủ  
trong   danh   mục   tài   liệu   tham   khảo,   không  
trùng lặp với các công trình khoa học đã công  
bố.
Hà Nội, ngày      tháng      năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

 Cấn Thị Việt Hà



10
10
14

24

CHẤT LƯỢNG CAO  Ở  CƠ  QUAN QUẢN LÝ NHÀ 
NƯỚC NGÀNH CÔNG THƯƠNG, THÀNH PHỐ  HÀ 

2.1.

2.2.

2.3

NỘI VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

Một số  vấn đề  chung về  nguồn nhân lực chât l
́ ượng 
cao, nguồn nhân lực chất lượng cao  ở  cơ  quan quản  
lý nhà nước ngành công thương
Quan niệm, nội dung và các nhân tố  ảnh hưởng  đến 
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao  ở  cơ  quan 
quản lý nhà nước  ngành công thương, thành phố  Hà 
Nội
Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở 

29

29


Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN 
NHÂN   LỰC   CHẤT   LƯỢNG   CAO   Ở   CƠ   QUAN 
QUẢN   LÝ   NHÀ   NƯỚC   NGÀNH   CÔNG   THƯƠNG, 
THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI

4.1.

4.2.

Quan điểm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 
ở   cơ   quan   quản   lý   nhà   nước   ngành   công   thương, 
thành phố Hà Nội thời gian tới
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở 
cơ  quan quản lý nhà nước ngành công thương, thành 
phố Hà Nội thời gian tới

KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐàCÔNG 
BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

129

129

139
163
165

Ủy ban nhân dân

Chư viêt tăt
̃ ́ ́
CNH, HĐH
HĐND
KT ­ XH
LLSX
NNL
NNLCLC
QHSX
XHCN
UBND


DANH MỤC CÁC BẢNG

STT
1

Tên bảng
Trang
Bảng 3.1: Tổng hợp số lượng NNLCLC ở cơ quan quản lý 
nhà nước ngành công thương, thành phố  Hà Nội theo trình 
độ đào tạo giai đoạn 2010 ­ 2017 
Bảng 3.2: Tổng hợp số lượng NNLCLC ở cơ quan quản lý 

2

nhà nước ngành công thương, thành phố  Hà Nội theo chức  

viên ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương, thành 
phố Hà Nội giai đoạn 2010 ­ 2017
96
Biểu đồ 3.2: Kết quả đánh giá chất lượng đảng viên ở cơ 

2

quan quản lý nhà nước ngành công thương, thành phố Hà 
Nội giai đoạn 2010 ­ 2017
Biểu đồ 3.3: Sự phát triển về trình độ đào tạo của nguôǹ  

3

nhân lực ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương,  
thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 ­ 2017
Biểu đồ  3.4: Cơ  cấu NNLCLC  ở  cơ  quan quản lý nhà  

4

105

NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương, 
thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 ­ 2017
Biểu đồ  3.9: Sự  phát triển NNLCLC về  chất lượng theo  

9

104

cơ  quan quản lýnhà nước ngành công thương, thành phố 


107

chức danh chuyên môn ở cơ quan quản lý nhà nước ngành 
công thương, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 ­ 2017

110


5

MỞ ĐẦU
1. Ly do chon đ
́
̣ ề tài luận án
Nguồn nhân lực, nhât la NNLCLC
́ ̀
 là nguồn lực có vai trò quan trọng 
đối với sự  phát triển kinh tế  ­ xã hội của mỗi quốc gia. Đặc biệt, đối với  
nước ta, trong quá trình CNH,HĐH, NNL có vị trí, vai trò cực kỳ to lớn, giữ vị 
trí quan trọng nhất trong các nguồn lực. Nhận thức sâu sắc vai trò NNLCLC, 
Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định tiếp tục thực hiện có hiệu quả 3 đột  
phá chiến lược (do Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam thông 
qua), trong đó có đột phá chiến lược:  đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, 
đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.  
Thực hiện chủ trương phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất 
lượng cao  của Đảng, đòi hỏi các  cấp, các ngành, các địa phương  nươc ta,
́  
trong đó có cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương phải đây manh 
̉

