Luận văn tiến sĩ Khoa học giáo dục: Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực cho sinh viên các trường - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

MAI THU TRANG

PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục chính trị
Mã số

: 9.14.01.11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:
1: PGS.TS. Võ Văn Thắng
2: TS. Nguyễn Văn Long
.

HÀ NỘI – Năm 2019


ii

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả được nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ
công trình nào khác.

DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Quy định viết tắt

Những từ viết tắt

CNTT

Công nghệ thông tin

CNTT&TT

Công nghệ thông tin và truyền thông

DH

Dạy học

ĐC

Đối chứng

ĐG

Đánh giá

ĐH

Đại học

ĐHPTNL


PPDHTC

Phương pháp dạy học tích cực

PPTLN

Phương pháp thảo luận nhóm

PTNL

Phát triển năng lực

SV

Sinh viên

TLN

Thảo luận nhóm

TLTK

Tài liệu tham khảo

TN

Thực nghiệm

TP.HCM

2.1. Cơ sở lý luận về PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL 29
2.1.1. Những vấn đề chung về PPTLN trong dạy học theo ĐHPTNL .....................29
2.1.2. PPTLN trong dạy học môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ........................41
2.2. Cơ sở thực tiễn sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo
ĐHPTNL cho SV các trường ĐH ở TPHCM hiện nay ........................................53


vi

2.2.1. Đặc điểm của sinh viên trên địa bàn TP Hồ Chí Minh ...................................53
2.2.2. Khảo sát thực trạng việc sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo
ĐHPTNL cho SV các trường ĐH ở TPHCM hiện nay .................................................57
2.2.3. Đánh giá thực trạng việc sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN
theo ĐHPTNL............................................................................................................69
Kết luận chương 2 ...................................................................................................76
CHƯƠNG 3: NGUYÊN TẮC VÀ QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC .............................................................................................................77
3.1. Các nguyên tắc sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL..77
3.1.1. Đảm bảo mục tiêu của môn học ......................................................................77
3.1.2. Đảm bảo tính Đảng và tính khoa học .............................................................78
3.1.3. Đảm bảo tính thực tiễn ....................................................................................80
3.1.4. Đảm bảo tính tích cực hoạt động của người học ............................................84
3.2. Quy trình sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ..85
3.2.1. Chuẩn bị hoạt động TLN theo ĐHPTNL ........................................................87
3.2.2. Tổ chức hoạt động TLN theo ĐHPTNL ..............................................................97
3.2.3. Kiểm tra, đánh giá hoạt động TLN theo ĐHPTNL .......................................102
Kết luận chương 3 .................................................................................................119
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VỀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP


DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1.Số lượng và phân bố các trường đại học trên toàn quốc .......................54
Biểu đồ 2.3. Mức độ sử dụng PPTLN trong dạy học môn ĐLCMCĐCSVN theo
ĐHPTNL (GV) ......................................................................................59
Biểu đồ 2.4. Mức độ cần thiết sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN
theo ĐHPTNL (SV) ...............................................................................60
Biểu đồ 2.5. Mức độ sử dụng PPTLN theo ĐHPTNL của GV trong dạy học môn
ĐLCMCĐCSVN trên lớp (SV) .............................................................61
Biểu đồ 2.6. Các bước thực hiện TLN theo ĐHPTNL trên lớp của GV...................62
Biểu đồ 2.7. Tỷ lệ sử dụng PPTLN theo ĐHPTNL so với các PPDH khác .............63
Biểu đồ 2.8. Khó khăn khi sử dụng PPTLN .............................................................64
Biểu đồ 2.9. Những NL được hình thành khi sử dụng PPTLN theo ĐHPTNL ..............66
Biểu đồ 2.10. Lựa chọn PPDH trên lớp của SV ........................................................67
Biểu đồ 2.11. Hạn chế khi tham gia TLN theo ĐHPTNL của SV ............................68
Biểu đồ 2.12. Kiểm tra, đánh giá TLN theo ĐHPTNL .............................................70
Sơ đồ 3.1. Quy trình TLN trong dạy học môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ....86
Biểu đồ 4.1. Biểu đồ tần suất (%) biểu diễn phân loại kết quả bài kiểm tra đầu vào
trước thực nghiệm................................................................................129
Biểu đồ 4.3. Biểu đồ tần suất phân phối điểm kiểm tra sau thực nghiệm tác động .......135


ix

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Phiếu đánh giá giữa SV với SV ..............................................................105
Bảng 3.2. Phiếu tự đánh giá ....................................................................................106
Bảng 3.3. Tiêu chí đánh giá kĩ năng thu thập và xử lí thông tin .............................109
Bảng 3.4. Tiêu chí đánh giá phản hồi, lắng nghe ....................................................109

mới phương pháp dạy học (PPDH) theo ĐHPTNL để định hướng cho toàn bộ quá
trình đổi mới. Đây là việc làm phù hợp với xu hướng của thời đại và có ý nghĩa về
mặt phương pháp luận. Trên thực tiễn về mặt tổng thể đã có nghiên cứu của các nhà
khoa học về mô hình PPDH theo định hướng PTNL. Tuy nhiên, để để áp dụng mô
hình này vào thực tiễn, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn về các mô hình tổ chức
dạy học (DH) ĐHPTNL tiên tiến của thế giới vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam,
trong đó có mô hình tổ chức thảo luận nhóm (TLN).
TLN với tư cách là một hình thức tổ chức DH đặc trưng ở ĐH có nhiều ưu thế
trong việc hình thành và PTNL cho người học. Thông qua những chuỗi hoạt
động tìm tòi, nghiên cứu và tranh luận được tổ chức có chủ định trong các buổi
TLN trên lớp, SV sẽ có nhiều cơ hội để lĩnh hội tốt các tri thức, nắm bắt được
con đường đi đến tri thức, đồng thời rèn luyện kĩ năng, tư duy cũng như thái độ,


2
phong cách làm việc khoa học một cách tích cực và hiệu quả. Điều này có nghĩa
phương pháp thảo luận nhóm (PPTLN) là một công cụ thực sự hữu hiệu để PTNL
hành động cho sinh viên (SV). Tuy nhiên, trên thực tiễn PPTLN vẫn chưa có một
vị trí xứng đáng và chưa trở thành một hình thức tổ chức DH độc lập trong cơ
cấu các hình thức tổ chức DH và đào tạo bậc ĐH ở Việt Nam hiện nay.
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐLCMCĐCSVN) là
khoa học lý luận về sự lãnh đạo của Đảng, là môn học bắt buộc đối với SV các
trường ĐH ở nước ta, có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Đó là những người phải có phẩm chất đạo đức,
phẩm chất chính trị và năng lực nghề nghiệp để cống hiến cho xã hội. Đặc biệt, họ
phải thấm nhuần tư tưởng, đường lối của Đảng. Đòi hỏi nhà trường phải tổ chức tốt
việc dạy và học môn ĐLCMCĐCSVN. Việc này cần phải có sự đổi mới PPDH
mạnh mẽ theo hướng PTNL cho SV.
DH theo ĐHPTNL cho người học là xu hướng đổi mới DH hiện nay, giúp cho
người học biết vận dụng tốt các kiến thức đã học vào giải quyết nhiệm vụ thực tiễn.

theo ĐHPTNL, chỉ rõ hạn chế và những nguyên nhân của hạn chế đó.
- Đề xuất các nguyên tắc, quy trình chủ yếu nhằm sử dụng hiệu quả PPTLN
trong dạy học môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) nhằm kiểm chứng hiệu quả và tính
khả thi của quy trình đề xuất trong luận án.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ở trường đại học.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Những nguyên tắc, quy trình sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN
theo ĐHPTNL cho SV các trường ĐH ở thành phố Hồ Chí Minh.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Luận án nghiên cứu PPTLN, các nguyên tắc, quy trình sử dụng
PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ở các trường ĐH.
- Khảo sát thực tiễn: Tổ chức TNSP tại 5 trường (Đại học Sư phạm thành phố
Hồ Chí Minh, Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại
học Kiến trúc, Đại học Công nghiệp, Đại học Hoa Sen).
- Thời gian: Tiến hành khảo sát điều tra và TNSP trong năm học 2016-2017.