6
năng lực công tác. Đặc biệt là, trước tác động của hội nhập quốc tế và tác 
động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ  tư  (4.0), để  nâng cao chất 
lượng, hiệu quả  công tác quản lý nhà nước, tham mưu, đề  xuất với cấp 
ủy, chính quyền các cấp của thành phố  Hà Nội về  chủ  trương, kế  hoạch, 
biện pháp phát triển ngành công thương, đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước 
ngành công thương của Thành phố  phải chú trọng phát triển NNL, nhất là  
NNLCLC. 
Nhận thức được sự cần thiết của việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là  
NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương, trong thời gian qua 
thành phố Hà Nội đã chú trọng phát triển NNLCLC ở cơ quan quản lý ngành 
công thương các cấp của Thành phố. UBND thành phố Hà Nội đã xây dựng và 
ban hành nhiều văn bản pháp luật về tuyển dụng, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quy  
hoạch, luân chuyển, điều động, đánh giá, nâng lương, nâng ngạch đối với cán 
bộ, công chức, viên chức ở cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương các 
cấp. Tuy nhiên, NNLCLC  ở  cơ  quan quản lý nhà nước ngành công thương, 
thành phố Hà Nội con nhiêu han chê c
̀
̀ ̣
́ ả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Số 
lượng cán bộ, thể  lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong công tác của 
một bộ  phận công chức, viên chức có trình độ  cao  ở  cơ  quan quản lý ngành 
công thương còn ít và chưa đáp ứng yêu cầu; năng lực công tác, trình độ thực tế 
của một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan quản lý 
nhà nước ngành công thương chưa tương xứng với bằng cấp đại học và sau 
đại học mà họ đã được cấp và chưa đáp ứng vị trí công tác, chức năng, nhiệm 
vụ được giao; cơ cấu về trình độ chuyên môn, giới tính, lứa tuổi của NNLCLC 
còn nhiều bất cập, chưa hợp lý. 
Để giải quyết những vấn đề  trên rất cần có sự  nghiên cứu công phu, 
nghiêm túc cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cho đến nay  

nước ngành công thương, thanh phô
̀
́ Hà Nội; phân tích kinh nghiệm phát triển 
NNLCLC  ở  cơ  quan quản lý nhà nước ngành công thương  ở  các thành phố 
trực thuộc Trung ương và rút ra bài học cho ngành công thương thanh phô
̀
́ Hà 
Nội.
­ Đánh giá đúng thực trạng phát triển NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà 
nước ngành công thương, thanh phô
̀
́  Hà Nội thời gian qua; xác định nguyên 
nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
­ Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển NNLCLC ở cơ quan quản 
lý nhà nước ngành công thương, thanh phô
̀
́ Hà Nội thời gian tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:  Phát triển  NNLCLC  ở  cơ  quan quản lý nhà 
nước ngành công thương.
* Phạm vi nghiên cứu:
­ Phạm vi về  nội dung:  Nghiên cưú  phát triển  NNLCLC  ở  cơ  quan 
quản lý nhà nước ngành công thương  vê sô l
̀ ́ ượng, chât l
́ ượng va c
̀ ơ  câu
́ 
dưới góc độ của chuyên ngành kinh tế chính trị.



của   luận   án:   NNL,   NNLCLC,   NNLCLC   ở   cơ   quan   qu ản   lý   nhà   nước  
ngành   công   thương,   phát   triển   NNLCLC   ở   cơ   quan   quản   lý   nhà   nước 


9
ngành công thương, thành phố  Hà Nội. Nghiên cứu các mối quan hệ  và  
tính quy luật trong phát triển NNLCLC ở cơ quan quản lý nhà nước ngành 
công thương, thanh phô
̀
́ Hà Nội.
Phương pháp kết hợp lôgic ­ lịch sử; thống kê ­ so sánh  được sử 
dụng tập trung trong chương 3 để đánh giá thực trạng phát triển NNLCLC 
ở  cơ  quan quản lý nhà nước ngành công thương, thanh phô
̀
́  Hà Nội; xác 
định nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
Phương pháp phân tích ­ tổng hợp được sử dụng trong chương 1 của 
luận án để tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề  tài luận án, 
xác định những kết quả  của những công trình nghiên cứu có liên quan mà 
luận án có thể  kế  thừa và những khoảng trống khoa học mà luận án cần 
tập trung giải quyết. Phương pháp phân tích ­ tổng hợp được sử dụng trong  
chương 2 của luận án để  phân tích đặc điểm, vai trò NNLCLC  ở  cơ  quan  
quản lý nhà nước ngành công thương; nghiên cứu sự tác động của các nhân 
tố   đến   phát   triển  NNLCLC  ở   cơ   quan   quản   lý   nhà   nước   ngành   công 
thương, thanh phô
̀
́  Hà Nội; nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNLCLC ở 
cơ  quan quản lý nhà nước ngành công thương  ở  một số  thành phố  trực  
thuộc Trung ương và rút ra bài học đối với thành phố Hà Nội. Phương pháp 
phân tích ­ tổng hợp còn được sử dụng ở chương 3 để đánh giá thực trạng 

­ Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo 
nghiên cứu khoa học, giảng dạy môn Kinh tế  chính trị  Mác ­ Lênin và các 
môn khoa học khác có liên quan ở các nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (10 tiết), kết luận, danh mục tài liệu  
tham khảo, danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố và phụ 
lục.


11
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực  
nói chung
Kelly D.J (2001), Dual Perceptions of HRD: Issues for Policy: SME’s,  
Other   Constituencies,   and   the   Contested   Definitions   of   Human   Resource  
Development (Quan điểm kép về  HRD: Các vấn đề  về  chính sách: SME’s,  
Các Khu vực khác nhau và các định nghĩa còn tranh cãi về phát triển nguồn  
nhân lực) [123]. Công trình đã đưa ra khái niệm về NNL và phát triển NNL. 
Theo đó,  phát triển NNL  là một phạm trù nằm trong tổng thể  quá trình 
thuộc về sự nghiệp phát triển con người. Vì vậy, cần phải có các cơ  chế, 
chính sách tổng thể để phát triển con người một cách toàn diện. Tuy nhiên,  
tác giả chưa xây dựng được các tiêu chí đánh giá quá trình phát triển NNL. 
Naohiro Ogawa; Gavin W. Jones; Jeffrey G. Williamson (2003), Human 
resources in development along the Asian ­ Pacific Rim (Nguồn nhân lực trong  
phát triển  ở khu vực vành đai châu Á ­ Thái Bình Dương)  [128]. Cuốn sách 
nghiên cứu các chính sách kinh tế, sự thay đổi dân số, y tế, giáo dục, các nước 
Châu Á cũng đã rút ra những bài học về chính sách phát triển NNL qua khủng  

tập, đào tạo nghề của người dân; sự phân cấp và sự liên thông trong các cấp,  
cơ  sở  đào tạo nhân lực. Đặc biệt, bài báo nhấn mạnh chất lượng đào tạo 
NNL là một trong những mục tiêu  ưu tiên hàng đầu của hệ  thống đào tạo 
nhân lực ở Hoa Kỳ.
Charles Cowell et al (2006), Alternative training model in human resonrce 
development (Mô hình đào tạo thay thế  tiến bộ  trong phát triển nguồn nhân  
lực) [120]. Bài báo đề cập các mô hình đào tạo tiên tiến nhằm phát triển  NNL 
trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trong đó nhấn mạnh việc đào tạo NNL theo 
nhu cầu thị  trường, có địa chỉ; đào tạo NNLCLC theo hướng chuyên sâu, 


13
chuyên gia;  ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ  tiên tiến trong đào tạo  
NNL.
Kristine   Sydhagen   và   Peter   Cunningham   (2007),  Human   Resource 
Development International  (Phát triển nguồn nhân lực quốc tế)  [124]. Công 
trình đã tập trung làm rõ quan niệm về NNL quốc tế, đó là bộ phận nhân lực  
mà vị trí công tác, chức năng, nhiệm vụ có phạm vi ảnh hưởng đối với nhiều 
quốc gia (những chuyên gia có tầm cỡ quốc tế). Đồng thời, công trình lý giải 
sự ra đời, xuất hiện NNL quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc 
tế. Đặc biệt, công trình đưa ra những tiêu chí đối với NNL quốc tế về trình 
độ, học vấn, kinh nghiệm chuyên môn, ngoại ngữ, tin học,..
Julia Storberg và Walker Claire Gubbins (2007),  Social Networks as a  
Conceptual and Empirical Tool to Understand and ‘Do’ HRD (Mạng xã hội là  
công cụ  khái niệm và thực nghiệm để  hiểu và làm “Phát triển nguồn nhân  
lực”) [126]. Công trình đưa ra nội dung phát triển NNL ở các phạm vi khác 
nhau. Mặc dù đã luận giải khá sâu sắc những mối liên hệ  toàn diện trong 
phát triển NNL song các tác giả  chưa đề  cập đến NNL chất lượng cao và 
các nhân tố  tác động đến quá trình phát triển bộ  phận nhân lực này trong  
bối cảnh hiện nay. 