4
5. Giả thuyết khoa học
Việc áp dụng được quy trình sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN
theo ĐHPTNL cho SV hiệu quả không những trang bị cho SV những kiến thức cơ
bản về môn ĐLCMCĐCSVN mà còn góp phần PTNL của SV, đáp ứng yêu cầu của
Chuẩn đầu ra, nâng cao chất lượng và hiệu quả DH bộ môn ở bậc ĐH.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
Luận án sử dụng PP luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử; quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới GDĐT; lý luận giáo dục; quan

PP thống kê toán học: PP này được sử dụng để xử lý các tài liệu, số liệu
nghiên cứu nhằm rút ra những nhận xét, kết luận có giá trị khách quan. Đồng thời
xử lý các số liệu thu được từ điều tra thực trạng và thực nghiệm bằng toán thống kê
và phần mềm SPSS nhằm rút ra những kết luận cần thiết.
7. Những luận điểm cần bảo vệ
- TLN là PPDH có vai trò quan trọng đối với việc hình thành những NL chung
như: NL hợp tác, NL giải quyết vấn đề, NL tự học, NL sáng tạo cũng như những
NL đặc thù như: NL tư duy phản biện, NL thực tiễn, NL sử dụng CNTT&TT trong
DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL.
- Để vận dụng có hiệu quả PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo
ĐHPTNL cần phải thực hiện đồng bộ các nguyên tắc đã đề xuất trong luận án.
- Cần chú trọng thực hiện quy trình sư phạm đã đề xuất trong luận án nhằm nâng cao
hiệu quả DH môn ĐLCMCĐCSVN bằng PPTLN theo ĐHPTNL ở nước ta hiện nay.
8. Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, hệ thống hóa và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về PPTLN trong
DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ở các trường ĐH
Thứ hai, đánh giá được thực trạng sử dụng PPTLN trong DH môn
ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ở các trường ĐH hiện nay.
Thứ ba, xây dựng được quy trình và đề xuất các nguyên tắc sư phạm để tiến
hành TLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL.
9. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được chia
làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN
theo ĐHPTNL
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về PPTLN trong DH môn
ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL


6

rằng: “DH không phải là sự cưỡng ép mà phải làm thế nào để họ vui vẻ học tập.
Giảng dạy cần phải thay đổi hình thức và đưa ra nhiều ví dụ. Người học sẽ có rất lợi
nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu” [51, tr.15]. Cách tiếp
cận của Marco Fabio Quintilian có rất nhiều điểm tương đồng với mục tiêu mà
PPTLN hướng tới cũng như ý nghĩa của nó trong hoạt động học tập.
Với suy nghĩ điều gì cũng đáng học đặc biệt là học từ bạn bè, từ những người
xung quanh, nhà triết học lớn của phương Đông - Khổng Tử (551-479 TCN) đã


8
khẳng định: “Trong ba người đi tất có một người là thầy ta” [51, tr.22]. Nhận định
đó cho thấy ông đã đề cao sự tương tác giữa người học với người học, người dạy
với người học, đồng thời khẳng định việc chủ động tìm hiểu tri thức tất yếu sẽ dẫn
đến sự trao đổi, tranh luận, hợp tác giữa người học với nhau.
Như vậy, để phát triển tư duy của người học, người dạy phải dựa vào đối
tượng học tập và sử dụng nhiều PP để kích thích. Để người học dễ dàng tiếp nhận
tri thức của bài học dù ở điều kiện nào người dạy cũng luôn phải tạo không khí cởi
mở, vui vẻ… những biểu hiện đó chính là kết quả của việc dạy học sử dụng PPTLN
hướng tới.
Thời Trung cổ, các tư tưởng tiến bộ về giáo dục ít được bàn đến do sự thống
trị của chủ nghĩa kinh viện, nhưng cách DH phát huy tính tích cực của người học
được bàn tới trong thời kì Phục Hưng. Đó là: phải quan tâm đến người học, trong
quá trình học người học luôn chủ động trong việc nhận thức tri thức hay GV không
được áp đặt việc học tập cho người học mà phải biết lắng nghe ý kiến của họ. Trong
cuốn “Lịch sử giáo dục học thế giới” của tác giả Nguyễn Lân có nghiên cứu quan
điểm của J. A Comenxki (1592- 1670) nhà giáo dục Tiệp Khắc - thủy tổ của nền
giáo dục dân chủ đã tin tưởng rằng người học sẽ có lợi từ việc dạy cho bạn bè và
học từ bạn bè, phản đối cách dạy theo lối thuộc lòng, nhồi sọ người học [51]…
Trong DH, ông đòi hỏi người thầy phải làm thế nào để cho người học có những cố
gắng bản thân để nắm lấy tri thức và thích thú học tập. Tư tưởng giáo dục của ông

John Dewey, Roger Parker, Morton Deutch... Họ đề cao vai trò của nhà giáo trong
việc giáo dục HS một cách dân chủ và khía cạnh xã hội của việc học tập. John
Dewey cho rằng: “Muốn học cách cùng chung sống trong xã hội thì người học phải
được trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác ngay từ trong nhà trường. Cuộc sống
trong lớp học là quá trình dân chủ hoá trong một thế giới vi mô và học tập phải có
sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học”[99, tr.17].
Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây cũng đã có nhiều công trình nghiên
cứu về DH bằng PPTLN. Trong cuốn “Những thủ thuật trong dạy học” của tác giả
Wilbert J. McKeachie có nhắc đến quan điểm của nhà giáo dục Nadezhda. K.
Krupskaya (1869 – 1939) về nhiệm vụ cơ bản của người GV: “giúp cho HS tự tổ
chức, thân tình gợi ý cho chúng cách tốt nhất để thực hiện nhiệm vụ cho trước, chỉ
ra cách nêu lên những câu hỏi thích hợp và làm thế nào để trả lời các câu hỏi đó.
Bản thân trẻ cần TL tập thể với các bạn trong nhóm học tập, đưa ra các quyết định


10
và thực hiện các quyết định đó. Bằng cách đó, chúng sẽ phát triển ý thức trách
nhiệm đối với công việc được giao và trở nên có kỉ luật” [94, tr 265].
Trên cơ sở đánh giá cao vai trò của tập thể, các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác – Lênin cho rằng một trong những vấn đề quan trọng của nền giáo dục xã hội
chủ nghĩa là giáo dục con người thông qua tập thể. C.Mác khẳng định: “Chỉ có
trong cộng đồng, cá nhân mới có được những phương tiện để có thể phát triển toàn
diện những năng khiếu của mình và do đó chỉ có trong cộng đồng mới có tự do cá
nhân”[21, tr.108]. Trên cơ sở đó, để thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện con
người thì tập thể luôn được coi là môi trường, phương tiện thuận lợi nhất.
Cùng chung quan điểm này, các nhà giáo dục học Xô viết như L.X.Vưgotxky,
A.X.Macarenco trong nhiều công trình nghiên cứu của mình đã đề cao tầm quan
trọng của sự tương tác giữa người học với người học. L.X.Vưgotxky khẳng định: “Sự
hợp tác chặt chẽ giữa người học với nhau sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với việc cá
nhân HS mò mẫm tìm kiến thức”[56, tr.214]. A.X.Macarenco kết luận rằng: “Lý