education in their development” (Bốn con rồng nhỏ châu Á: một sự so sánh về  
vai trò của giáo dục trong phát triển)  [129]. Công trình đề  cập tới Đông Á 
dưới góc độ giáo dục và nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục trong đào 
tạo NNLCLC phục vụ quá trình xây dựng và phát triển đất nước. 
Steyn,   Schulze   (2003),  “Assuring   Quality   of   a   Module   in   Human  
Resource  Management:  Learners'  Perceptions  (Đảm bảo chất lượng cho  
một mô ­ đun trong quản trị  nguồn nhân lực: nhận thức của người học)  
[130]. Trong công trình này các tác giả  đã nghiên cứu về  chất lượng NNL  
quản lý, trong đó đã chỉ ra quan niệm về NNLCLC.
Dave   Ulrich   (2007),  The   Talent   Trifecta  (Tài   năng   Trifecta)  [121]. 


15
Trong công trình này, tác giả  đã đưa ra định nghĩa về  nhân tài. Theo đó, 
nhân tài vừa phải có năng lực tốt, vừa phải có cam kết làm việc hết mình 
và có sự cống hiến với công việc, với công ty mình làm việc. Tác giả cũng 
đưa ra những giải pháp phát hiện những “người giỏi”, có khả  năng và bồi 
dưỡng, vun đắp họ  thành “nhân tài”, mang lại giá trị  cao cho tổ  chức, xã 
hội. 
Steve M.Kosiak (2008), Military manpower for The LongHaul Centrer  
of Strategy and Budgetary Assessments (Nhân lực quân sự  cho trung tâm  
đánh giá chiến lược và ngân sách Long Haul)   [131]. Tác giả  khẳng định 
NNLCLC trong lĩnh vực quân sự  có vị  trí rất quan trọng, đặc biệt là trong  
chiến lược dài hạn của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ. Tác giả đưa ra dự 
báo những yêu cầu và các khuyến nghị  tập trung vào cải thiện chế  độ  đãi 
ngộ cho việc thu hút và giữ chân NNLCLC, tinh gọn lực lượng vũ trang và 
phát triển việc tư vấn, nâng cao chất lượng đào tạo NNL quân sự. 
J.N. Bradley (2010),  Total Quality and Human Resource Management  
(Chất lượng tổng thể  và quản trị  nguồn nhân lực), [127]. Tác giả đã nghiên 
cứu khá toàn diện về  NNLCLC trong lĩnh vực quản lý, trong đó đã đưa ra 

Đề  tài phân tích thực trạng đội ngũ viên chức, công chức trong khu vực  
quản lý nhà nước để  thấy rõ những  ưu điểm và hạn chế  còn tồn tại của 
NNL này, đồng thời tìm ra những nguyên nhân có được các  ưu điểm cũng 
như những tồn đọng trong việc sử dụng đội ngũ công chức, viên chức quản  
lý nhà nước trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
Phạm Minh Hạc (2008), Phát triển văn hoá con người và nguồn nhân  
lực thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [40]. Cuốn sách nghiên 
cứu sâu sắc về con người trên những giác độ tiếp cận độc đáo. Tác giả cho  
rằng, NNLCLC là những người lao động có tri thức tốt, kĩ năng cao và có 
tính nhân văn. Tuy nhiên, công trình mới chỉ  nghiên cứu NNL dưới giác độ 
của khoa học tâm lý, giáo dục mà chưa tiếp cận nó với tư  cách một nguồn 
lực chủ yếu trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội.


17
Nguyễn Kim Diện (2008),  Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức  
hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương”  [18]. Luận án  đề  cập  đến chất 
lượng NNL trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp. Những phân tích đánh giá 
thực trạng NNL thực hiện công tác hành chính với những thành công và 
hạn chế nhất định thuộc tỉnh Hải Dương, những phân tích đánh giá này có  
thể là điển hình cho đội ngũ công chức hành chính nói chung nhưng không 
đại diện cho NNL trong các cơ quan quản lý nhà nước ngành công thương.
Trần Khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong  
thế kỷ XXI” [39]. Cuốn sách phân tích vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục  
và đào tạo trong phát triển con người nói chung và NNL nói riêng. Tác giả đã  
đưa ra những khái niệm và những tiêu chí đánh giá chất lượng NNL trên thế 
giới. Đồng thời tác giả cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong  
đó đổi mới giáo dục ­ đào tạo phải là khâu đột phá để phát triển NNL của đất  
nước.
Nguyễn Ngọc Phú (2010), Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển  