thống những người bạn, những đồng nghiệp, những người có tri thức, nhóm học. Học
nhóm sẽ là một trong những hệ thống hỗ trợ quan trọng của các cơ cấu giáo dục đang
xuất hiện” [101, tr.118]. Thực hiện được điều này sẽ đáp ứng được xu thế toàn cầu hóa
mà ở đó sự phụ thuộc của con người với nhau ngày càng trở nên sâu sắc.
John C. Maxwell (Đại học Indiana Wesleyan – Mỹ) là một trong 25 tác giả và
nghệ sĩ nổi tiếng nhất trên website sách trực tuyến Amazon.com. Ông viết nhiều
cuốn sách nổi tiếng. Một trong những cuốn sách nổi tiếng của ông là “17 nguyên
tắc vàng trong làm việc nhóm” (The 17 Indisputable Laws of Teamwork). Trong đó
chỉ ra rằng, nếu biết cách áp dụng các nguyên tắc này thì chắc chắn khả năng làm
việc nhóm của HS sẽ tăng. Giá trị thực tiễn của cuốn sách đã được khẳng định qua
sự đón nhận tích cực của độc giả. Bởi vì, trong công việc và thực tiễn cuộc sống
hiện đại ngày nay, kĩ năng làm việc nhóm đã trở thành một tiêu chí quan trọng để
các doanh nghiệp, các công ty tiến hành lựa chọn nhân viên cho mình. DH bằng
PPTLN trong nhà trường đã tạo ra cho HS những kĩ năng mà xã hội cần [45].
Berdn Meier (Đại học Potsdam – Cộng hòa Liên bang Đức) cùng với tác giả
Nguyễn Văn Cường đã viết cuốn “Lý luận dạy học hiện đại – Một số vấn đề về đổi
mới PPDH”. Cuốn sách đã đưa ra quan niệm: “DH nhóm là một hình thức xã hội
của DH, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhiệm vụ học tập trên cơ
sở phân công và hợp tác làm việc” [5, tr 54].


12
Tác giả Thomas Armstrong (người Anh) trong cuốn "Đa trí tuệ trong lớp học"
đã chỉ ra một trong số cách quản lý lớp học là hình thành các nhóm nhỏ. “Các nhóm
nhỏ có thể được hình thành một cách quyết đoán (chỉ định của người dạy) hay theo
những nhân tố nội tại (quyền lợi, năng khiếu riêng). Người dạy sẽ thấy được hiệu
quả của hoạt động nhóm gồm nhiều em dị biệt nhưng đồng lòng làm việc chung
theo từng dạng cụ thể như: ngôn ngữ, logic toán học, không gian, hình thể, động
năng, âm nhạc hay tự nhiên” [82, tr 65].
Ở Trung Quốc có các đại diện như: Sheng Qun Li và Zheng Shu Zhen; Ngô

TL cho thông suốt, phải lấy tự học làm cốt.
Ngay khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, cách học theo nhóm
với phương châm mọi người cùng giúp nhau biết chữ được thực hiện sâu rộng qua
phong trào “Bình dân học vụ” để diệt giặc dốt, góp phần đưa đất nước thoát khỏi tình
thế ngàn cân treo sợi tóc. Trong điều kiện đất nước còn khó khăn, để thực hiện thắng
lợi mục tiêu diệt giặc dốt, Đảng và Nhà nước ta đã sử dụng mềm dẻo các biện pháp
trong đó chú ý đến hình thức học lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Những
người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em
chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì
chủ nhà bảo…”[60, tr.37]. Khi bàn về cách học tập, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm
việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của tự học trên tinh thần “lấy tự học
làm cốt” (tự học là nội lực quyết định chất lượng học tập, là yếu tố cốt lõi của hoạt
động học tập). Tuy nhiên, Người đã nhắc đến mối liên quan chặt chẽ giữa tự học với
TL, tự học là cốt nhưng “do TL và chỉ đạo giúp vào” [61, tr.273]. Điều đó có nghĩa để
phát huy sức mạnh tập thể thì TL là yếu tố ngoại lực. Để tiến hành TL tốt thì bản thân
mỗi cá nhân phải có nội lực tự học lớn mới có thể tham gia, đóng góp tích cực được.
Trong bài “Nói về công tác huấn luyện và học tập”, Người khẳng định: “Học ở trường,
học sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân” [62, tr.50].
Từ sau khi đất nước thống nhất, giáo dục Việt Nam bước đầu có những
khởi sắc nhất định. Hình thức DH bằng TLN trong nhà trường được thực hiện
thông qua một số phong trào như: học tập dân chủ, học tập theo tổ, nhóm, "đôi
bạn chuyên cần"… với cách học này nền giáo dục Việt Nam xuất hiện nhiều tấm
gương tự học nổi tiếng, uyên bác về tri thức, trí tuệ như: GS Đoàn Trọng Tuyến,
GS Hoàng Tụy, GS Nguyễn Lân, Thầy giáo ưu tú Nguyễn Ngọc Ký…
DH theo nhóm diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như: nhóm tự quản,
nhóm đôi bạn cùng tiến, nhóm ngoại khóa, nhóm sinh hoạt câu lạc bộ... Vào những


14
năm 70, phong trào học tập nhóm đã phát triển mạnh và có kết quả tốt. Tuy nhiên,


15
thể tác giả Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Văn Cường, Trần Bá Hoành, Nguyễn Bá
Kim, Lâm Quang Thiệp đã nhấn mạnh vấn đề DH hợp tác nhóm là một trong các
PPDH hiện đại [12]. Tác giả Nguyễn Hữu Châu cho rằng cần sử dụng các nhóm
nhỏ để làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của HS, bởi lẽ DH hợp
tác “không chỉ đơn thuần là một cách thức giảng dạy mà còn là sự thay đổi về cấu
trúc tổ chức ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống học đường [11, tr.235].
Thêm vào đó, nhiều bài viết của các tác giả như Nguyễn Kim Quý (2003)
“Một số kết quả về việc áp dụng phương pháp dạy học cộng tác”, Nguyễn Thị Hồng
Nam (2003) “Tổ chức hoạt động hợp tác trong học tập theo hình thức thảo luận
nhóm”… đều nhận định rằng HS có cơ hội bộc lộ, thể hiện mình về mặt giao tiếp;
làm việc hợp tác; học hỏi lẫn nhau qua hoạt động học tập theo nhóm, không những
thế nó còn đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau... và có cơ
hội rèn luyện, phát triển những KN đó. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động nhóm,
HS cùng hoàn thành những công việc mà một mình không thể tự hoàn thành được
trong một khoảng thời gian nhất định.
Tác giả Thái Duy Tuyên trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi
mới” đã cho rằng một thầy một trò không phải là cách DH tốt nhất bởi “người thầy dù
có giỏi đến mấy cũng không thể đi sâu vào thế giới nội tâm của HS, không thể tạo ra
cảm xúc và kinh nghiệm đa dạng, phong phú bằng việc HS giao tiếp với nhau”[88,
tr.411,412]. Như vậy, việc học nhóm, học tập thể có vai trò vô cùng quan trọng, trong
đó sự hợp tác diễn ra nhiều chiều, giữa thầy với trò, giữa trò với trò để hoàn thành
nhiệm vụ học tập. Tác giả đã khẳng định: “Tầm quan trọng của sự hợp tác nhóm trong
học tập như: nâng cao NL hợp tác, tăng cường thái độ tích cực với các môn học, tăng
cường khả năng tư duy phê phán, tạo ra những thành công trong học tập. Đồng thời
thông qua TLN, một loạt các kỹ năng sẽ được hình thành ở người học như kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng lắng nghe, phân tích, đánh giá, kỹ năng giải quyết vấn đề”[88, tr.65].
Với công trình nghiên cứu “Tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương
tác”, tác giả Vũ Lệ Hoa khẳng định: “Việc tìm tòi, nghiên cứu, TL, tranh luận trong

cơ sở. Tác giả Nguyễn Triệu Sơn (2007) với đề tài: “Phát triển khả năng học hợp
tác cho SVSP Toán một số trường đại học miền núi nhằm nâng cao chất lượng của
người được đào tạo” [79] đã đề xuất biện phát phát triển khả năng học tập hợp tác
theo nhóm cho SVSP Toán ở một số trường ĐH miền núi. Những luận án trên đã hệ
thống hóa một số vấn đề lí luận và vận dụng PPDH theo nhóm trong môn toán ở
trường trung học phổ thông và ĐHSP



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status