NNL, tạo sức bật mới trong quá trình tái cơ  cấu ngành điện lực theo đề  án 
của Chính phủ.
Nguyễn Thị  Minh Phước (2011), “ Phát triển nguồn nhân lực: kinh  
nghiệm  ở  một số  nước trên thế  giới” [72]. Bài viết đánh giá khái quát về 
kinh nghiệm phát triển NNL ở một số nước trên thế giới. Tác giả đã đi sâu  
khảo sát những kinh nghiệm có tính chất đột phá thuộc về giáo dục đào tạo 
và những cơ  chế, chính sách đặc thù trong phát triển NNL  ở một số  quốc 
gia có trình độ  phát triển tiên tiến. Trên cơ  sở  đó, bài viết cũng đã đưa ra 
một số  khuyến nghị  cụ  thể  đối với Việt Nam trong quá trình phát triển 
NNL, nhất là bộ  phận NNL có chất lượng cao để  phát triển kinh tế  tri  
thức, thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH rút ngắn.
Đường Vĩnh Sường  (2012), “Giáo dục, đào tạo với phát triển nguồn  
nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [79]. Bài báo phân 


19
tích vai trò của NNLCLC; đánh giá thực trạng NNL và NNLCLC  ở  nước ta, 
phân tích một số hạn chế, yếu kém của NNL nước ta so với một số nước khác 
trong khu vực và thế giới; đưa ra những giải pháp chính về giáo dục và đào tạo  
để phát triển NNLCLC phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Tạ Ngọc Tấn (2012), Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực,  
nhân tài, Một số kinh nghiệm của thế giới [84]. Cuốn sách đã phân tích khá 
sâu sắc những vấn đề cơ bản về NNL, nhân tài và phát triển giáo dục và đào 
tạo nguồn nhân lực, nhân tài của một số  nước trên thế  giới, rút ra những 
kinh nghiệm bổ  ích đối với Việt Nam trong thực hiện đổi mới căn bản và 
toàn diện giáo dục ­ đào tạo để phát triển NNL, nhân tài đất nước.
Đặng Xuân Hoan (2015), “Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai  
đoạn 2015­2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 
và hội nhập quốc tế”,  Tạp chí Cộng sản, số  tháng 4/2015 [43]. Bài báo 
khẳng định trong điều kiện Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại 

lực còn thấp. Trên cơ  sở  đó, tác giả  đề  xuất một số  giải pháp phát triển 
nguồn nhân lực đáp  ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ  tư 
(4.0).
Quyên Lưu (2019), Thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên 
số, Cổng Thông tin điện tử Bộ Công thương, ngày 19/4/2019 [60]. Bài viết cho 
rằng phát triển nguồn nhân lực thúc đẩy đào tạo nghề, tăng cường thông tin về 
thị trường lao động hiệu quả, tạo việc làm bền vững thực hiện các chính sách an  
sinh phù hợp, nhằm đảm bảo các tầng lớp xã hội có thể tham gia tích cực vào 
lực lượng lao động và hưởng lợi từ  cuộc cách mạng khoa học thuật ­ là một 
trong những hướng ưu tiên của tổ chức APEC trong những năm tới hướng tới 
tăng trưởng bền vững.
1.2.2. Những công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực  
chất lượng cao 
Nghiêm Đình Vỳ, Nguyễn Đắc Hưng (2002), Phát triển giáo dục và  


21
đào tạo nhân tài [81]. Các tác giả đã trình bày khái quát về lịch sử giáo dục 
Việt Nam và những vấn đề đặt ra, nhiệm vụ của giáo dục Việt Nam trong 
thế  kỷ  thử  XXI. Các tác giả  cũng đề  cập nhiều nội dung quan trọng về 
phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài.
Vũ Thị Phương Mai (2004), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao  
qua thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một số nước ” [63]. Bài viết 
phân tích những kinh nghiệm phát triển NNLCLC ở một số nước Mỹ, Nhật 
và một số nước công nghiệp hóa mới Đông Á. Những kinh nghiệm đáng chú 
ý như: Coi trọng giáo dục ­ đào tạo theo nhu cầu xã hội; tạo môi trường thuận 
lợi và có cơ chế đãi ngộ thỏa đáng…
Nguyễn Định Luận (2005),  “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng  
cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”  [59]. Bài viết 
phân tích vai trò của NNLCLC đối với sự  nghiệp CNH, HĐH đất nước  ở 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status